View Full Version : Hỏi và Đáp về văn hoá Việt Nam
vigawell
10-01-2013, 10:29 AM
<!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>Những câu hỏi tại sao, như thế nào ? ...về văn hoá việt Nam <br /><br />Khái niệm về văn hoá( Unesco)<br /></b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br />Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất,trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy sét bản thân.Chính văn hoá dã làm cho chúng ta trở thành sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý.Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện,tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ những công trình vượt trội bản thân./.<br /><br /><b><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Chức năng của văn hoá.<br /><br /><!--sizec--></span><!--/sizec--></b>1-Chức năng giáo dục<br />2-Chức năng nhận thức<br />3-Chức năng thẩm mỹ<br />4-Chức năng giải trí.<br /><br /><b>Di sản văn hoá là gì ?<br /><br /></b>Di sản văn hoá là toàn bộ kết quả sáng tạo văn hoá của thế hệ trước để lại. Theo UNESCO, di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá hữu thể và di sản văn hoá vô thể.<br /><br />- Những di sản văn hoá hữu thể như: đình, đền, chùa, lăng mộ, nhà ở, thành quách, nón quat...<br />- Những di sản văn hoá vô thể như các biểu hiện tượng trưng không sờ thấy được của văn hoá được lưu truyền biến đổi qua thời gian với mmột số quá trình tái tạo của đông đảo cộng đồng.VD như, âm nhạc, múa, ngôn ngữ, nghi thức, phong tục tập quán y học, y dược cổ truyền....<br />Di sản văn hoá hữu thể và vô thể gắn bó hữu cơ với nhau như hai mặt của một tờ giấy khó mà tác biệt hai loại văn hoá này được.
minhchaubeauty
10-01-2013, 10:29 AM
<!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><br /><b>Thế nào là tín ngưỡng phồn thực ?</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Tín ngưỡng phồn thực là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái sự sinh tồn nảy nở của tự nhiên và con người( Phồn=nhiều, thực=nảy nở)<br />Ở nước ta, tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử dưới hai dạng biểu hiện: thờ cơ quan sinh dục nam nữ và thờ bản thân hành vi gia phối.<br /><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>Tứ bất tử là gì?<br /><br /></b>Tứ bất tử ( gồm bốn vị thánh bất tử) <br /><br /><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->1- Đức Thánh Tản ( Sơn Tinh)<br />2- Chử Đạo tổ ( Chử Đồng Tử)<br />3- Đức Thánh Gióng ( Thánh Gióng)<br />4- Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh<br /><br /><b>ĐỨC THÁNH TẢN.</b><br /><br />Theo truyền thuyết Thục An Dương Vương là người đầu tiên lập đền thờ Tản Viên. Nhà lý đã phong Tản Viên là" Thượng đẳng tối linh thần"và " Đệ nhấtphúc thần"<br /><!--sizec--></span><!--/sizec--><b>Đền chính là Đền Thượng - Núi Ba Vì</b> ngoài ra các nơi khác đều thờ Thánh và các bộ tướng tập trung nhất là ở các tỉnh Vĩnh Phú ( cũ) Hà Tây, Hà Nam Ninh(cũ)<br />Để tưởng nhớ công đức tyhánh Tản Viên, ở đền Và Ba Vì cứ ba năm một lần nhân dân mở hội lớn với lễ thức rước bài vị Thánh qua sông Hồng, lễ tắm ngai, đánh cá thờ, tục thờ làm cỗ thờ với 99 đuôi cá...rước chúa gái Mỵ Nương. trong tâm thức dân gian thì Tản Viên là biểu tượng của sức mạnh liên kết giữa đất và núi, liên kết giữa các bộ lạc giữa con người và thánh thần. sự liên kết ấy tạo nên sức mạnh sẻ núi khơi thông trí tuệ dời non lấp bể chiến thắng mọi trở lực hung bạo để bảo vệ đất dai ruộng đồng..khặng định sức mạnh của con người trước thiên nhiên hùng vĩmà còn có sức mạnh sáng tạo vô biên về giá trị văn hoá và lòng nhân ái cứu nhân độ thế.<br /><br /><b>CHỬ ĐẠO TỔ.<br /><br /></b>Người Việt thờ Chử Đồng Tử như ông tổ của đạo thờ tiên. Theo quan niệm của dân gian là người ở cõi trời giáng trần, hợc là người trần giớ có đức độ tài ba, đạo cốt qua tu luyện thành tiên sau đó dùng phép lạ của mình đẻ cứu nhân độ thế,được dân giuan tôn thờ ngưỡng mộ.Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân được thờ ở nhiều nơi thuộc tỉnh Hưng Yên.<br />Chử Đồng Tử đi vào tâm thức của dân gia không chỉ là người con hiếu thảo, nhân ái mà còn là <b>biểu tượng của một chí hướng phái triển cộng đồng</b>. mở mang khai phá đồng bằng trũng lầy thành những cánh đồng tốt tươi,trồng dâu,nuôi tằm,dệt vải và phát triển những ngành nghề khác và đặc biệt mộtnghề mới mẻ là <b>nghề đi buôn</b>. Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã mở một hướng mới cho sự phát triển của dân tộc tạo nên sự giao lưu giữa dân tộc và cộng đồng bên ngoài.<br /><br /><b>ĐỨC THÁNH GIÓNG<br /><br /></b>Biểu tượng Thánh Gióng được nhân dân tôn thờ là một lẽ sống một đạo lý con người.<br />Tương truyền từ thời Hùng Vương, để ghi nhhớ công lao của tràng trai làng Gióng nhà vua đã cho lập đền thờ ở làng và tôn làm Phù Đổng Thiên Vương. đến thời nhà Lý. Lý Công Uẩn sau lầm được chứng kiến thánh Giáng linh ứng nen đã tu bổ đền thờ tạc tượng, truy phong là Xung Thiên Thần Vương.<br /><b>Đền thờ chính ở làng Phù Đổng huyện Gia lâm - Hà Nội và có đền thờ ở Sóc Sơn, ở núi Vệ Linh nơi mà Thánh Gióng đánh giặc xong cởi áo giáp sắt bay về trời.<br /></b>Để tưởng nhớ công lao của Thánh Gióng, hàng năm nhân dân mở hội vào ngày mồng 9 tháng 4 âm lịchảôTng ngày hội có có các ngi lễ rước nước, tập trận, săn hổ , cờ tướng, múa, hát...<br />Với Thánh Gióng trong tâm thức của người dân đất Việt đó là hào khí của bản hùng ca hoành tráng từ ngàn xưa vọng lại. Niềm tự hào về sức mạnh đoàn kết dân tộc trong việc chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước bên cạnh đó còn là bản tình ca tuyệt đẹp về tình mẫu tử về trách nhiêm của con người đối với tổ quốc.<br /><br /><b>THÁNH MẪU LIỄU HẠNH<br /><br /></b>Liễu Hạnh là con gái Ngọc Hoàng vì phạm lỗi bị đày xuống trần gian nàng cũng có một thời ngao du mọi nơi, trêu người này ban ơn cho kẻ khác trtêu ghẹo người đời nhiều lần dánh nhau vứi cả quán lính triều đình. Vua sai đạo sỹ cầm quân được Liẽu Hạnh nhưng đức phật đã đã cứu và trả tự do. triều đình phong thần, Liễu Hạnh được tôn là Nữ Hoàng Công Chúa, rồi Thế Thắng Đại Vương từ đó liễu hạnh trở thành bcj siêu nhân luôn ban ân đức cho mọi người, góp phần đánh giặc ngoại sâm, trừng phạt kẻ phản nghịch, bà được nhân dân tôn là Thánh Mẫu. đền thờ bà được thờ ở nhiều nơi: <b>Phủ Giầy( vụ Bản ) Hà Trung ( đền sòng)<br /></b>Trong tiềm thức của nhân danh,Liễu Hạnh là một vị thần, một biểu tượng đa dạng, sinh động một nhân vật bình thường nhưng thật phi thường.Qua đây khẳng định quyền sống của con người, khát vọng tự giải phóng, nhất là phụ nữ muốn thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội, của lễ giáo phong kiến, khát vọng vươn tới đạt được những ước vọng của hạnh phúc gia đình, đó là ý thức hệ nhân sinh của người dân Việt Nam đã được ký thác niềm tin vào biểu tượng người mẹ./.
