seclhanoi
26-05-2012, 09:58 AM
<b><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Chien-Paradise/ sưu tầm<!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br />7 kỳ quan thế giới cổ đại<!--sizec--></span><!--/sizec--> <br /><br />XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP AI CẬP<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /></b><br /><br />Người cổ đại ở nhiều nơi trên thế giới đã từng xây dựng các kim tự tháp. Nhưng những kim<br />tự tháp Ai Cập vẫn là những kim tự tháp lớn nhất và nổi tiếng nhất hành tinh và luôn ẩn tàng những bí ẩn về khả năng xây dựng tuyệt vời của người Ai Cập cổ đại. Suốt từ năm 2630 tới 1530 trước Công nguyên, họ đã xây dựng cả thảy hơn 90 kim tự tháp.<br /><br /><br />Kim tự tháp Ai Cập được xây bên bờ tây của sông Nil ngoại thành Cai Rô. Với cách làm thủ công, không dùng các kỹ thuật cơ giới, kiệt tác về xây dựng và kiến trúc này sừng sững như một tuyên ngôn về tài nghệ xây dựng vô song của người xưa.<br />Kim tự tháp đầu tiên có dạng các lớp giật cấp ở Saqqa rah được xây dưới đế chế Djoer (2630 - 2611 trước Công nguyên). Kim tự tháp vĩ đại nhất được xây cho Hoàng đế Khufu tại Giza được coi là một trong bảy kỳ quan thế giới.<br /><br /><b><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->ĐẶC TRƯNG CỦA KIM TỰ THÁP<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--></b><br /><br />Người Ai Cập cổ coi kim tự tháp là nơi yên nghỉ cuối cùng của các hoàng đế. Họ tin rằng kim tự tháp là nơi mà các vị hoàng đế tiếp tục một cuộc sống mới sau cái chết. Trước khi táng người quá cố, người ta ướp xác và thực hành một số nghi thức tôn giáo. Trong những hầm mộ kim tự tháp cổ (2575 - 2134 trước Công nguyên) thấy nhiều ký tự trên những bức tường và cả bản thiết kế “con đường dẫn tới thiên đường” cho các hoàng đế. Trong giai đoạn đầu, người Ai Cập đã xây những kim tự tháp lớn bằng những khối đá khổng lồ. Về sau kích thước và chất lượng của kim tự tháp giảm dần vì giá thành cực kỳ cao. Giai đoạn từ 2040 tới 1640 trước Công nguyên, người ta xây kim tự tháp bằng gạch.<br /><br /><br />Các kim tự tháp đều được xây dựng xếp theo các hướng chính của la bàn (các mặt của chúng theo hướng Nam-Bắc và Đông-Tây) và phần lớn nằm trên các đồi sa mạc ở bờ tây sông Nil, phía mặt trời lặn… Người Ai Cập cổ tin rằng linh hồn của các hoàng đế qua đời vẫn ở trong thân thể và du ngoạn hằng ngày cùng mặt trời. Khi mặt trời lặn phía tây , linh hồn của người quá cố trở về hầm mộ kim tự tháp và phục sinh...<br /><br /><br />Sơ đồ bên trong của các kim tự tháp thay đổi theo từng thời kỳ xây dựng. Nhưng cửa vào thì luôn ở chính giữa mặt phía bắc. Từ đây có một lối đi xuống, đôi khi đi thẳng tới hầm mộ hoàng đế ở điểm giữa kim tự tháp. Trong kim tự tháp có nhiều phòng kho, một số để chứa những đồ vật tế lễ vật dụng cho cuộc sống sau khi chết. Có khá nhiều đồ quý trong kim tự tháp đã bị mất cắp theo thời gian.<br /><br /><br />Kim tự tháp chính không bao giờ được xây đơn độc trên sa mạc mà nó là tâm điểm của một quần thể đền thờ và những kim tự tháp nhỏ hơn. Hầu hết quần thể kim tự tháp có kim tự tháp phụ và kim tự tháp hoàng hậu bao quanh. Những Kim tự tháp này thường rất nhỏ, là nơi hành lễ và có thể cất giữ các tượng hoàng đế. Nhìn chung kim tự tháp hoàng hậu là phiên bản nhỏ hơn của kim tự tháp hoàng đế.<br /><br /><br /><br /><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><b>KIM TỰ THÁP LỚN ĐƯỢC XÂY DỰNG NHƯ THẾ NÀO ?</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><br /><br />Kim tự tháp lớn ở Ai Cập được Hoàng đế Khufu xây trong thời gian trị vì (2551 - 2528 trước Công nguyên) có nội thất hoàn chỉnh. Đây là kim tự tháp lớn nhất thế giới (còn được gọi là kim tự tháp lớn) nằm trên sa mạc phía tây Giza. Cạnh đó có kim tự tháp Khafre và Menkaure (con trai và cháu của Khufu). Sự phá hoại vô ý thức của con người, sự huỷ hoại của thiên nhiên hơn bốn nghìn năm qua vẫn không làm mất đi vẻ đẹp hùng vĩ có một không hai của công trình vốn là niềm tự hào của nhân loại này.<br /><br /><br />Đáy kim tự tháp lớn có dạng gần một hình vuông hoàn hảo có tổng chiều dài là 230 m, chỉ chênh nhau giữa cạnh nhỏ nhất và lớn nhất 19 cm. Khi việc phục chế hoàn thành, kim tự tháp lớn cao sừng sững 146,7 m, 50 bậc. Phần chính của nó bao gồm một núi phế tích, khó xác định có bao nhiêu khối đá. Các nhà nghiên cứu ước lượng có 2,3 triệu khối đá đã dùng để xây kim tự tháp lớn (tính trung bình 2.5 tấn cho 1 khối). Khối đá lớn nhất được dùng nặng hơn 15 tấn.<br /><br /><br />Hầu hết đá xây bên trong kim tự tháp được đào ngay ở phía nam của khu xây dựng. Bề ngoài phẳng mịn của công trình có được là do được lát bằng đá vôi hạt mịn đào bên sông Nil. Những phiến đá lát được cắt gọt cẩn thận, vận chuyển bằng sà lan vận tải tới Giza và chuyển tới công trường. Đáng tiếc là nay chỉ còn rất ít những phiến đá lát ngoài bởi trong thời trung cổ (thế kỷ thứ 5 tới thế kỷ 15) người ta đã lấy chúng dùng cho những công trình xây dựng ở Cai Rô.