vat_99
26-05-2012, 12:02 AM
<b>Đất Điện Biên xưa</b><br /><br />Điện Biên là tên đất, phủ là dơn vị hành chính. Vì thế nên gọi là phủ Điện Biên (cũng như phủ An Tây, phủ Vĩnh Tường... ) Sau này ta đảo ngược cách gọi thành ra Điện Biên phủ (không viết hoa chữ phủ) Đến khi lập Điện Biên làm tỉnh lỵ Lai Châu (1994) thì chữ Phủ được viết hoa, Điện Biên Phủ thành ra tên đất. Phủ Điện Biên xưa thuộc đất Hưng Hóa, được lập năm Thiệu Trị thứ 1 (1841). Tỉnh Hưng Hóa là vùng đất rộng lớn, bao gồm toàn bộ miền tây bắc ngày nay, đời vua Hùng là bộ Tân Hưng, thời Tần thuộc Tượng quận, đời Trần đặt làm đạo Đà Giang. Phủ Điện Biên lãnh 5 châu gồm: Châu Ninh Biên, châu Tuần Giáo, châu Lai, châu Luân và châu Quỳnh Nhai. <br />Khái niệm Điện Biên Phủ ngày nay chúng ta hiểu là đất Mường Thanh, thuộc châu Ninh Biên xưa. Đây là vùng cư trú làm ăn của đồng bào dân tộc Thái và một số dân tộc khác như Hmông, Khơ mú, Lào, Kháng, Dao... Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng, hết sức độc đáo. Điện Biên nằm trên vùng ba biên giới, có địa thế được dánh giá là vị trí chiên lược. Sách "Hưng Hóa phong thổ lục"cho rằng Điện Biên "ở thượng du sông Mã, sông Đà, nếu đem quân tiến về các châu mặt dưới thì không khác gì ở trên cao dội bình nước xuống".Vì thế đây là mảnh đất tranh hùng dai dẳng của các chúa phong kiến tham tàn. <br />Người dân Điện Biên đã trải qua không biết bao nhiêu cảnh gươm dao loạn lạc, cũng như nạn ngoại xâm từ phía tây sang hoặc phía bắc xuống. Đời Lê Vĩnh Hựu (1735- 1740) giặc Phẻ từ Vân Nam tràn xuống đánh phá Mường Thanh và cả vùng Điện Biên rất dữ dội, chúng tràn xuống cả đến Sơn La. Các thủ lĩnh địa phương không sao chống cự được. Lúc bấy giờ Hoàng Công Chất là một thủ lĩnh vùng núi Thanh Hóa, bị quân triều đình nhà Lê đàn áp dồn nén nên đang tạm lánh ở đất Lào. Thế của Hoàng Công Chất rất mạnh. Các thủ lĩnh Điện Biên đã sang Lào tìm ông xin cứu viện. Hoàng Công Chất đánh bại quân Phẻ, từ đó đất Điện Biên trở lại yên bình. Hoàng Công Chất đối với triều đình là "nghịch tặc"nhưng nhân đân rất tôn sùng Đền thờ ông hiện nay được coi là một di tích lịch sử quý giá của Điện Biên. <br />Sách "Đại Nam nhất thống chí" cho ta biết về sự giàu có của đất Điện Biên: "Làm ruộng công chỉ bằng nửa hạt thóc mà thu hoạch nhiều gấp đôi; thổ sản có sa nhân, sáp vàng. Có các mỏ lưu hoàng, diêm tiêu và sắt, lại có suối nước khoáng trong núi chảy ra, vị hơi mặn, đêm đến các loài thú đến uống nước, người bản thổ dùng nỏ bắn được nhiều, họ quen gọi là "mỏ thịt ". Vì là đất giàu có lại tương đối thuận tiện đường đi lại hơn nhiều nơi quanh vùng nên từ lâu Điện Biên đã trở thành nơi giao lưu tụ họp buôn bán của người Lào,Trung Quốc, Miến điện, Thái lan... và tất nhiên nhiều hơn cả là người vùng xuôi. Điện Biên được coi là một đô hội ở trấn biên. Thế kỷ 18 được coi là thịnh vượng nhất của vùng này bởi các sự giao lưu buôn bán đó. Sang thế kỷ sau, vùng Điện Biên rơi vào cảnh loạn lạc, chúa đất, giặc cướp đua nhau hoành hành. <br />Rồi giặc Cờ Vàng tràn vào gây tang tóc ngút trời.Sau nạn giặc Cờ Vàng nhân dân các dân tộc ở đây lại rơi vào ách thống trị của thổ ty Đèo Văn Trì khét tiếng. Khi quân Pháp kéo lên Tây bắc, chúng đã bị chặn đánh quyết liệt, phải mất 5 năm (1883-1888) chúng mới đặt chân tới Mường Thanh. Đến năm 1914 nhân dân các dân tộc Tây bắc lại vùng lên khởi nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Lương Bảo Định và được sự hưởng ứng của nhiều tù trưởng trong vùng như Cầm Văn Tứ, Bạc Cầm Chân, Lương Văn No... Sau các cuộc giao tranh, quân Pháp nhẩy vào đánh chiếm và cố thủ ở Điện Biên, với ý đồ làm bàn đạp tấn công tiêu diệt nghĩa quân. Nhưng chúng đã bị bao vây, bị chặn đánh, bị cắt liên lạc, bị đánh chiếm nhiều cứ điểm, có nguy cơ đại bại. <br />Có thể nói đây là chiến dịch Điện Biên lần thứ nhất. Tuy lần ấy quân ta đã thất bại trước viện binh hùng mạnh của địch, nhưng đó chỉ là thất bại tạm thời. Chỉ bốn mươi năm sau,vào năm 1954, thung lũng Điện Biên đã nhấn chìm chủ nghĩa thực dân Pháp, trong một trận đánh lịch sử rung động cả thế giới.