tholvt
10-01-2013, 10:29 AM
Chúng ta đi sâu hơn về Văn Hoá của Việt Nam.<br /><br /><b>Văn hóa của dận tộc Việt Nam</b><u></u><br /><br /> - Việt Nam có một nền văn hoá rất đa dạng, phong phú và giàu bản sắc bởi đó là sự giao hòa văn hóa của 54 sắc tộc cùng tồn tại trên lãnh thổ. Bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam còn có một số yếu tố từ sự kết tinh giao thoa giữa nền văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ cùng với nền văn minh lúa nước của người dân Việt Nam.<br /><br /> - Văn hóa Việt Nam, hay nói riêng là văn hóa của dân tộc Kinh mà đã có nguồn gốc tại miền bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc, là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất ở trong khu vực Thái Bình Dương. Mặc dù như vậy, nhưng qua ảnh hưởng lớn của Trung Hoa, văn hóa Việt Nam đã lập ra rất nhiều đặc điểm gần giống với những dân tộc của miền Đông Á, và khác những nước ở khu Thái Bình Dương (như là Campuchia, Lào và Thái Lan) mà đã chịu một phần lớn ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ.<br /><br />Nhưng tuy là ảnh hưởng Trung Hoa được coi là ảnh hưởng lớn nhất của một nước ngoài trên nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, dân tộc Kinh đã vẫn giữ gìn được rất nhiều nét văn hóa riêng của mình, mà cho tới ngày hôm nay những phong tục riêng đó vẫn quan trọng vô cùng trong đời sống của người Việt.<br /><br />Có nhiều nhà viết sử cho rằng là trước khi ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, Văn hóa Đông Sơn có gốc ở miền bắc Việt Nam (mà cũng đã phát triển mạnh ở những nước khác ở khu Thái Bình Dương) là phần đầu của lịch sử Việt Nam.<br /><br />Có thể nói chung văn hóa của Việt Nam là một pha trộn đặc biệt giữa nhiều những văn hóa cổ xưa cùng với văn hóa bản xứ của người Việt, ngoài ảnh hưởng lớn nhất của Trung Hoa cũng có ảnh hưởng rất nhỏ hơn của văn hóa Ấn Độ, Chàm, và sau này ảnh hưởng lớn của văn hóa phương tây (Pháp, Nga, Mỹ).<br /><br /> +<b>Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên</b><u></u><i></i><br />Vì nền tảng văn hóa là nông nghiệp nên người Việt có quan niệm ứng xử hài hòa với thiên nhiên. Kinh thành Huế được xây dựng theo quan niệm hòa hợp với cảnh quan xung quanh.<br /><br />Người Việt có hiểu biết lớn về thiên nhiên, đặc biệt là về điều kiện tự nhiên thích hợp cho nông nghiệp. Người Việt có nhiều kinh nghiệm trong việc chống chọi với thiên nhiên để phát triển nông nghiệp, điển hình là".<br /><br />Trong bất cứ một môi trường nào, con người đều chịu ảnh hưởng,chi phối bởi điều kiện tự nhiên, môi trường sống và điều kiện sinh hoạt Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó, con người không thể chống lại nó, cải tạo nó một cách thuần thuc mà phải thích nghi vớ môi trường sống để điều hòa nhịp sống của mình Với môi trường tự nhiên đắp đê phòng lũ lụt được phản ánh rõ nét trong truyện cổ tích "Sơn Tinh, Thủy Tinh, không chỉ con người Việt Nam, mà hầu như tất cả các cộng đồng dân tộc quốc gia trên thế giới đều phải tìm hiểu, lựa chọn thích nghi để tồn tại. Và quá trình đó đã nảy sinh những yếu tó văn hóa mà ta gọi là " văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên". Và những yếu tố văn hóa đó đã thể hiện rất rõ trong sinh hoạt của con người.<br /><br />Đó là việc con người đã sử dụng những sản phẩm của tự nhiên như : tre nứa, gỗ lạt, mây tre măng trúc để làm nhà, thức ăn, thức uống khai thác ở sông suối, đánh bắt ở biển để chế biến thức ăn trong bữa ăn. Đặc biệt, có những sản vật nổi tiếng được chế biến từ cá, tôm, canh cua.... Trong kiến trúc nhà cửa: con người đã biết nhắm hướng nhà, hướng đất, tránh hướng gió độc, đón lấy hướng mắt trời, hay xây dựng nhà cửa gần sông suối để tiện nước sinh hoạt, trồng trọt<br /><br />Một điểm đăc biệt trong kiến trúc nhà cửa, là các kiến trúc đều thuận theo thuật phong thủy. Đó là sự hài hòa giữa thế đất, thế núi, nguồn nước...Điều này thể hiện rất rõ trong kiến trúc kinh thành như thành Thăng Long, thành nhà Hồ, kinh thành Huế...hay trong thuyết tam tài của người dân là : "thiên - địa - nhân"<br /><br />Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của con người còn được thể hiện trong cách ăn mặc của người dân. Đó là cách ứng xử mùa nào thức nấy, mùa hè mặc chất liệu vải mát, mùa đông màu áo chất liệu vải giữ nhiệt...<br /><br />Hay trong kinh nghiệm sản xuất, trị thủy. Dự báo thời tiết, mùa nào thì nên trồng cây nào cho thích hợp ... Tuy nhiên, hiện nay, do môi trường cơ chế thị trường, con người đã xâm hại tự nhiên quá lớn, để rồi tự nhận lãnh hậu quả là những trận lũ lụt khủng khiếp, động đất, sóng thần... Vì thế, để được thiên nhiên giúp đỡ, mọi người hãy tự nhận thức sự cần thiết của môi trường tự nhiên, hãy bảo vệ và xây dựng để môi trtường ngày càng tốt đẹp hơn<br /><br /> +Vì nền tảng văn hóa là nông nghiệp nên người Việt có quan niệm ứng xử hài hòa với thiên nhiên. Kinh thành Huế được xây dựng theo quan niệm hòa hợp với cảnh quan xung quanh.<br /><br />Người Việt có hiểu biết lớn về thiên nhiên, đặc biệt là về điều kiện tự nhiên thích hợp cho nông nghiệp. Người Việt có nhiều kinh nghiệm trong việc chống chọi với thiên nhiên để phát triển nông nghiệp, điển hình là".<br /><br />Trong bất cứ một môi trường nào, con người đều chịu ảnh hưởng,chi phối bởi điều kiện tự nhiên, môi trường sống và điều kiện sinh hoạt Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó, con người không thể chống lại nó, cải tạo nó một cách thuần thuc mà phải thích nghi vớ môi trường sống để điều hòa nhịp sống của mình Với môi trường tự nhiên đắp đê phòng lũ lụt được phản ánh rõ nét trong truyện cổ tích "Sơn Tinh, Thủy Tinh, không chỉ con người Việt Nam, mà hầu như tất cả các cộng đồng dân tộc quốc gia trên thế giới đều phải tìm hiểu, lựa chọn thích nghi để tồn tại. Và quá trình đó đã nảy sinh những yếu tó văn hóa mà ta gọi là " văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên". Và những yếu tố văn hóa đó đã thể hiện rất rõ trong sinh hoạt của con người.<br /><br />Đó là việc con người đã sử dụng những sản phẩm của tự nhiên như : tre nứa, gỗ lạt, mây tre măng trúc để làm nhà, thức ăn, thức uống khai thác ở sông suối, đánh bắt ở biển để chế biến thức ăn trong bữa ăn. Đặc biệt, có những sản vật nổi tiếng được chế biến từ cá, tôm, canh cua.... Trong kiến trúc nhà cửa: con người đã biết nhắm hướng nhà, hướng đất, tránh hướng gió độc, đón lấy hướng mắt trời, hay xây dựng nhà cửa gần sông suối để tiện nước sinh hoạt, trồng trọt<br /><br />Một điểm đăc biệt trong kiến trúc nhà cửa, là các kiến trúc đều thuận theo thuật phong thủy. Đó là sự hài hòa giữa thế đất, thế núi, nguồn nước...Điều này thể hiện rất rõ trong kiến trúc kinh thành như thành Thăng Long, thành nhà Hồ, kinh thành Huế...hay trong thuyết tam tài của người dân là : "thiên - địa - nhân"<br /><br />Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của con người còn được thể hiện trong cách ăn mặc của người dân. Đó là cách ứng xử mùa nào thức nấy, mùa hè mặc chất liệu vải mát, mùa đông màu áo chất liệu vải giữ nhiệt...