<br /><br /><br />Để đảm bảo kim tự tháp cân đối, những khối đá ghép ngoài cần chính xác về kích thước. Những người thợ đã gia công theo đúng các góc tường kim tự tháp và làm nhẵn bề mặt những khối đá này để khi lắp ghép chúng có thể khít chặt với nhau. Khi kim tự tháp lớn được xây cao, người ta làm một đường dốc để đưa vật liệu lên các phía trên của công trình. Những đường dốc này được làm bằng đất sét sa mạc hoà vào nước và kết dính bằng cách trộn với vụn đá vôi. Hình dạng chính xác của đường dốc này tới nay không ai biết chính xác. Sau khi dỡ bỏ đường dốc từ đỉnh tháp dần dần để lộ bề mặt đá kim tự tháp được đánh bóng mịn màng. Khi toàn bộ đường dốc được dời đi, kim tự tháp sẽ phát lộ toàn bộ vẻ đẹp lộng lẫy và hoành tráng.<br /><br /><br />************************************************** <br /><br /><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->7 KỲ QUAN THẾ GIỚI CỔ ĐẠI<br /><br /><br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><b>1 . KIM TỰ THÁP CHEOPS TẠI GIZA</b><br /><br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec-->Đã từng được người xưa bầu chọn là 1 trong 7 kỳ quan thế giới cổ đại, nay kim tự tháp Cheops tại Giza một lần nữa được con người hiện đại đưa vào 21 đề cử để chọn 7 kỳ quan thế giới mới.<br /><br /><br />Kim Tự Tháp này được Pharaoh Khufu xây dựng vào khoảng năm 2560 tr.CN; Nhiều người và tài liệu cho rằng vua Khufu đã xây Kim Tự Tháp này như là lăng mộ của mình.Một số khác cho rằng ắt nó phải có một mục đích khác hơn.<br /><br /><br />Tại Giza, ngoài Kim Tự Tháp Cheops còn có 2 Kim Tự Tháp nhỏ hơn là của vua Khafre và vua Menkaure. Trong các bức ảnh chụp 3 Kim Tự Tháp này thì Kim Tự Tháp của vua Khufu là cái lớn nhất, nằm ở giữa. Ngoài ra tại đây còn có tượng nhân sư Sphinx nổi tiếng.<br />Kim Tự Tháp Cheops có đáy hình vuông, mỗi cạnh dài 241 mét với độ chính xác gần như tuyệt đối (sai sót chỉ vào khoảng 0,1%). Và cao 481 mét (nhưng thời gian đã làm Kim Tự Tháp lùn đi khoảng 10 mét).<br /><br /><br />Với chiều cao này, Kim Tự Tháp Cheops là công trình cao nhất thế giới trong khoảng thời gian 43 thế kỷ. Độ nghiêng của các mặt bên Kim Tự Tháp vào khoảng 51,5 độ. Chiều cao của mặt nghiêng là 195 mét. Bốn mặt của Kim Tự Tháp nhìn về 4 hướng: chính bắc, chính nam, chính đông và chính tây.<br /><br /><br />Ấn tượng nhất có lẽ là lối vào với tảng đá sắc nhọn, dài 3 mét, cao 2,4 mét và dày 1,3 mét. Tất cả những tảng đá bên trong Kim Tự Tháp được xếp khích với nhau đến nỗi không thể nhét một tấm thiệp vào khe hở giữa 2 tảng đá.<br /><br /><br />Phần chính yếu nhất bên trong của Kim Tự Tháp là phòng chứa xác ướp của vua Khufu. Căn phòng này được ốp đá granite đỏ, chiếc quan tài của vua Khufu cũng được làm bằng cùng chất liệu này. Quan tài của vua Khufu cũng được đặt theo đúng hướng của Kim Tự Tháp và chỉ nhỏ hơn lối vào phòng chứa 1 cm.<br /><br /><br />Để hoàn thành được Kim Tự Tháp Cheops, người ta đã phải sử dụng 2,3 triệu viên đá được mài nhẵn, mỗi viên nặng trung bình 2,5 tấn (viên nhẹ nhất 2 tấn, viên nặng nhất khoảng 60 tấn). Tổng khối lượng của Kim Tự Tháp Cheops vào khoảng 6,5 triệu tấn. Đây là công trình kiến trúc sử dụng nhiều đá mài nhẵn nhất trên thế giới. Lối vào của Kim Tự Tháp được giấu bằng một lớp vôi mịn.<br /><br /><br />Theo một số tài liệu thì để hoàn thành Kim Tự Tháp Cheops, một số lượng lớn nô lệ đã được sử dụng. Tuy nhiên theo một số thông tin khác thì công trình này là thành quả của hàng trăm ngàn nông dân. Những người này chỉ phải xây dựng Kim Tự Tháp 3 tháng trong năm (mùa lũ của sông Nile) và kéo dài trong vòng 20 năm.<br /><br /><br />Người ta đã sử dụng những thanh gỗ tròn để kéo đá về đây và đắp các con dốc dài bằng bùn để kéo đá lên một độ cao như vậy. Một số người khác lại cho rằng người Ai Cập đã dùng đòn bẫy để nâng đá xếp chồng lên nhau.<br /><br /><br />Người đâu tiên đi vào Kim Tự Tháp là Abdullah Al Mamum và những binh lính của ông vào năm 820 sau CN. Ông đã dùng lửa đốt các tảng đá rồi chế vào đó dấm lạnh. Sau đó ông cho người dùng búa phá các tảng đá và đào một đường hầm vào bên trong, đúng vào căn phòng ở thấp nhất của Kim Tự Tháp.<br /><br /><br />Theo đường hầm này đi ngược lên trên, bạn sẽ tìm được lối vào chính của Kim Tự Tháp ở hướng chính Bắc. Bên trái lối vào chính là một tấm lưới đá đã được hạ xuống để chắn lối vào phòng để quan tài.<br /><br /><b><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->2 .VƯỜN TREO BABYLON<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--></b><br />Kỳ quan thế giới này được NebuchADnezzar xây dựng vào khoảng năm 605-562 TCN. Ông coi đó như một món quà dành cho người vợ, một người đã trưởng thành trong vùng đất quanh Media, khao khát cảnh núi rừng hùng vĩ.<br /><br /><br />Những đường rãnh hùng vĩ cùng các vòi phun nước theo phong cách boroque treo lơ lửng trên các mái vòm đan xen nhau, điều tuyệt diệu trong phong cách núi rừng của đất nước Iran được chuyển về vùng đồng bằng Mesopotamia ảm đạm - Vườn treo Babylon kết hợp trình độ bậc thầy về kỹ thuật với giấc mộng trữ tình. Không như Bảy kỳ quan nguyên thuỷ khác, Vườn treo là một công trình không chỉ dành cho vinh quang mà cho tình yêu - một tình nhân tuyệt vời do một quân vương xây dựng để thỏa lòng nhớ nhung người vợ ở quê nhà. Đây là một câu chuyện thật quyến rũ, nhưng có phải là ảo tưởng không? Có phải NebuchADnezzar và Amyitis đã sánh bước bên nhau tản bộ dọc theo những lối đi đầy bóng mát này? Đây có phải là nơi Alexander Đại đế đã chết trong khi cố gắng một cách tuyệt vọng để làm giảm cơn sốt rét đang hành hạ?<br /><br /><br /><br /><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->MÔ TẢ THỜI CỔ ĐẠI<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><br /><br />Sử gia có uy tín, người đầu tiên đề cập đến vườn treo là Berossus, một người dân thành Babylon đã viết về vườn treo vào khoảng năm 270 TCN. Ông kể rằng, NebuchADnezzar (605-562 TCN) xây một cung điện mới trong 15 ngày, nền móng bằng đá hay các bãi đất có hình bậc thang tựa như phong cảnh núi rừng. Theo lời Berossus, cây cối được trồng tại đây, cái được gọi là vườn treo, nhằm làm vui lòng một vị hoàng hậu.<br /><br /><br />Câu chuyện này không có gì phải ngờ vực. Các đồng minh thời cổ đại thường được chính thức công nhận bằng một đám cưới hoàng tộc và chính điều này chắc hẳn NebuchADnezzar đã kết hôn cùng một công chúa xứ Ba Tư (Iran). Một trong số những thành tích của NebuchADnezzar, theo Berossus biết, mô tả cung điện mới của nhà vua như sau: cung điện cao như núi, một phần xây dựng bằng đá, nghe nói chỉ trong 15 ngày là hoàn tất. Không nêu cụ thể một khu vườn nào cả, nhưng các cung điện chỉ chăm sóc có một khu vườn.<br /><br /><br />Người Hy Lạp về sau bổ sung thêm nhiều chi tiết. Một giả thuyết kể rằng khu vườn rộng 120 m2, chiều cao của bức tường thành cao khoảng 25 m. Khu vườn có bãi đất tạo hình bậc thang như một nhà hát, với các công trình nhỏ hòa quyện bên trong. Phần nền xây nhiều vách tường, mỗi vách rộng khoảng 7 m và cách nhau 3 m, để đỡ các dầm bằng đá. Phía trên dầm là ba lớp riêng biệt - sậy đặt trong lớp nhựa đường, hai lớp đá xây bằng gạch, và lớp vỏ ngoài cùng làm bằng chì. Đất trong khu vườn đặt ở trên cùng, nước tưới cây lấy từ các cỗ máy ngụy trang hút nước từ con sông chảy bên dưới.<br /><br /><br />Một giả thuyết thứ hai cho rằng, có đến 20 vách tường chống. Một giả thuyết thứ ba lại kể khu vườn nằm trên các mái cong dạng vòm xây bằng gạch và nhựa đường: các đinh vít kiểu Archimede nằm dọc theo cầu thang cung cấp nước. Một mô tả khác cho rằng có một công trình phụ gồm các cột bằng đá đỡ các dầm bằng gỗ: dầm làm bằng thân cây cọ. Thay vì bị mục rữa, đã mang chất bổ đến nuôi dưỡng rễ cây trồng trong khu vực treo ở phía trên, toàn bộ khuôn viên được tưới tiêu bằng một hệ thống gồm các vòi phun nước và máng dẫn thiết kế thật tài tình.<br /><br /><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->KHU VƯỜN Ở ĐÂU<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Vì có những mô tả trái ngược nhau, một số tỏ ra ngờ vực liệu vườn treo có thật hay không. Tuy không có một đề cập đến bất cứ đặc điểm kiến trúc nào, ngoại trừ các thân cây không bị mục rữa, quả đáng ngạc nhiên. Du khách Hy Lạp chắc hẳn đã chứng kiến việc đưa cây cối lên cao, và chúng ta có thể tìm kiếm những gì còn lại trong đống đổ nát hiện tại theo cách hợp pháp. Nhưng thật không may, các cung điện ở Babylon đã bị những người háo hức tận dụng những viên gạch nung tráng lệ tàn phá hàng ngàn năm trước. Ngày nay chỉ còn lại phần nền móng mà thôi.<br /><br /><br />Những người thám hiểm ban đầu tìm kiếm các khu vườn trong Cung điện mùa hè trên cao, diện tích khoảng 180 m2, cùng với việc kết hợp các giếng nước công phu, nhưng vẫn không đủ không gian dành cho các bãi đất hình bậc thang và cây cối. Một nhà khảo cổ đã xác định vị trí của khu vườn nằm phía trên một số mái cong dạng vòm mà ông phát hiện nằm ở Cung điện phía Nam, lại một lần nữa cũng có các giếng nước, cái mái dạng vòm còn là nền móng của một khu vực hành chánh, cũng có thể là một nhà lao.<br /><br /><br />Bất kỳ ai tìm kiếm mặt bằng tầng trệt thuộc khu vực cung điện sẽ nhận thấy các cung điện phía Bắc và phía Nam nằm bên sườn hướng Bắc và Tây, gắn với Euphrates, bằng các công trình nào trong số này cũng đều có các khu vườn tạo hình bậc thang, có lẽ gây ấn tượng nhất là công trình phụ phía Tây. Phần bao quanh này, có diện tích khoảng 190 x 80 m, với các tường ngoài rộng khoảng 20 m, làm bằng gạch đặt trong lớp nhựa đường. Có nhiều căn phòng ở đầu phía Bắc, trong khi ở đầu phía Nam có một góc hình vuông, có lẽ cầu thang đặt trong một góc. Trong công trình độc đáo này, có thể người ta đã tạo hình một khu vườn hình vuông, gần bằng với kích thước yêu cầu, với các ngôi nhà nghỉ trong mùa hè cùng một khu núi non bộ tạo hình bậc thang.<br /><br /><br />Nhưng vấn đề này chỉ được giải quyết qua những cuộc khai quật gần đây hoặc bằng một số tư liệu chưa tìm thấy từ thời vương triều Nebuchadnezzar. Cho đến lúc này, chúng ta có thể hình dung Vườn treo có các mái dạng vòm và vòi nước hoặc bằng bất cứ hình ảnh nào trong trí tưởng tượng.<br /><a href="http://" target="_blank"></a><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><b>3 .ĐỀN THỜ NỮ THẦN ARTEMIS Ở EPHESUS</b><br /><br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec-->Nghệ thuật Hy Lạp và sự giàu có của châu Á đã kết hợp tạo dựng nên một công trình kiến trúc thần thánh và nguy nga. Đền thờ nữ thần Artemiss nằm trong số Bảy kỳ quan bởi tính tráng lệ về kiến trúc và kích thước khác thường.<br /><br /><br />Đền thờ này lớn hơn điện Parthenon rất nhiều, đây là một trong số những ngôi đền đồ sộ nhất do người Hy Lạp cổ đại xây dựng từ trước đến nay. Tọa lạc gần Ephesus bên bờ biển Ionia thuộc Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay, cả hai ngôi đền và thành phố đều trở nên thịnh vượng do số người hành hương đến viếng ngôi đền tráng lệ này, là nơi thờ tượng vị nữ thần huyền bí (“Nữ thần đi săn của người Ephesia”), thường được đồng nhất với vị nữ thần Hy Lạp Artemis, trong thực tế được xem như là vị thần của người Anatolia thời cổ đại.