<br /><br />Hay trong kinh nghiệm sản xuất, trị thủy. Dự báo thời tiết, mùa nào thì nên trồng cây nào cho thích hợp ... Tuy nhiên, hiện nay, do môi trường cơ chế thị trường, con người đã xâm hại tự nhiên quá lớn, để rồi tự nhận lãnh hậu quả là những trận lũ lụt khủng khiếp, động đất, sóng thần... Vì thế, để được thiên nhiên giúp đỡ, mọi người hãy tự nhận thức sự cần thiết của môi trường tự nhiên, hãy bảo vệ và xây dựng để môi trtường ngày càng tốt đẹp hơn<br /><br /> + <b>Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội</b><u></u><i></i><br />Người Việt Nam ngay từ nhỏ đã được dạy dỗ theo các chuẩn mực đạo đức của dân tộc và của đạo Khổng, trong đó chú trọng việc tu thân dưỡng tính, lấy chữ Nhân làm trọng, kính trên nhường dưới, luôn rèn luyện để có thể cống hiến thật nhiều cho đất nước và chăm lo cho gia đình. Đến thời hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng các quan điểm đạo đức xa xưa lên một tầm cao mới, với các lời căn dặn như: "Trung với nước, hiếu với dân" (ngày xưa là "Trung quân ái quốc").<br /><br />Người Việt Nam có tinh thần "tôn sư trọng đạo". Người Việt xem cha mẹ có công sinh thành ra mình, còn thầy cô có công dưỡng dục mình nên người: "Mùng một Tết cha, mùng hai Tết chú, mồng ba Tết thầy". Những nghề nghiệp được tôn phong bằng chữ "sư" (thầy) là những nghề nghiệp được người Việt tôn kính: võ sư, thầy thuốc...Việt Nam có Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11.<br /><br />Việt Nam thời phong kiến "trọng nam khinh nữ", điều này gây nhiều bất hạnh cho người phụ nữ. Phụ nữ phải thực hiện "tam tòng tứ đức". Sau khi lập nước năm 1945, Chính phủ công nhận chính thức quyền bình đẳng nam nữ. Hồ Chí Minh viết tặng chị em phụ nữ 8 chữ vàng "anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".và câu danh ngôn "trên bước đường thành công không có dấu chân kẻ lười biếng"
xuanhoahcm
10-01-2013, 10:29 AM
<!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>Tam toà Thánh Mẫu là gì ?<br /><br /></b><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Tam toà Thánh Mẫu là từ chỉ tín ngưỡng thờ mẫu dùng để chỉ hệ thống sáng tạo vũ trụ gồm ba vị Thánh Mẫu cai quản ba miền của vũ trụ là.<br /><br />1- Mẫu Thượng Thiên ( Mẫu đệ nhất) Cai quản miền trời<br />2- Mẫu Thượng Ngàn ( Mẫu đệ nhị) Cai quản miền rừng núi<br />3- Mẫu Thuỷ -đọc chệc là Mẫu Thoải( mẫu đệ tam) Cai quản miền sông nước.<br /><br />Trong điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu , Tam Toà Thánh Mẫu được thờ chung một hàng ngang với thứ bậc vị trí rõ ràng.<br /><br />1- Mẫu Thượng Thiên ( Ngồi giữa) Choàng khăn màu đỏ<br />2- Mẫu Thượng Ngàn ( Ngồi bên phải) Choàng khăn màu xanh<br />3- Mẫu Thoải ( Ngôùi bên trái) Choàng khăn màu trắng<br /><br />Khi Thánh Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện, bà đươch đề cao, mang tư cách là hoá thân của Mẫu Thượng Thiên. ( Phủ Giầy - Vụ Bản -Nam Định) tương truyền là quê hương của Mẫu Liễu từ lâu đã trở thành trung tâm thờ Mẫu của người Việt.<br /><br /><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>TAM PHỦ<br /></b>- Thiên Phủ - Miền trời<br />- Nhạc Phủ - Miền rừng núi<br /><!--sizec--></span><!--/sizec-->-<!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--> Thuỷ/Thoải phủ - Miền sông nước<br /><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>TỨ PHỦ<br /></b>Ba phủ ở trên có thêm Địa Phủ - Miền đất đai<br />.......<br /><br /><br /><b>Phân Biệt: ĐỀN, MIẾU, NGHÈ, ĐIỆN, PHỦ, QUÁN, AM. ?<br /><br /> </b>Hầu hếtư các di tích kiến trúc còn lại thường là nơi thờ phụng các thần linh, có nghĩa đều gắn với tôn giáo, tín ngưỡng, và <b>tuỳ theo đối tượng được thờ mà có tên gọi khác nhau<br /></b><br /><b>ĐỀN ?<br /><br /></b> <b>Là nơi thờ Thánh</b> hoặc những nhân vật lịch sử đã được thần thánh hoá. Đền có dạng. Loại to lớn kể cả mặt bằng lẫn ý nghĩa, có thể kể tới như đền Hùng, đền Giáng, đền Vua đinh, vua Lê, đền Lý Bát Đế, đền Kiếp Bạc....Các đền thờ thàn linh dân dã như đền Độc Cước có khi đền gắn với việc thờ các thàn linh hoặc những nhân vật cảu địa phương được thiêng hoá.<br /><br /><b>MIẾU ?<br /></b><br />Thường là ngôi đền nhỏ như Miếu Thổ Địa, Miếu Cô, Miếu Cậu... Nhìn chung không phải là nơi thờ thần linh có vai trò to lớn. Tuy nhiên trong một vài trường hợp cụ thể có thể thấy Miếu là một kiến trúc khá lớn, đôi khi chiếm một diện tích mặt bằng đáng kể, ví như Văn Miếu, Võ Miếu. ( Miếu xuất hiện ở nước ta vào thế kỷ XI)<br /><br /><b>NGHÈ ?<br /></b><!--sizec--></span><!--/sizec-->
forimex
10-01-2013, 10:29 AM
<!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Theo cuốn sách: "Hỏỉ đáp về văn hóa Việt Nam" thì các khái niệm về đình chùa miếu mạo được phân biệt như sau:<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>- Đền:</b><!--sizec--></span><!--/sizec--> <br />Nơi thờ thánh hoặc những nhân vật lịch sử đã được thần thánh hóa. Đền có nhiều dạng. Là loại hình to lớn về cả mặt bằng lẫn ý nghĩa, có thể kể tới: Đền Hùng, đền Gióng,...rồi các đến thờ thần linh dân dã như Đền Độc Cước, cũng có khi đền gắn với việc thờ các thần linh hoặc nhân vật của địa phương được thiêng hóa.<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>- Miếu: </b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br />Thường là ngôi đền nhỏ như: miếu Thổ địa, miếu cô, miếu cậu,...Nhìn chung, không phải là những nơi thờ những thần linh có vai trò to lớn. Tuy nhiên, trông một số trường hợp cụ thể có thể thấy miếu là môt kiến trúc khá lớn, đôi khi chiếm một diễn tích mặt bằng rất đáng kể, ví như: Văn Miếu.<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>- Nghè</b><!--sizec--></span><!--/sizec-->:<br /> Một hình thức của đền miếu, thờ thần thánh. Đây là kiến trúc thường có mối quan hệ chặt chẽ với một di tích trung tâm nào đó. Nghè có thể thờ thành hoàng làng ở làng nhỏ, được tách ra từ làng gốc như Nghè Hải Triều, cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một thôn trong xã nhằm thích ứng với dân sở tại để tiện việc sinh hoạt tâm linh khi ngôi đền chính khó đắp ứng được nhu cầu thờ cúng thường nhật.<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>- Điện:</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /> Là một hình thức của đền, nơi thờ thánh trong tín ngưỡng dân dã Việt. Điện phổ biến thờ mẫu hoặc các thần nổi tiếng. Điện có thể của cộng đồng hoặc tư nhân. Trên ban thờ thường có ngai, bài vị, khám , tượng chư vị thánh thần và các đồ thờ khác: Tam sơn, bát hương, cây nến, đài, lọ hoa, vàng mã,...Cũng có khi là nơi làm việc của các vị vua chúa như điện Diên Hồng, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh.<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>- Phủ</b><!--sizec--></span><!