<br /><br /><br />Đền thờ nữ thần Artemis không những là một trong số những ngôi đền Hy Lạp đồ sộ nhất, mà còn là một trong những công trình được xây dựng toàn bằng đá cẩm thạch lâu đời nhất. Đền được xây dựng ở địa điểm gồm các ngôi đền xây dựng đầu tiên vào khoảng năm 550 TCN với sự giúp đỡ tài chính của Croesus, một vị vua nổi tiếng giàu có thuộc vương quốc Lydia lân cận. Thế nhưng, vào năm 356 TCN, công trình kiến trúc nguy nga này bị một kẻ mắc chứng cuồng nhằm muốn tên tuổi của mình bất tử, đã phóng hỏa thiêu huỷ. Trong vòng vài thập niên sau, người ta dựng tại địa điểm cũ ngôi đền mới, theo hình dáng của ngôi đền ban đầu.<br /><br /><br />Ngôi đền mới trùng tu vẫn còn tồn tại dưới thời kỳ La Mã, khi ấy nhà văn La Mã đã ngạc nhiên trước kích thước và việc xây dựng ngôi đền. Ba cửa sổ lớn được trổ thẳng xuyên qua mái, cửa sổ ở giữa tạo ra một khoang hở giúp những người viếng đền có thể nhìn thấy vị nữ thần Artemis trên bàn thờ. Chính bàn thờ cũng là một công trình có dãy cột thật tráng lệ ở bên phía, đặt ở phía trước ngôi đền.<br /><br /><br />Đền nguyên thuỷ có kích thước 55 x 110 m tính ở bậc thang phía trên, ba phía là một dãy cột gồm hai hàng bao quanh, một chiếc cổng có mái che với hàng cột sâu phía trước lối ra vào. Khi ngôi đền được trùng tu vào thế kỷ 4 TCN, thì nền móng của một số kiến trúc thượng tầng của ngôi đền nguyên thuỷ được tận dụng, nhưng ngày nay chỉ cao khỏi mặt đất khoảng 2m, tấm móng được một hàng cầu thang bao quanh. Ba mươi sáu cột nằm ở phía trước lối ra vào đều trang trí bằng các tác phẩm chạm nổi, một đặc điểm khác thường đối với các ngôi đền Hy Lạp, chính bản thân các cột đều chạm trổ từ 40 đến 48 đường rãnh máng khoét sâu ở thân cột. Quanh ngôi đền phía trên các cây cột, có một trụ ngạch, trong khi các máng xối đều chạm hình đầu sư tử. Với khoảng cách giữa các cột không có trụ đỡ thường vượt quá 6,5 m, bao gồm các tảng đá dài đến 8,75 m, công trình đã buộc những người thợ xây thể hiện khả năng cao nhất của mình.<br /><br /><br />Tục truyền rằng công trình này do kiến trúc sư Chersiphron đảm nhận, sau này ông nghĩ đến chuyện tự vẫn khi đối mặt trước vấn đề nâng cao rầm đỡ ở lối ra vào. Chắc chắn những người thợ xây Hy Lạp đã sử dụng cần cẩu vào năm 515 TCN, nhưng phần lớn các tảng đá trong đền thờ nữ thần Artemiss đều khá nặng. Việc đưa số đá tảng này lên cao không phải là vấn đề duy nhất - Chersiphron phải đảm bảo rằng những tảng đá dùng để trang trí đỉnh cột phải đặt đúng vị trí. Muốn thế, ông đã xây dựng một đường dốc làm bằng các bao cát, cao hơn vị trí muốn lắp đặt một ít. Khi kéo tảng đá lên đường dốc, người ta tháo phần đáy bao để cát chảy ra sao cho mặt phẳng của đường dốc lún xuống dần cho đến khi tảng đá được đặt đúng vị trí yêu cầu.<br /><br /><br />Đá cẩm thạch dùng trong công trình được lấy từ mỏ đá cách công trường 11 km (7 dặm), khoảng cách khá xa khiến việc vận chuyển những tảng đá nặng đến 40 tấn trở thành một thử thách. Lẽ đương nhiên xe bò không để đảm đương nổi trọng lượng này, nhưng Chersiphron nghĩ ra một phương pháp thay thế thật tài tình: khối đá hình lăng trụ dùng để lắp cột được các chốt ở tâm giữ cố định trong một khung bằng gỗ sao cho chúng có thể quay vòng như những chiếc xe lu khổng lồ chuyển động bằng sức kéo nhiều con bò. Ý tưởng này do con trai của Chersiphron là Metagenes đề xuất, sao cho các tảng đá trang trí đầu cột vuông góc có thể di chuyển theo cách tương tự, mỗi đầu cột đều bọc trong bánh xe bằng gỗ khổng lồ.<br /><br /><br />Vì thế chính cái khó đã ló cái khôn, kích thước đáng kinh ngạc của ngôi đền và các tảng đá sử dụng trong công trình đòi hỏi những kỹ thuật mới trong vận chuyển và dựng đá đứng thẳng. Trong khi phương pháp của Chersiphron chưa từng áp dụng ở nơi khác, thì ngôi đền đồ sộ này quả thật là chứng cứ cho sự khéo léo, tài tình của ông. Nhưng tiếc thay, chỉ một phần rất ít của công trình còn tồn tại cho đến nay, người ta chỉ bảo quản được bục đài vòng của đền vừa khai quật và một cột đền duy nhất được gia cố bằng bê tông.<br /><b><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->4 .TƯỢNG THẦN ZEUS Ở OLYMPIA<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--></b><br /><br />Pheidias thể hiện bức tượng thần Zeus đang ngồi, nhưng phần đầu của tượng gần như đụng sát trần nhà đến mức có ấn tượng rằng, nếu thần Zeus đứng lên, có thể sẽ đội cả mái đền. Công trình này là một trong 7 kỳ quan thế giới cổ đại.<br /><br /><br />Khoảng năm 437 tr.CN, Pheidias, vì lý do chính trị phải rời Athens để sống lưu vong. Ông đến Olympia theo yêu cầu của hội đồng xây dựng đền thờ Zeus. Trước đó, ông đã hoàn thành bức tượng bằng ngà và vàng nổi tiếng Athena ở điện Pantheon và một bức tượng nữ thần khác cũng đẹp mắt không kém, cao gần 10 m (33ft) ở Acropolis.<br /><br /><br />Nhiệm vụ của Pheidias ở Olympia là thiết kế và dựng lên một hình ảnh để sùng bái thần Zeus đặt bên trong đền Doric. Kết quả thật phi thường: ông phác thảo một bức tượng bằng ngà và vàng cao 13m (43ft) đặt trên một phần đế bằng đá cẩm thạch cao 1 m (3,3ft). Toàn bộ công trình lấp kín cả đầu phía tây của ngôi đền - một kỳ công nếu xét về nguyên liệu chế tác và diện tích mặt bằng - chỉ có thể thưởng lãm khi đứng cách xa vì những tấm bình phong có hình vẽ bao quanh phần đế che khuất tầm nhìn.