--/sizec--> <br />Thường là nơi thờ mẫu, Phủ Giầy, Phủ Tây Hồ,.... ở Thanh Hóa cũng gọi đền là Phủ. Suy cho cùng phủ là một nơi thờ tự thánh mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương. Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần nữ nhân ở chùa Bút Tháp có niên đại vào giữa Thế kỷ XVII.<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>- Quán:</b><!--sizec--></span><!--/sizec--> <br />Một dạng của đền gắn với đạo Lão. Tùy theo từng thời mà có các dạng thực thờ tự khác nhau. Vào khoảng thế kủ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất chỉ như là của một ngôi đền thờ vị thánh cụ thể. Đến thế kỷ XVI - XVII: việc thờ cúng các vị thần linh cơ bản như Trung Hoa.<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>- Am:</b><!--sizec--></span><!--/sizec--> <br />Được coi là một kiến trúc nhỏ thờ Phật. Am được nghĩ tới từ Trung Quốc, được mô tả như một ngôi nhà nhỏ lợp lá, làm nơi ở của các con cái, chịu tang cha mẹ. Về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, và làm nơi ở, nơi đọc sách của văn nhân.<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->
glsvn
10-01-2013, 10:29 AM
<b><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><div align='center'>Tín ngưỡng, kiêng kỵ và hèm</div> <!--sizec--></span><!--/sizec--></b><br /><br /><b>Người dân làm nông nghiệp, xưa nay không thể thoát khỏi tư tưởng trông chờ sự may rủi của số phận, của thiên nhiên. Do vậy, tư duy kinh nghiệm và những niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, những kiêng kỵ, hèm tục là sản phẩm tất yếu của cư dân làm nông nghiệp nói chung. </b><br /><br /><br />Theo tư duy nông nghiệp, và ảnh hưởng của chế độ Nho giáo, trong cộng đồng làng xã, câu hỏi Tín ngưỡng là gì được hiểu như sau:<br /><br /><b>Tín</b> là tin theo. Ngưỡng là ngửa trông lên trời.<br /><br />Như vậy, tín ngưỡng là thứ vô hình, nhưng thiêng liêng và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa xã hội của người nông dân. Hạt nhân của tín ngưỡng là tính thiêng, trong đó bao gồm rất nhiều kiêng kỵ và hèm tục.<br /><br />Chính người nông dân với quan niệm Có thờ có thiêng, có kiêng có lành đã góp phần tồn lưu những kiêng kỵ, hèm tục trong đời sống của họ. Họ bị những điều kiêng kỵ quy định và điều chỉnh trong mọi hoạt động thường ngày và cũng chính họ là lực lượng duy trì và phổ biến những điều kiêng kỵ đó cho thế hệ nối tiếp. Hành trình này lâu dần trở thành tập quán.<br /><br />Kiêng là sự dè chừng, cảnh giác của mọi người trong cộng đồng đối với những sự vật hiện tượng diễn ra trong cuộc sống. Kiêng giúp người ta sống an toàn hơn nhờ những lời cảnh báo, khuyên nhủ của thế hệ tiền nhân. Kỵ cũng là sự tránh né, dè chừng nhưng được diễn ra có ý thức cao hơn kiêng. Như vậy, trong sự kỵ đã bao hàm cả cả những yếu tố kiêng. Kỵ còn được hiểu là cấm kỵ - nghiêm cấm, không được vi phạm. Nếu cố làm trái đi, người đó sẽ phải gánh chịu hậu quả xấu. Thông thường, những điều cần kiêng trong cuộc sống diễn ra nhiều và phổ biến hơn những điều cần kỵ<br /><br />J.G.Frazer chia các tập tục cần kiêng kỵ thành 4 loại (1): Những hành động kiêng kỵ như về tình dục, về ăn uống, về quần áo, nhà ở…; Những người phải kiêng kỵ như người có tang, phụ nữ trong thời gian có kinh nguyệt, kẻ sát nhân, người săn bắn, đánh cá…; Những vật và đồ vật phải kiêng kỵ như đồ sắc nhọn, vũ khí bằng sắt, máu, đầu tóc, móng tay cắt ra, bãi khạc nhổ…; Những từ kiêng kỵ như tên người, tên gọi các quan hệ họ hàng, tên người chết, tên vua chúa, tên các vị thần...<br /><br />Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thọ cho rằng cách phân loại của Frazer đã tách riêng hành vi kiêng kỵ bằng ngôn ngữ ra một nhóm và nhóm này thuộc lĩnh vực tu từ học hoặc tâm lý ứng xử ngôn từ, không thuộc phạm vi các tục lệ kiêng kỵ. Ba nhóm còn lại của Frazer hoàn toàn trùng hợp với khái niệm kiêng húy trong tiếng Việt, hoặc tị húy hay kỵ húy trong tiếng Trung Quốc.<br /><br />Theo chúng tôi, từ thực tế cuộc sống, thường kiêng kỵ được hiểu một cách đầy đủ theo sự phân loại của Frazer và biểu hiện cụ thể ở những hành động kiểu như kiêng tên (tên hèm, tên húy). Con cháu kiêng không nói tên ông bà, cha mẹ. Nếu trong cuộc sống thường ngày có những tiếng trùng với tên của các bậc này, con cháu sẽ gọi tránh đi, hoặc tìm một tiếng đồng nghĩa để thay vào. Chẳng hạn Hà Đông làm Hà Đương, thịt đông gọi là thịt đặc, hồng gọi là hường, hoa gọi là huê, xuân gọi là xoan, quả bưởi gọi là quả bòng…<br /><br />Đối với tổ tiên là các vị đã khuất, sự kiêng tên càng được giữ gìn hơn. Khi con cháu làm một điều gì không phải, bị người khác gọi tên ông bà cha mẹ đã khuất ra mà réo chửi thì bị coi là một điều tủi hổ, sỉ nhục cho gia đình và dòng họ, có thể gây nên thù oán sâu đậm. Chính để tránh cho người khác khỏi xúc phạm đến tổ tiên mình, mọi người đều giữ gìn trong điều ăn nếp ở, cố làm sao không gây bất cứ sự đụng chạm nào.<br /><br />Trong lúc cúng giỗ phải khấn đến tên tổ tiên, người gia trưởng cũng lâm râm khấn rất khẽ, e khấn to có người nghe tiếng là phạm tội bất kính.<br /><br />Các con cháu nhỏ không được biết tên tổ tiên, e chúng nhắc bậy bạ phạm tội đến các người, gây điều bất hiếu cho cha mẹ. Trước khi đặt tên cho các con, bố mẹ phải kiêng, không được đặt tên của tổ tiên.<br /><br />Đối với thành hoàng làng, người ta cũng kiêng gọi thẳng tên ra, hoặc tránh đặt tên trùng với tên thành hoàng. Sự kiêng kỵ về cách đặt tên, gọi tên còn đúng cả trong trường hợp tên vua hay hoàng tộc. Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, việc phạm húy tên của vua và hoàng tộc còn bị coi là tội, phải chịu quở trách hoặc nặng hơn thì phạt theo luật.<br /><br />Kiêng kỵ trong những ngày đầu năm, đầu tháng; Kiêng trong ma chay, cưới xin, cúng giỗ; Kiêng kỵ trong học hành, chữa bệnh; Kiêng kỵ trong xuất hành, buôn bán, chăn nuôi, trồng trọt, ăn uống, làm nhà dựng cửa; Những kiêng kỵ dành riêng cho đàn bà con gái; Những kiêng kỵ đối với tên gọi cơ thể người và các con vật; Những kiêng kỵ đối với thiên nhiên, đối với các vật dụng trong gia đình, những kiêng kỵ gắn với tôn giáo tín ngưỡng; Kiêng kỵ trong truyền nghề, dạy nghề… Có thể nói kiêng kỵ đã chứa đựng trong nó rất nhiều tri thức dân gian về mọi lĩnh vực trong cuộc sống và lao động của con người nhằm mục đích bảo vệ, khuyến cáo con người khỏi những bất trắc và tạo ra nét văn hóa trong cộng đồng.