<br /><br /><br />Pheidias thể hiện tư thế thần Zeus đang ngồi trên ngai vàng, phóng đại tối đa kích thước bức tượng trong không gian: nếu tượng được tạc theo tư thế đứng, có thể sẽ đạt đến chiều cao hơn 18m (59ft). Bên tay phải Zeus đang cầm tượng thần Victory có cánh biểu tượng cho chiến thắng trong các kỳ Thế vận Olympic, bên tay trái là vương trượng trang trí bằng kim loại biểu thị vị trí tối cao của Zeus trong tư cách là vua của các vị thần. Một con chim đại bàng đậu trên vương trượng, chính là biểu tượng của thần Zeus. Toàn thân tượng Zeus hoàn toàn được chế tác bằng chất liệu ngà, trong khi áo và dép của tượng được làm bằng vàng. Nhiều họa tiết động vật và hoa huệ tay tinh xảo được khắc vào y phục của bức tượng, trên phần đầu tượng trang điểm bằng vòng hoa ôliu. Khối lượng toàn thân bức tượng được đặt trên ngai vàng làm bằng gỗ mun và ngà rất công phu - một công trình khác không kém phần tráng lệ nằm bên phải bức tượng, chạm trổ các nhân vật thần thoại, phong cảnh, trang điểm thêm bằng đá quý và vàng. Bàn chân tượng đặt trên một ghế lớn để chân, phía trước ghế là một chiếc hồ nhỏ bằng đá cẩm thạch đen dùng để hứng nước dầu ôliu rưới khắp bức tượng, có lẽ đề làm cho ngà không bị rạn.<br /><br /><br />Mặc dù không có công trình nào của Pheidias còn lưu giữ cho đến nay, nhưng rõ ràng ông có khả năng thực hiện công trình điêu khắc to hơn người thật, tinh xảo, hoàn mỹ trong chất liệu ngà. Tuy nhiên, ông chưa hề, hay bất kỳ ai khác cũng thực hiện một công trình bằng chất liệu ngà với kích thước đồ sộ như thế, cho đến khi ông thực hiện tượng Athena cho điện Parthenon. Kỹ thuật không phải dễ, đòi hỏi nhiều kỹ năng trong chế tác kim loại, gỗ cũng như ngà.<br /><br /><br />Có khoảng 780 m3 (27.545ft3) gỗ lấy từ địa phương để làm thân tượng, sau đó mới gắn ngà. Bên trong có lẽ cũng gần bằng chiều cao bức tượng, được làm từng bộ phận rồi ghép lại trong đền thờ. Gần như không thể di chuyển thân tượng ra vào đền như một đơn vị riêng lẻ. Gỗ tạo hình chỉ ở mức độ không đáng kể, trong khi phần cơ bắp được đổ khuôn cẩn thận bằng ngà và kim loại.<br /><br /><br />Xưởng của Pheidias nằm bên ngoài điện thờ, ở phía đông ngôi đền, chính Pheidas đã bố trí và thực hiện nhiều bộ phận của bức tượng ngay đây. Bản thân ông có lẽ đã chỉ đạo thực hiện và chịu trách nhiệm các chi tiết tinh xảo khi đổ khuôn và chạm trổ, trong khi những người khác giám sát công tác cung ứng và vận chuyển nguyên liệu. Cùng lúc, những nhà điêu khắc khác tham gia vào việc chuẩn bị nguyên liệu và lõi gỗ, cố định các tấm ngà và vàng, cũng hỗ trợ Pheidias.<br /><br /><br />Người ta thường cho rằng ngà voi được cắt ra và gắn vào lõi gỗ, nhưng chi tiết trong bức tượng thần Zeus của Pheidias cho thấy hệ thống cơ bắp thể hiện rất sinh động ở phần ngực, có thể họ đã áp dụng một số kỹ thuật chế tác ngà khác tinh xảo hơn. Việc sản xuất đồ gỗ trong thời cổ đại, điều Pheidias vốn rất quen thuộc, đã giúp chúng ta lần ra manh mối. Những người làm đồ gỗ đều biết cách có được các tấm ngà mỏng và to hơn bằng việc bung hơn là cắt ngang. Không những việc bao phủ một diện tích lớn hơn bằng những tấm ngà này dễ hơn, độ dày của chúng sẽ giúp việc đổ khuôn ngà dễ hơn một khi được làm mềm. Nhiều nguồn tư liệu thời cổ ghi lại các phương pháp và vật liệu khác nhau trong việc làm mềm và tạo dáng bằng ngà, như lửa, bia, giấm và nấu với quả mandrake, có lẽ Pheidias đã áp dụng những cách này. Một khi đã làm mềm, các tấm ngà mịn sẽ hình thành ngai vàng trong khi các tấm khác ép vào các khuôn đất nung để tạo hình phần thịt. Sau đó, mỗi chi tiết ngà hoàn chỉnh được vận chuyển vào đền, lắp vào phần lõi gỗ bằng đinh tán, các tấm ngà còn ướt sẽ tự động kết dính với nhau.<br /><br /><br />Phần áo ngoài và giày của tượng được làm bằng vàng, cũng như bức tượng thần Victory trên tay phải của thần Zeus và các chi tiết khác thuộc phần ngai vàng. Người ta áp dụng nhiều kỹ thuật để chế tác chất liệu vàng. Muốn trang trí các chi tiết thuộc tấm lớn ở phần ngai vàng có lẽ phải đập mỏng để tạo dáng. Tuy nhiên, khuôn dùng để tạo hình các chi tiết khác, chẳng hạn như các con sư tử bằng vàng khối nằm ở hai bên ghế để chân, và phần xếp nếp của áo choàng bức tượng thần Zeus. Vàng tan chảy ở nhiệt độ rất cao rồi đổ vào khuôn dưới dạng chất lỏng. Đất sét nung được phát hiện trong việc gia công các chi tiết xếp nếp áo.<br /><br /><br />Vì thế toàn bộ công trình được chế tạo từng chi tiết một, cho đến khâu trau chuốt ngà và đánh bóng vàng được thực hiện sau cùng. Kết quả hình thành một kỳ quan thật tuyệt vời khiến những người cổ đại phải kinh ngạc và ghi chép cảm tưởng qua tác phẩm của Strabo, Cicero, Callimachus và Pausanias…<br /><br /><br />Càng về cuối thế kỷ 4 sau CN, tín đồ Cơ Đốc cấm đoán tất cả mọi sự sùng bái ngoại giáo khác. Điện thờ ở Olympia không còn sử dụng và các kỳ thi Thế vận Olympic cũng không được tổ chức nữa. Tuy nhiên tượng thần Zeus ở Olympia vẫn còn sức thu hút mọi người đến mức người ta di dời bức tượng về Constantinople (Istanbul). Năm 462 sau CN, một trận hỏa hoạn khủng khiếp đã tàn phá thành phố và thiêu hủy bức tượng. Bức tượng thần Zeus ở Olympia không hề có bản sao - tất cả những gì chúng ta biết được về bức tượng là qua sự mô tả trong các ghi chép thời cổ đại và bản vẽ phác ở các đồng tiền thời xưa.<br /><br /><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><b>5 .LĂNG MỘ VUA MAUSOLUS TẠI HALICARNASSUS</b><br /><br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec-->Ngôi mộ cổ khổng lồ với diện tích hơn 1.000 m2 do Hoàng hậu Artimise xây dựng cho phu quân Mausolos - Vua xứ Caria. Nó nằm bên bờ biển tây nam Thổ Nhĩ Kỳ và nhằm cất giữ những gì còn lại của Mausolus.<br /><br /><br />Ngôi mộ đồ sộ của ông hoàn tất sau khi ông mất năm 353 TCN. Đây đúng nghĩa là một công trình tưởng niệm, vượt xa tất cả các ngôi mộ khác cùng thời về kích thước và tầm vóc: chiều cao gần 45 m, chiếm một diện tích hơn 1.216 m2. Mặc dù hiện nay những gì còn lại của ngôi mộ không nhiều, nhưng người ta biết được ít nhiều về công trình này qua các ghi chép lịch sử và khai quật khảo cổ.<br /><br /><br />Lăng hầu như vuông góc theo sơ đồ, các cạnh hướng Đông và Tây dài hơn các cạnh hướng Bắc và Nam một ít. Lăng nằm trên một bậc đài vòng có kích thước 38x32 m, phía trên bậc đài vòng là dãy cột Ionic bao quanh tất cả bốn mặt, một kim tự tháp gồm 24 bậc thang nằm trên đỉnh của toàn bộ công trình. Đá vôi trắng và đá cẩm thạch trắng dùng để ốp mặt tiền, trong khi phần lõi làm bằng đá núi lửa màu xanh lục. Một hệ thống gồm các ống thoát nước và hành lang ngầm giúp cho công trình luôn khô ráo và vững chãi. Quanh lăng là tường thành bao bọc chiếm một diện tích 2,5 hécta, có cổng vào ở hướng Đông.<br /><br /><br />Năm trong số những điêu khắc gia cừ khôi nhất của Hy Lạp được trưng dụng để trang trí Lăng: Scopas, Bryaxis, Leochares, Timotheos và Praxiteles. Bốn người, mỗi người chịu trách nhiệm trang trí một mặt của lăng, trong khi người thứ năm đảm trách việc thực hiện hiện tượng chiếc xe ngựa tứ mã kéo khổng lồ đặt trên đỉnh kim tự tháp bậc thang. Hai trụ ngạch chạy liên tục quanh các mặt của lăng mộ, một mô tả trận đấu giữa người Lapith và Centaur, trụ còn lại mô tả trận chiến giữa người Hy Lạp và Amazon, trong khi các hình người và sư tử không có giá đỡ, có kích thước bằng người thật hay to hơn, đặt trên các bệ bằng đá vôi màu xanh da trời.<br /><br /><br />Chúng ta không hề biết gì về lăng cho đến khi nó bị sụp đổ (có lẽ do động đất), thậm chí một số quả quyết lăng chưa hề xây dựng hoàn tất. Tất cả thông tin về địa điểm lăng đã bị thất lạc vào thế kỷ 15 khi các kỵ sĩ của Thánh John tràn vào, đốt đá cẩm thạch để làm vữa vôi và dùng đá công trình để gia cố thành trì của họ ở Bodrum. Chính họ là những người đặt chân đến phòng để thi hài Mausolus nằm dưới đáy của công trình vào năm 1522, thật không may, tài sản trong lăng bị cướp mất, một ít chi tiết được ghi lại.<br /><br /><br />Ngôi mộ đạt đến chiều cao 45 m, trong đó các dãy cột chiếm gần bằng 1/3 tổng chiều cao lăng. Chiều cao của phần kim tự tháp có thể là 6,8 m, trong khi nhóm tượng xe ngựa được giả định có chiều cao ấn tượng 6 m - gấp khoảng hai lần kích thước thật. Như vậy phần chiều cao còn lại cho bục đài vòng sẽ là 20,2 m.<br /><br /><br />Chỉ riêng bục đài vòng cũng cần đến khoảng 24.563 m3 đá phải khai thác, đẽo gọt, vận chuyển và đặt đúng vị trí, riêng phần nham thạch màu xanh lục sử dụng trong nội thất được khai thác tại chỗ trong khi phân tích cho thấy các loại đá khác đến từ những nguồn khác nhau ở rất xa. Đá cẩm thạch làm trụ ngạch Amazon lấy từ đảo Kos, trong khi trụ ngạch của xe ngựa có lẽ loại đá cẩm thạch Phrygy nằm sâu trong nội địa vùng Afyon. Việc thu nhập nguyên liệu từ nhiều địa điểm khác nhau cho thấy Mausolus giữ vai trò quan trọng về uy thế chính trị trong vùng.<br /><br /><br />Các cuộc khai quật được tiến hành vào thế kỷ 19, trong thập niên 1960 và 1970 đã khôi phục sơ đồ mặt bằng của Lăng và cho thấy Lăng được xây dựng bằng cách nào. Người ta chọn một nghĩa địa làm địa điểm, san lấp mặt bằng, khoét và lấp đầy các hành lang, phòng ốc để tạo ra một gối tựa rắn. Các tảng đá nham thạch ở địa phương dài đến cả mét để làm phần móng và lõi của bục đài vòng. Dùng các que kim loại để kẹp chặt các tảng đá kề nhau để kết khối và đỡ tường, đồng thời được gia cố thêm bằng các chốt kim loại liên kết các khối đá ở các lớp đá khác nhau. Dãy cột và kim tự tháp cũng được lên kế hoạch cùng lúc, mỗi cột trong dáy cột cách nhau 3 m sao cho có tổng cộng 36 cột Ionic. Phía trên cột, các kẹp kim loại lại dùng để liên kết các khối đá trang trí đầu cột.<br /><br /><br />Chứng cứ khảo cổ không nhiều và sự mơ hồ, khó hiểu trong các ghi chép thời cổ đại về Lăng thật khó xác định bằng cách nào người ta đã đưa đá lên cao trong thi công. Phải dùng cầu để định vị các khúc đá ngắn lấp cột phía trên bục đài vòng để tính kích thước và độ cao dựng thẳng đá. Một khi đã đúng vị trí, dùng các chốt gỗ cố định các khúc đá ngắn lắp cột để liên kết và giữ chặt đá. Các khối đá ở bục đài vòng có thể được dựng thẳng theo cách tương tự, có thể bằng dây thừng buộc quanh các đầu có mấu lồi rồi sau đó đẽo gọt mấu lồi này khi đá đã đặt đúng vị trí. Việc đưa đá lên để xây dựng kim tự tháp có lẽ còn khó khăn hơn, vì khi dùng bất cứ dụng cụ nào tính độ bền theo tỷ lệ không những kích thước tảng đá, mà còn tính đến độ cao để dựng đá đứng thẳng, khoảng 32-39 m.<br /><br /><br />Việc nâng và lắp trang trí điêu khắc cũng là một vấn đề, nếu không nói là khó khăn hơn. Nhấc bổng một tảng đá thường sợ đá bị gãy, rạn và khi đưa các tác phẩm điêu khắc tinh xảo, các chi rất dễ gãy. Đối với các tác phẩm to bằng hay to hơn kích thước người thật, công việc đòi hỏi phải hoạch định vô cùng cẩn trọng.