<br /><br /><b>Hèm</b> được coi là biểu hiện cao nhất của khái niệm kiêng, kỵ. Hèm thường đi kèm với những hoạt động mang tính cộng đồng cao như việc cúng tế thành hoàng làng và thể hiện cao qua lễ hội. Thông thuờng, hèm của mỗi làng là những hành động, nghi lễ mang tính bí mật, riêng tư gắn với lai lịch vị thần làng đang thờ. Những hèm đó có chung đặc điểm là bí mật riêng, phải giấu giếm đối với người ngoài cuộc (cộng đồng khác) và giấu giếm với chính quyền trung ương. Chính các nghi lễ hèm đã tạo ra dấu ấn riêng cho cộng đồng sở hữu nó và trở thành niềm tin linh thiêng khi oai linh của các vị thần có hèm phù trợ cho cộng đồng an lành, thịnh vượng. <br /><br />Nếu như kiêng có tính khá phổ biến trong xã hội, kỵ có tính ít phổ biến hơn thì hèm là một đặc sản riêng. Có lẽ đến hiện nay, chưa có một tổng kết nào trong nghi lễ thờ phụng mà lại có hèm trùng nhau, cho dù cùng chung một đối tượng thờ phụng. Đã có một thời, hèm bị coi là sản phẩm điển hình của mê tín đị doan, song thực chất, chính hèm lại là nơi chưa đựng nhiều nghi lễ, phong tục cổ, những lớp văn hóa sớm hơn, thô sơ, mộc mạc, khi con người còn non thơ trước cuộc sống đầy bất trắc.<br /><br />Kiêng kỵ là hiện tượng phổ biến trong đời sống nông thôn Bắc Bộ. Đặc biệt, trước Cách mạng tháng Tám, việc kiêng kỵ được người dân tuân thủ khá nghiêm với tinh thần tự giác. Cộng đồng mỗi làng xã khép kín sau lũy tre xanh dường như đều có những bí mật kiêng kỵ rất riêng tư. Do vậy, những lực lượng ngoài cộng đồng không dễ gì thâm nhập vào thế giới kiêng kỵ riêng tư đó. Tuy nhiên, một hiện tượng trái ngược cũng thường xảy ra. Có khi, việc kiêng kỵ tại cộng đồng này lại không có ý nghĩa hay giá trị gì với cộng đồng khác, dù cho hai cộng đồng này liền kề nhau về lãnh địa. Như vậy, vấn đề kiêng kỵ, hèm húy cũng có những nét phổ quát và dị biệt khi đặt chúng trong bối cảnh nhất định. <br /><br />Hoàng Quốc<br />(TC Văn Hoá Nghệ Thuật Số 4(262)/2006)
kingken
10-01-2013, 10:29 AM
<b><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Ý nghĩa nhân văn trong trang phục truyền thống<!--sizec--></span><!--/sizec--> </b><br /><br />[attachment=5670:20060228...708_T_1_.jpg]<b><i>Trong quan niệm truyền thống, người Việt rất quan tâm đến trang phục: “Hơn nhau tấm áo manh quần / Cởi ra mình trần ai cũng như ai”, hay: “Người đẹp vì lụa / Lúa tốt vì phân / Chân tốt vì hài / Tai tốt vì hoa”. Thậm chí, họ còn coi trang phục chi phối cả hoạt động giao tiếp, tâm lý giao tiếp: “Quen sợ lòng sợ dạ / Lạ sợ áo sợ quần”. Chính vì vậy mà trang phục trong lễ hội càng được người ta coi trọng.</i> </b><br /><br /><br />Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đi tìm ý nghĩa nhân văn trong trang phục lễ hội truyền thống trên cơ sở cứ liệu văn học Việt Nam 1932-1945. Tất nhiên muốn tìm được ý nghĩa nhân văn trong trang phục lễ hội truyền thống phải tìm cho được nét đặc trưng riêng của trang phục ấy. Đó là nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra trong quá trình chứng minh các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1932-1945 rất chú ý tới miêu tả phong tục về trang phục. <br /><br />Đây là trang phục ngày Tết của các cậu bé trong thơ Lan Sơn được nhà phê bình Hoài Thanh tuyển in trong "Thi nhân Việt Nam" (1941): <br /><br />Thủa bé tôi đeo chiếc khánh vàng<br />Quần đào xẻ đũng, áo hoàng lam<br />Chân đi hài đỏ, tay thu pháo<br />Nhộn cả nhà lên tiếng hát vang<br />(Tết và người qua...)<br /><br />Hình ảnh những cậu bé này được Đoàn Văn Cừ tái hiện trong "Chợ Tết":<br /><br />Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon<br /><br />Đoàn Văn Cừ xứng đáng được gọi là nhà thơ của phong tục lễ hội bởi ông chuyên viết và viết hay về con người trong phong tục lễ hội. Thơ ông đặc sắc, không lẫn với bất cứ nhà thơ nào khác cũng một phần là nhờ vào lẽ ấy:<br /><br />Một cụ già râu tóc trắng như bông<br />Mặc áo đỏ, cầm hương đi trước đám<br />Dăm sáu cụ áo mền bông đỏ sẫm<br />Quần nâu hồng, chống gậy bước theo nhau<br />(Đám cưới ngày xuân)<br /><br />Chúng ta dễ nhận ra một nét riêng về màu sắc trong trang phục lễ hội truyền thống là màu đỏ (hồng, thắm, đào). Xét ở phương diện loại hình trang phục, ta hãy “nhìn” các cô gái:<br /><br />Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ<br />(Chợ Tết)<br /><br />Dăm bảy cô phủ mình trong những chiếc<br />áo đồng lầm, yếm đỏ, thắt lưng xanh<br />(Đám cưới ngày xuân)<br /><br />Và sẽ thấy một đặc trưng riêng nữa của trang phục lễ hội là hình ảnh cái yếm đỏ. Không chỉ trong thơ Đoàn Văn Cừ mà trong thơ Nguyễn Bính cũng có hình ảnh này:<br /><br />Trên đường cát mịn, một đôi cô<br />Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa<br />(Xuân về) <br /><br />Còn cô gái trong thơ Anh Thơ thì đeo yếm thắm cả khi đi làm đồng:<br /><br />Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,<br />Làm giật mình một cô nàng yếm thắm<br />Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa<br />(Chiều xuân)<br /><br />Xét ở phương diện tính chất của trang phục lễ hội, chúng ta hãy tham khảo một đoạn văn trong truyện ngắn Cái Tết của những nhà đại văn hào của nhà văn Nguyễn Công Hoan:<br /><br />“Ngoài đường làng, người thì ăn mặc quần áo mới, đội khăn mới, đi giày mới, người thì nhai trầu bỏm bẻm, thuốc lá phì phèo, sột soạt đi lễ tết nhà nhau. Các cô con gái thì yếm đỏ, thắt lưng tím, áo nâu non đổi vai, lên chùa hái lộc. Họ gặp nhau, chúc nhau…”.<br /><br />Trang phục đều mới (quần áo mới, đội khăn mới, đi giày mới) <br /><br />Trở lên chúng tôi đã chứng minh có ba nét đặc trưng của trang phục lễ hội truyền thống: màu đỏ - xét ở phương diện màu sắc; cái yếm đào – xét ở phương diện màu sắc; mới - xét ở phương diện tính chất. Vậy ý nghĩa nhân văn của những nét đặc trưng này được thể hiện nhưng thế nào? <br /><br />Trước hết, xét về màu sắc (màu đỏ) theo quan điểm lịch sử. Nhìn vào truyền thống chúng ta thấy màu đỏ được nâng lên thành biểu tượng quen thuộc. Một màu hồng (đỏ) trong ca dao:<br /><br />Bây giờ mận mới hỏi đào:<br />Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?<br />Mận hỏi thì đào xin thưa:<br />Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào!<br /><br />Vườn hồng ở đây không thể là một vườn hồng cụ thể (vườn cây hồng), mà là một vườn hồng trừu tượng chỉ thế giới tâm hồn của đào (người con gái). Một vườn hồng dùng theo lối ẩn dụ thật tinh tế đã góp phần nâng giá trị của bài ca dao kết cấu theo lối đối đáp trở thành một trong những bài ca dao tỏ tình hay nhất trong kho tàng văn học dân gian. Và nhất là trong Truyện Kiều - một tác phẩm văn học đỉnh cao được coi nhưng là sự kết tinh tâm hồn, tính cách dân tộc, bóng hồng được dùng với tần số cao, khi được dùng với nghĩa đen chỉ người thiếu nữ mặc quần áo đỏ, khi lại dùng với nghĩa bóng chỉ người con gái đẹp. Kim Trọng lần đầu nhìn thấy Kiều: “Bóng hồng nhác thấy nẻo xa”, khi đã gặp rồi thì bị bóng hồng ám ảnh: “Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra”, khi chàng Kim lập đàn tế Kiều bên sông Tiền Đường, chàng vẫn nhìn thấy Kiều trong tâm tưởng: “Vời trông còn thấy cánh hồng lúc gieo”…<br /><br />Nghiên cứu màu sắc Truyện Kiều, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã rất có lý khi cho rằng: “Các màu hồng, tía, thắm không chỉ biểu trưng cho người đẹp, mà còn biểu trưng cho sự sống. Nguyễn Du biểu trưng Kiều dưới một sắc hồng”.<br /><br />Nhìn vào phong tục, tín ngưỡng người Việt ta thấy màu hồng biểu trưng cho sự sống, cho mọi sự may mắn, tốt lành và hạnh phúc: Quà Tết, quà cưới được gói trong giấy hồng; câu đối viết trên giấy đỏ; cô dâu chú rể mặc áo đỏ trong ngày cưới; rồi thiệp hồng (thiếp mời đám cưới)… và người gặp vận may được gọi là vận đỏ… Như vậy rõ ràng màu đỏ trong trang phục lễ hội là sự thể hiện, sự tiếp nối một truyền thống có từ lâu đời, nó biểu hiện một khát vọng hết sức nhân văn: con người luôn mong muốn và hướng về những điều tốt đẹp.<br /><br />Tiếp nữa là xét về hình ảnh cái yếm đào theo cái nhìn đối sánh. Theo tôi đây là hình ảnh mang đậm bản sắc dân tộc bởi không ai có thể tìm thấy hình ảnh này ở một đất nước nào khác, quốc gia nào khác. Cũng thật tiếc, hình ảnh cái yếm đào này không có trong trang phục hôm nay, nó đã đi vào lịch sử và chỉ còn xuất hiện trên sân khấu thời trang hay trong các dịp lễ hội truyền thống. Ngày xưa các cô thôn nữ dùng yếm để che ngực, thường là do người dùng tự cắt may. Chính vì thế mà nó trở thành biểu tượng nữ tính: “Trầu em têm tối hôm qua / Cất trong dải yếm mở ra mời chàng”; “Ước gì sông rộng một gang / Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”… Yếm là mảnh vải hình vuông đeo trước ngực, phía trên khoét tròn làm cổ, hai góc bên đính với dải để buộc ra sau lưng. Khi trời nóng bức, người ta mặc váy yếm, hai tay và lưng để trần: “Đàn ông đóng khố đuôi lươn / Đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh”. Yếm có nhiều mầu sắc: yếm nâu mặc đi làm đồng, yếm trắng mặc thường ngày (thường là ở đô thị): “Yếm trắng mà vã nước hồ / Vã đi vã lại anh đồ yêu thương”; yếm thắm, yếm đỏ, yếm hồng, yếm đào mặc trong dịp lễ hội. Như chúng tôi đã chứng minh ở trên, trong trang phục lễ hội cổ truyền, người thiếu nữ không thể không có hình ảnh cái yếm. Nó đã trở thành một biểu tượng kép, vừa là biểu tượng nữ tính, vừa là biểu tượng cho một khát vọng tình yêu, may mắn, hạnh phúc.<br /><br />Cuối cùng, xét ở phương diện tính chất mới, chúng ta thấy ngày Tết ngày hội ai cũng mặc trang phục mới, trẻ con đã đành “Những thằng cu tha hồ khoe áo mới” (Đoàn Văn Cừ, "Đám hội") mà người lớn cũng “quần áo mới, đội khăn mới, đi giầy mới”. Phải nhìn nhận vấn đề này trên quan điểm lịch sử, ở ngày hôm nay, người ta mua sắm một bộ quần áo mới không khó, nhưng ở vào cái thời trước năm 1945, để có một bộ quần áo mới chắc chắn là không hề dễ dàng, bởi thời đó dân ta rất nghèo, vải vóc hiếm và trình độ may vá chưa thể như hôm nay. Thế nhưng đến ngày lễ hội, dù nghèo, người ta cũng cố có một trang phục mới để vui hội hay đón Tết. Đây không hề là sự sĩ diện khoe khoang, ngược lại, nó thể hiện một khát vọng đổi mới, khát vọng có nhiều cái mới, vui hơn, tốt hơn, đẹp hơn.<br /><br />Như vậy, “hơn nhau tấm áo manh quần” không hề là chuyện hình thức, mượn theo cách nói của thi pháp học hiện đại là “hình thức mang tính quan niệm”, nghĩa là hình thức cắt nghĩa nội dung, hình thức thể hiện cả một quan niệm của nội dung. Không nên hiểu giản đơn trang phục là do sở thích, thói quen mà phải hiểu đó là một mã văn hóa mang trong nó cả một chiều sâu ý nghĩa cần khám phá. (Trần Ngọc Dung)<br /><br />(TC Văn Hoá Nghệ Thuật, Số 2(260)/2006)<br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>Rồng trong quan niệm phương Đông và phương Tây</b> <!--sizec--></span><!--/sizec--><br />(TC Văn Hoá Nghệ Thuật,Số 1(259)/2006)<br /><br /><b>Rồng, ra đời ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của con người, nhằm nhận thức và khám phá thế giới. Cả phương Đông và phương Tây đều có biểu tượng rồng, song do đặc điểm của mỗi nền văn hóa mà rồng phương Đông có những nét khác rồng phương Tây. </b><br /><br />Nguồn gốc và các truyền thuyết về rồng; ý nghĩa tượng trưng của biểu tượng rồng; Việc tìm hiểu những nét khác biệt của biểu tượng này ở phương Đông và phương Tây tuy có được nhắc đến trong một số nghiên cứu, nhưng chưa được làm rõ một cách hệ thống và toàn diện. Chính vì truyền thuyết cũng như hình tượng rồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, nên có thể sử dụng nó như một cứ liệu để tìm hiểu về truyền thống văn hóa phương Đông và phương Tây; cũng như sự khác biệt giữa hai nền văn hóa. Phương pháp sử dụng là so sánh type, motip của truyền thuyết; tính chất biểu tượng rồng; hình tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình.<br /><br /><b>1. Sự nhìn nhận của phương Đông về rồng</b><br /><br />Rồng, một biểu tượng văn hóa, ra đời từ sự nỗ lực của con người trong việc tìm hiểu và nhận thức thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, ở hai nền văn hóa Đông và Tây, sự nhìn nhận về rồng lại được quyết định bởi bản chất và đặc thù của mỗi nền văn hóa. Nếu phương Tây coi rồng là biểu tượng cho sự xấu xa, độc ác, là đối tượng mà con người cần phải chinh phục; thì ngược lại phương Đông lại xem rồng là biểu tượng cho sự tốt đẹp, may mắn và thịnh vượng. Rồng trong truyền thuyết, huyền thoại phương Đông thường được mô tả khác với rồng của phương Tây cả về dáng dấp và tính khí.<br /><br />Ở phương Đông, rồng là biểu tượng của bản nguyên tích cực và sáng tạo, là sức mạnh của sự sống. Nguồn gốc sâu xa của biểu tượng này là do điều kiện tự nhiên (địa lý - khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế) qui định. Môi trường sống của các cộng đồng cư dân ở phương Đông là xứ nóng, mưa nhiều, tạo nên những vùng đồng bằng nằm trong các lưu vực các con sông lớn. Yếu tố sông nước quan trọng với người phương Đông, vì vậy họ đã sáng tạo rồng với ý nghĩa đầu tiên là biểu tượng cho nước - sự phong đăng, mùa màng bội thu. Cả hai mặt hoạt động có lợi cũng như phá hoại của nước đều được xem là do rồng thúc đẩy. Cũng chẳng có gì là lạ khi những vị thần đầu tiên trong tín ngưỡng xa xưa của phương Đông là những vị thần có liên quan đến nước. Mùa màng bội thu hay không là phụ thuộc vào yếu tố nước. Do đấy, thần nước cũng chính là thần Rồng. Quan niệm của phương Đông về rồng trong buổi đầu là: Đấng tối cao của không khí/ Hơi thở mầu nhiệm của người toả khắp/ Điều khiển mây/ Chứa đựng khí ẩm ướt/ Làm mưa dịu mát trái đất (1). Theo Ernest Ingersoll: “Khái niệm nằm trong chữ "rồng" có từ lúc bắt đầu những suy nghĩ được ghi lại của con người về những điều bí ẩn của nhà tư tưởng và thế giới của anh ta. Nó gắn liền với những quyền lực và hành động của các vị thần đầu tiên, và giống như những quyền lực cùng hành động đó, nó mơ hồ, dễ thay đổi và mâu thuẫn trong các thuộc tính của nó, chỉ duy trì từ đầu đến cuối một đặc điểm có thể xác định - kết hợp với nước và kiểm soát nước”(2). <br /><br />Sau này, trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc phương Đông, rồng dần được gán thêm các ý nghĩa mới phù hợp với tính chất của thời đại như biểu tượng nguồn gốc dân tộc, vương quyền, cao sang, may mắn, thịnh vượng,...