<br /><br /><br />Lăng chính là kho tàng đầy ắp các tác phẩm trang hoàng, nhất là tác phẩm điêu khắc không có giá đỡ, khiến Lăng được liệt vào hạng Bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Vô số mảnh vụn còn sót lại, một số mảnh vụn có dấu vết của màu sơn: đỏ-nâu sơn trên tóc, râu: đỏ, xanh da trời và tía trên trang phục và áo choàng. Tượng sư tử bao quanh gờ mái cũng được sơn màu nâu vàng nhạt. Thế nhưng tất cả tác phẩm điêu khắc không giá đỡ được lắp đặt như thế nào vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Một số cho rằng muốn lắp dễ phải tạo bậc thang ở bục đài vòng, tạo ra các gỡ để tựa các bức tượng. Số khác căn cứ vào tư liệu ghi chép thời cổ cho rằng không cần sử dụng bục đài vòng hình bậc thang, nhưng cuối cùng người cổ đại vẫn thành công trong việc lắp đặt các tượng. Ngay cả số người tán thành giải pháp dùng bục đài vòng hình bậc thang cũng không nhất trí về số lượng các bậc.<br /><br /><br />Chúng ta căn cứ vào chính các phòng trong lăng mộ: một căn phòng hình chữ nhật xây dựng trong phần đáy của công trình, có nhiều bậc thang dẫn xuống, gần đó là các cửa ra vào bằng đá cẩm thạch đồ sộ. Chỉ có một khối đá hình vuông to lớn nằm bên trong lối vào, có nhiều lỗ và khe để đóng chốt, lúc đầu dùng để định vị tảng đá. Trong phòng này, vào năm 1522, các kỵ sĩ của Thánh John bắt gặp một bình đựng hài cốt hay quan tài. Thế nhưng, khi họ trở lại vào ngày hôm sau, quan tài đã bị vỡ ra, vương vãi các vật nhỏ hình tròn và mảnh vụn từ trang phục bằng vàng. Trong các cuộc khai quật gần đây, người ta chỉ tìm thấy một ít vật nhỏ hình tròn như thế. Đây là tất cả những gì chúng ta biết được về cách mai táng ban đầu.<br /><br /><br />Tại sao một công trình tưởng niệm công phu như thế lại xây dựng dành cho một nhà cai trị xứ Caria? Môn khoa học chính trị có thể đưa ra lời đáp. Mausolus ham muốn thành lập một đế quốc Caria, thống nhất người Hy Lạp và các dân tộc khác, ngôi mộ của ông biểu tượng hóa tham vọng thống nhất bằng việc kết hợp các đặc điểm kiến trúc Hy Lạp, Lycia và Ai Cập. Một trong số những nét mới của Lăng là gom kiến trúc và tác phẩm điêu khắc lại thành một mối quan hệ mới, tạo thế quân bình giữa hai thế lực có tiếng vang trong nhiều giai đoạn tiếp theo sau. Mausolus cũng xây dựng một loại tính bất tử qua lăng mộ, mô phỏng nhiều (trên phạm vi nhỏ) các công trình tưởng niệm Hy-La, và cung cấp từ “mausoleum” cho chúng ta và hiện nay chúng ta vẫn còn dùng để gọi các công trình lăng mộ đồ sộ. <br /><br /><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><b>6 .TƯỢNG THẦN COLOSSUS TẠI RHODES</b><br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br />Pho tượng nữ thần Tự Do mặc áo choàng, tay đưa ngọn đuốc lên cao tại cảng New York, một hình ảnh biểu trưng của nước Mĩ có lẽ không mấy xa lạ với chúng ta. Nhưng, điều mà ít ai biết chính là bức tượng nữ thần Tự Do này còn có một tên gọi khác - "Modern Colossus" (Colossus = tượng khổng lồ), như là âm vang gợi nhớ đến một bức tượng khổng lồ khác cùng kích cỡ (khoảng 110 feet = 33m, cao tương đương một tòa nhà hiện đại với 10 tầng), đã tồn tại cách đây hơn 2000 năm, cũng ở ngõ vào của một cảng biển sầm uất thời cổ đại và cũng là một biểu tượng của tự do : "Colossus of Rhode" - Tượng khổng lồ ở đảo Rhode.<br /><br />Đất nước Hy Lạp cổ đại bị chia cắt bởi nhiều thành bang nhỏ. Trên đảo Rhode bấy giờ có 3 thành bang : Ialysos, Kamiros và Lindos. Năm 408 trước CN, các thành bang này kết hợp lại thành một lãnh thổ thống nhất với thủ phủ tại Rhodes. Thành phố phát triển hưng thịnh và có mối quan hệ chặt chẽ về thương mại và kinh tế với nước liên minh Ptolemy * (Ai Cập) .<br /><br />Năm 305 trước CN, những người thuộc phe Antigonids của Macedonia, cũng là đối thủ của Ptolemie bao vây Rhodes, tìm mọi cách phá vỡ liên minh Rhodes - Ai Cập. Nhưng họ đã không thể xâm nhập vào thành phố. Hiệp ước hòa bình đạt được vào năm 304 trước CN, những người phe Antigonid mở vòng vây, rút lui, để lại nhiều trang thiết bị quân sự dồi dào của họ. Nhằm tổ chức kỷ niệm ăn mừng chiến thắng và thống nhất, người dân đảo Rhodes đã bán vũ khí đó, dùng tiền dựng nên bức tượng khổng lồ hình vị thần mặt trời - Helios. Bức tượng khổng lồ đứng kiêu hãnh uy nghi ngay cửa ngõ vào cảng, sải chân dang rộng và tàu bè có thể đi lại bên dưới. Mỗi sáng sớm, mặt trời chiếu vào làm pho tượng đồng ánh lên rạng rỡ một biểu tượng của tự do và thống nhất.<br /><br />* : sau khi Alexander Đại Đế chết, các tướng lĩnh của ông đã không kiểm soát được vương quốc quá rộng lớn mà đế quốc Macedonia vừa chiếm được (gồm Tiểu Á, vùng Lưỡng Hà, Ai Cập, Ba Tư, Afganistan và Turkestan). Tướng sĩ tranh nhau quyền hành, đế quốc tan rã và Macedonia suy từ đó. Có ba trong số các tướng sĩ của Alexander đã thành công trong việc chia vương quốc này là Ptolemy (Ai Cập), Seleucus và Antigons.<br /><br />Bức tượng thần mặt trời khổng lồ này do nhà điêu khắc nổi tiếng Charles ở Lindos thực hiện. Tượng đúc bằng đồng, đế tượng làm bằng đá cẩm thạch. Tượng cao 33m. Riêng ngón tay cái vài người ôm không xuể, thật là một pho tượng khổng lồ.Công trình tạc tượng Helios kéo dài 12 năm và hoàn thành vào năm 282 trước CN. Trong nhiều năm bức tượng được đặt trên đảo Rhodes cửa ngõ ra vào Ðịa Trung Hải của nước Hy lạp cổ. Cho đến khi xảy trận động đất kinh hoàng năm 266 trước CN, cả thành phố bị thiệt hại nặng và pho tượng thần mặt trời khổng lồ bị gãy ở đầu gối, phần yếu nhất của pho tượng.