<br /><br />Ở Trung Hoa xưa, người ta xem rồng là tinh linh núi, là thần linh bảo hộ năm vùng, nghĩa là bốn phương và vùng trung tâm; là kẻ bảo vệ năm hồ bốn biển (có nghĩa là mọi hồ, mọi biển). Về khả năng của rồng, trong dân gian Trung Hoa có rất nhiều truyền thuyết cho rằng rồng có khả năng hô gió gọi mưa, có thể đội sông lật bể, gọi mây che mặt trời. Đối với người Nhật, con rồng là chủ yếu trong những vật lý tưởng ở Nhật Bản. Đối với người Triều Tiên, rồng là một trong bốn con vật siêu tự nhiên có phép lạ. Nó là hiện thân của mọi sức di động, thay đổi và năng lực để tiến công. Về mùa xuân, nó bay lên trời, và về mùa thu nó náu mình dưới đáy nước sâu. Ngày xưa người Triều Tiên tin là các sông suối cũng như các đại dương bao quanh Triều Tiên là nơi ở của một con rồng, và người dân thường cứ đúng kỳ lại thờ cúng quyền lực này. Sự quan trọng của việc biểu lộ niềm tôn kính hình thức lớn đến thế với rồng là do rồng kiểm soát mưa và cần được người ta làm cho vui vẻ để cho mùa màng khỏi bị nguy hiểm vì mưa không đủ, hơn nữa nó có khả năng làm phiền nhiễu nhiều cho những người chèo thuyền và những thủy thủ ở biển khơi trừ khi nó được người ta làm cho dịu lòng một cách thích đáng. Do đó, không những các người dân nông thôn và người làm ruộng ở nông trại, mà cả chủ tàu bè muốn có thời tiết thuận lợi để đi xa, đều làm lễ cầu an; không những các chiến thuyền lớn, mà cả các thuyền chở hàng hóa, thuyền đánh cá, đò, phà,... đều mỗi loại làm một thứ lễ riêng để đảm bảo an toàn. Lễ đó được coi như một thứ cống nộp cho thần nước. Đối với người Việt Nam, trong ký ức dân gian thần mưa và thần nước mang hình hài một con rồng to thường xuyên ra biển Đông hút nước mang vào đất liền tưới tắm cho đất đai.Rồng là nguồn nước tưới cho ruộng đồng tốt tươi và giúp nhà nông hình thành kinh nghiệm dân gian: Rồng đen lấy nước thì nắng/ Rồng trắng lấy nước thì mưa…<br /><br />Được xem là vua của tạo sinh động vật, nên dễ hiểu rồng là biểu tượng của điềm lành, sự may mắn và tốt đẹp đối với phương Đông. Trong truyền thuyết, thần thoại của phương Đông, dù cốt truyện có khác nhau nhưng rồng bao giờ cũng ẩn chứa ý nghĩa là một biểu tượng cho sự cao quý tốt đẹp. Đối với một số quốc gia phương Đông, rồng là biểu tượng cho nguồn gốc dân tộc. Người Việt xưa tự hào mình là "Con Rồng cháu Tiên". Tộc Hạ có tô tem rồng và cũng xưng là "Tộc rồng"(3). Bà mẹ thủy tổ của dân tộc Khơme là con gái vua huyền thoại Naga, một động vật huyền thoại có tính cách như rồng. Nữ thần Pônaga (còn gọi là Pô Nưga) là bà tổ của người dân Chămpa. Các vị thần nói trên vừa mang ý nghĩa biểu tượng của sông nước, vừa mang ý nghĩa phong đăng gắn với các nghi lễ nông nghiệp, vừa mang ý nghĩa về nguồn gốc dân tộc. Rồng hiện lên là điềm báo đất nước sẽ có vị minh quân hay hiền nhân, hoặc tôn phong những triều đại tốt đẹp. Thế kỷ XI, vua Lý Công Uẩn dời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La và đã đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long để thể hiện khát vọng và tư thế vươn lên của một dân tộc. “Thế kỷ XV, vua Xêthathilat cho dời kinh đô từ Luông Pha băng ra Viêng Chăn và đặt tên thủ đô là Xỉ Xattanahutta, có nghĩa là kinh đô của hàng triệu con rồng nhằm biểu dương sức mạnh của vương quốc (4).<br /><br />Đối với phương Đông, rồng được xem là con vật nằm trong cung hoàng đạo, trong số 12 con vật. Rồng hiện diện trong nhiều loại hình nghệ thuật như trong múa, kịch; trang trí trên điêu khắc, kiến trúc... Múa rồng là một sinh hoạt văn hóa truyền thống của phương Đông, nhất là ở các vùng nông nghiệp trồng lúa nước. Hầu hết các quốc gia phương Đông đều có điệu múa rồng vào các ngày lễ Tết cổ truyền. Rồng mang màu sắc rực rỡ, uốn lượn theo nhịp trống rộn rã tạo không khí hội hè, biểu thị niềm vui sướng, hạnh phúc cho tất cả mọi người, cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu... Ngày đầu năm mới ở Inđônêxia, một đoàn người trẻ tuổi đội lốt rồng bằng giấy nhảy múa trên đường, trong khi những người dân đổ dồn ra ở các cửa sổ dâng lên rồng những mớ rau cải xanh mà nó nhai ngốn trong niềm vui lớn của mọi người. Bộ phận người Inđônêxia ở Hà Lan vẫn duy trì nghi lễ hàng năm này trên các đường phố Amsterdam. <br /><br />Quan niệm rồng là cao quý, tốt đẹp đã dẫn đến ở phương Đông thời kỳ xa xưa có nơi người ta coi những xương hóa thạch từ lâu là bộ xương cũ kỹ của những con rồng và đã sử dụng chúng như một dược liệu để chữa bệnh.<br /><br />Cho đến ngày nay, theo thói quen khi nói về các quốc gia phát triển với ý nghĩa khen ngợi người ta vẫn sử dụng chữ "rồng", chẳng hạn: Nhật Bản, Singapo, Đài Loan... được gọi là những con rồng châu á, hàm ý chỉ về khả năng tiềm ẩn, sự vượt trội... <br /><br />Nhìn chung, rồng mang ý nghĩa tốt lành ở phương Đông, tuy nhiên đôi khi cũng có những trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn với người Nhật, rồng bên cạnh ý nghĩa nguồn nước, mùa màng phong đăng, thì còn là biểu hiện của cái xấu. Thần Fudô khuất phục một con rồng chính là đã thắng sự ngu dốt và tối tăm. Đó là biểu hiện về sự pha trộn, ảnh hưởng của biểu tượng rồng phương Tây với biểu tượng rồng phương Đông.<br /><br />Về hình dạng, rồng phương Đông là sự hỗn hợp của nhiều loài động vật khác nhau: đầu lạc đà, sừng của hươu, tai của bò, mắt của thỏ, mình rắn phủ đầy vẩy cá, vẩy theo hàng xương rồng cho tới quanh mồm, đuôi rắn tận cùng bằng vây sắc nhọn, chân phối hợp giữa chân hổ và gót móng chim ưng, phần phụ ở vai và háng như những tia lửa, hơi thở của rồng bao gồm mây và nước. Số móng của rồng bình thường có bốn hàng, riêng rồng của nhà vua thì có năm hàng (5). Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại có sự sáng tạo riêng của mình trong đề tài rồng. Chẳng hạn, mô típ Cửu long của Trung Hoa là dựa theo truyền thuyết Chín rồng giỡn nước. Tương truyền, thời xa xưa việc làm mưa gió là do một con rồng điều khiển. Nhưng nó không có cách nào để làm cho nơi nơi đều mưa thuận gió hòa. Rồng tâu với Ngọc Hoàng cử thêm mấy con rồng nữa để cùng nó điều khiển gió mưa. Ngọc Hoàng chuẩn tấu, sai tám con rồng nữa xuống hạ giới và phong cho con rồng ấy làm đầu đàn. Nhân dân khắp nơi vui mừng đón tiếp. Chín con rồng ăn uống thoả thích, say túy lúy, hăng hái làm gió mưa khiến khắp nơi lụt lội, nhấn chìm làng mạc. Rồi chín con rồng rủ nhau bay lên núi cao, rừng sâu ngủ một giấc dài. Khi nạn lụt qua đi, vào vụ mùa, người dân cầu có mưa thì chẳng được, kéo dài triền miên mấy tháng đại hạn không một giọt nước. Khi con rồng đầu đàn tỉnh giấc, nó cố sức gọi gió kêu mưa, còn tám con kia không con nào chịu hành động. Lụt lội, hạn hán làm cho nhân dân khắp nơi đau khổ, họ đồng thanh ta oán trời. Tiếng kêu của họ làm náo động cả Thiên đình. Ngọc Hoàng sai triệu chín con rồng về Thiên Đình, nhưng vẫn còn những con rồng đang chìm đắm trong giấc ngủ. Ngọc Hoàng tức giận truyền chỉ sai tám con rồng bay tám hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc và cử con rồng đầu đàn ở chính giữa, kiểm soát tám hướng. Từ đó, trần gian tuần hoàn theo bốn mùa xuân hạ thu đông. <br /><br />Người Nhật Bản khi tạo hình rồng lại dựa theo quan niệm dân gian