<br /><br />10 thế kỷ trôi qua, bức tượng khổng lồ vẫn nằm trong đống đổ nát. Năm 654 sau CN, Arab đánh chiếm đảo, họ tháo gỡ phần còn lại của pho tượng và bán cho một người Do thái ở Syrie. NgườI ta kể rằng cần đến 900 con lạc đà để chở những bộ phận của bức tượng khổng lồ đến Syrie. Từ đó đến nay không ai còn nhìn thấy bức tượng này nữa, tính từ lúc xây dựng cho đến khi bị phá hủy nó chỉ tồn tại có 56 năm, nhưng được xếp vào 1 trong 7 kỳ quan cổ đại của nhân loại.<br /> <br /><br /><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><b>7</b><b> .HẢI ĐĂNG ALEXANDRIA</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--> <br /><br />Đây là một trong số Bảy kỳ quan thế giới cổ đại, nhằm hướng dẫn tàu bè vào cảng Alexandria an toàn. Người ta cho rằng phải mất 15 năm mới xây dựng xong hải đăng và tiêu tốn một số tiền khổng lồ 800 talents (đơn vị tiền cổ xưa).<br />Hải đăng<br /><br /><br />Hải đăng xây dựng dưới thời vua Ptolemy I, khánh thành khoảng năm 283 TCN dưới thời vua Ptolemy II. Ngoại trừ Kim tự tháp ở Giza, hải đăng là công trình cao nhất trong thế giới cổ đại.<br /><br /><br />Hải đăng đặt ngay lối vào cảng Alexandria, ngay vị trí hiện nay là một pháo đài Arập xây dựng vào thời Trung cổ, pháo đài Qait Bey. Tháp trung tâm của pháo đài có lẽ được xây dựng trên nền móng của Hải đăng, vì thế có thể phỏng theo sơ đồ mặt bằng và kích thước của Hải đăng. Phần lớn nguyên vật liệu để xây pháo đài đều lấy từ Hải đăng. Tuy nhiên, việc tái tạo chính xác nguyên bản thật vô cùng khó khăn, mặc dù có nhiều hình ảnh Hải đăng dưới dạng biểu đồ trên các đồng tiền, đồ khảm và các mô tả thành văn thời cổ đại. Người ta cũng cho rằng ngọn tháp đổ nát ở Abusir cũng mô phỏng theo hình dáng của Hải đăng. Đây là tất cả những gì người ta biết được về Hải đăng cho đến năm 1960, khi ấy một thợ lặn Ai Cập phát hiện những tảng đá và pho tượng khổng lồ nằm dưới đáy biển quanh pháo đài Qait Bey. Người ta cho rằng những khối đá và pho tượng này thuộc về Hải đăng đổ nát, hiện được một toán bao gồm các thợ lặn và nhà khảo cổ nghiên cứu.<br /><br /><br />Xây dựng thành 3 bậc, người ta nghĩ Hải đăng phải có chiều cao khoảng 135 m. Bậc dưới cùng theo sơ đồ hình vuông, gồm nhiều phòng cho bộ phận canh gác hải đăng thường trực, gia súc và lương thực. Lối vào được tôn cao, đi vào bằng con đường dốc bắt đầu từ phần nền bao quanh tháp. Bên trong bậc hình vuông thấp hơn là một vách tường bên trong để đỡ các phần trên của Hải đăng, đến được phần trên này bằng con đường dốc xoáy trôn ốc bên trong. Bậc ở giữa có hình bát giác, phía trên bậc này là phần hình tròn có tượng thần Zeus nổi bật.<br /><br /><br />Chúng ta có thể nghiên cứu đôi chút về cấu trúc Hải đăng. Hải đăng xây dựng bằng đá trắng, hầu hết đều là đá vôi trắng ở địa phương chứ không phải đá cẩm thạch như mọi người thường nghĩ. Có lẽ đá granite được sử dụng ở những nơi thích hợp cần phải có loại đá chắc chắn hơn đá vôi trắng, có thể chịu đựng tải trọng lớn hơn ở phần chân tháp và phía trên ô cửa. Nhiều tảng đá hiện nay còn nằm dưới đáy biển đều là đá granite, một số tảng nặng đến 75 tấn.<br /><br /><br />Alexandria là một bộ phận trong thế giới Hy Lạp, xét theo kiểu dáng, Hải đăng có vẻ là một công trình Hy Lạp hơn là Ai Cập, mặc dù đội công tác dưới nước của Pháp xác định vị trí của rất nhiều pho tượng Ai Cập ở vùng lân cận. Các tượng Ptolemy và hoàng hậu khổng lồ đều nằm bên ngoài hải đăng.<br /><br /><br />Việc dựng những tảng đá vào đúng vị trí trong một công trình cao như thế đòi hỏi phải thật khéo léo, bằng kỹ thuật xây dựng Hy Lạp, bao gồm các cần cẩu tinh vi và thiết bị nâng, có lẽ đã được những người thợ xây áp dụng. Thế nhưng, cũng có thể phần lớn các tảng đá dùng để zây dựng tầng phía trên được đẩy lên bằng các đường dốc trôn ốc bên trong công trình.<br /><br /><br />Ngay cả vị trí ngọn lửa thắp sáng hải đăng cũng chưa xác định: có thể nằm ở trên đỉnh, bên dưới hay dọc theo tượng thần Zeus. Nhiên liệu có lẽ chất lên lưng động vật thồ, vận chuyển lên phía trên bằng đường dốc trôn ốc, sau đó kéo lên đỉnh bằng thiết bị nâng. Có thể sử dụng một số loại gương phản xạ để phóng đại và hướng ánh sáng phát ra từ ngọn lửa nhưng chưa có bằng chứng cụ thể về ý kiến này.<br />Pháo đài Qait Bey.<br /><br /><br />Mặc dù phải qua nhiều lần hư hỏng và sửa chữa. Hải đăng phần lớn vẫn còn nguyên vẹn cho đến thế kỷ 14 sau CN. Một số thời điểm trước thế kỷ 12, Hải đăng bị động đất tàn phá nặng nề, tiếp đến phần móng hình vuông được gia cố, người ta xây một nhà thờ Hồi giáo trên đỉnh. Toàn bộ công trình bị sụp đổ hoàn toàn năm 1303 trong trận động đất <br /><br /><b><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><div align="right"><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->Chien-Paradisetravel/st<!--colorc--></span><!--/colorc--></div><br />---------------------------------------<br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->"Con gái đẹp là con gái trong mơ,<br />Con gái ngoan là con gái trong.... nhà trọ"<!--colorc--></span><!--/colorc--></b> <img src="style_emoticons/<#EMO_DIR#>/tongue.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":P" border="0" alt="tongue.gif" /> <br /><br /> <br /><br />