về các loại rồng. Họ cho rằng mỗi kỳ sinh nở con rồng cái đẻ ra chín con. Rồng thứ nhất ưa ca hát và thích mọi âm thanh êm ái, do đó đỉnh các chuông Nhật Bản được đúc hình con vật này. Rồng thứ hai thích âm thanh của nhạc cụ nên đàn koto hoặc đàn thụ cầm nằm ngang (horizontal harp) và trống suzumi - một thứ trống con gái đánh bằng ngón tay, được trang trí bằng hình con rồng này. Rồng thứ ba ưa uống và thích mọi thứ rượu, vì thế nó được dùng tô điểm cho cốc chén. Rồng thứ tư thích những chỗ cheo leo nguy hiểm, nên đầu hồi nhà, ngọn tháp, cùng các dầm mái chìa ra của đền chùa chạm hình tượng của nó. Rồng thứ năm hay giết hại các sinh vật nên được dùng trang trí cho các thanh gươm. Rồng thứ sáu ham học thích văn chương, hình nó dùng trang trí cho bìa sách. Rồng thứ bảy nổi tiếng về thính tai, nghe được những âm thanh êm đềm của lá cây, nên tất cả những lá cây dùng để chữa bệnh được bỏ vào chai ngoài vỏ có vẽ hình rồng. Rồng thứ tám ưa ngồi nên ghế thường chạm hình nó. Rồng thứ chín ham mang vật nặng, vì thế thường được tạo hình ở chân bàn. Như vậy, vị trí tạo hình của các con rồng là do quan niệm của người Nhật Bản quy định. <br /><br />Đối với người Hàn Quốc, rồng là biểu tượng của sức mạnh tâm linh, của may mắn, phước báu và kiết tường. Trong ngôi chùa ngoài chức năng bảo vệ ngôi tam bảo, nó còn đem lại sự bình yên, giàu có và thịnh vượng cho con người. Biểu hiện riêng của rồng Hàn Quốc là thường cắp ngọc đỏ trong miệng hay trong lòng bàn chân tượng trưng cho trí tuệ và chân lý. <br /><br />Hình tượng rồng của Phương Đông thường được thể hiện kết hợp với một vật hình cầu, mà người ta thường gọi nó là viên ngọc quý của rồng, có khả năng điều khiển được nước triều, chứa đựng thực chất tinh thần hoặc nguyên lý của vũ trụ. Do đấy rồng luôn tìm kiếm viên ngọc đó. Người ta cho rằng, viên ngọc phát triển từ trạng thái hơi qua trạng thái nước kết tinh thành ngọc sáng chói vô cùng. Viên ngọc là đặc trưng của thần thánh, có thể thâu lượm được nhưng phải trải qua quá trình khổ hạnh hàng thế kỷ. Thông thường trong nghệ thuật tạo hình, viên ngọc được trình bày như một vật hình cầu lơ lửng ngay gần miệng rồng để diễn tả ý rồng nhả ngọc, rồng chầu ngọc, hay rồng tranh ngọc... Cũng có ý kiến nêu lên giả thiết đó là hình mặt trăng. Bởi, "Trăng và nước thường gắn chặt nhau trong các thần thoại, do đó trăng có quan hệ chặt chẽ với những tác động gây màu mỡ nói chung"(6).<br /><br />Nguyên nhân cơ bản khiến hình ảnh của rồng xuất hiện rộng rãi trong nghệ thuật tạo hình của nhiều dân tộc phương Đông, đó là: sự diễn tả ý nghĩa của rồng đã mang lại lý do tinh thần cho người nghệ sĩ và sự khao khát được thể hiện vẻ đẹp của rồng. Tất cả các khả năng hoàn hảo đều được gán cho rồng. Người ta tin rằng nó có thể sống và vận động trong cả ba môi trường: nước, không khí và đất. Hơi thở của rồng bao gồm lửa và nước, nhưng thường được cải biến thành mây xoáy trôn ốc. Sự khôn ngoan của rồng và quyền lực của nó vượt trội tất cả những con vật khác. Do đó, trong trí tưởng tượng của con người phương Đông rồng có thể biến hóa vô cùng, nó có thể thu mình nhỏ lại như con tằm hoặc trải rộng che kín cả mặt đất. Đấy chính là cơ sở để người nghệ sĩ tạo hình cho rồng. Những đặc điểm như thân dài lượn sóng, cuộn theo hình mây xoáy trôn ốc, nửa hiện hình, nửa không đã khiến cho người nghệ sĩ phương Đông xưa khi xử lý hình tượng rồng luôn có ý thức về vẻ đẹp của đường nét và giá trị của mảng đặc - rỗng. Đây là cơ hội đặc biệt để tạo ra những hình tượng nghệ thuật đẹp. Do đấy, trong mỹ thuật truyền thống phương Đông, rồng được sử dụng như một họa tiết trang trí phổ biến, mang tính chủ đạo trên công trình điêu khắc, kiến trúc hay các đồ dùng sinh hoạt... <br />Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, hình rồng có những sáng tạo riêng tùy theo tâm lý và văn hóa của dân tộc. Các dị biệt về hình tượng rồng tạo thành 2 cấu trúc chính: rồng có thân bò sát như cá sấu, hay rắn...; rồng có thân thú như hổ, sói...<br /><br />Sự phân loại như vậy dựa theo cách thức xây dựng hình tượng rồng. Còn cách thức xây dựng hình tượng lại phụ thuộc vào yếu tố văn hóa. Khi dấu ấn văn hóa nông nghiệp mạnh mẽ thì phổ biến hình tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình thường gắn với kiểu 1 rồng có thân bò sát, khi tính chất giai cấp phân hóa mạnh thì gắn với kiểu 2 rồng có thân thú. Điều này có nguyên do là yếu tố nước gắn với văn hóa nông nghiệp, nên rồng thân bò sát phù hợp để diễn tả độ mềm mại, tính chất lượn sóng của nước, còn rồng thân thú lại biểu đạt được tính chất áp chế để đề cao uy quyền của giai cấp thống trị. <br /><br />Từ đầu thế kỷ XX, các dân tộc phương Đông không còn quá chú trọng vào việc xây dựng hình tượng rồng trong nghệ thuật tạo hình. Nhưng dù vậy biểu tượng rồng vẫn nằm sâu trong tiềm thức người phương Đông. Rồng vẫn là đề tài nghiên cứu thú vị. Ở khía cạnh nào đó, rồng vẫn là sự kích thích trí tưởng tượng đem lại tinh thần và cảm hứng cho con người. <br /><br /><b>2. Sự nhìn nhận của phương Tây về rồng</b><br />Trong khi phương Đông do tính chất văn hóa nông nghiệp mà xem rồng là chủ nguồn nước, canh giữ các suối, sông, biển, hồ; rồi sau này trở thành ý nghĩa nguồn gốc dân tộc, ý nghĩa vương quyền, ý nghĩa tượng trưng cho những gì cao quý tốt đẹp nhất trong đời sống con người; thì ở phương Tây, nơi mà người ta không quan tâm lắm tới việc có đủ nước mưa hay không cho vườn tược và đồng cỏ của mình, rồng lại mang ý nghĩa ngược lại, đó là sự phá hủy, độc ác và xấu xa. Trong văn hóa phương Tây, rồng được trình bày như thần linh của độc ác và phản Chúa trong đạo cơ đốc giáo. <br /><br />Vết tích cổ xưa nhất về rồng ở phương Tây nằm trong truyền thuyết Hy Lạp nói về Cadmus. Khi di dân đi khai khẩn, Cadmus được một con bò thần dẫn tới một địa điểm ở Boeotia. Khi ông ta phái người của mình đi lấy nước ở một con suối, tất cả mọi người bị một con rồng canh giữ ngọn suối giết chết. Sau đó, Cadmus đã giết chết con rồng, nhổ răng của rồng và gieo xuống mảnh đất. Một toán người có vũ trang mọc ra từ mỗi chiếc răng được gieo. Họ đánh và giết lẫn nhau cho đến khi chỉ còn năm người sống sót. Những người này giúp Cadmus xây dựng một tòa thành. Cuối cùng, tòa thành đó phát triển thành thị trấn Thebes. Năm người kia trở thành tổ tiên của tầng lớp quí tộc thành Thebes. Trong số đó có một người, mệnh danh là "con trai của rắn", tên là Echion, cưới con gái của Cadmus làm vợ. Sau nhiều vụ rối loạn, vua Cadmus rút về Illyria, ở đó ông cùng vợ là Barmonia biến thành rắn, về sau chết đã được các thần đem lên cõi cực lạc.<br /><br />Nhìn chung, huyền thoại về rồng của Hy Lạp là mẫu hình chung cho các câu chuyện về rồng của phương Tây. Thần thoại Hy Lạp mô tả rồng dưới nhiều dạng: có con rồng bảy đầu, có con rồng chín đầu chuyên ăn thịt con gái đẹp, có con trăm đầu mắt trợn trừng... Các chuyện kể về rồng hòa lẫn với những chuyện về người khổng lồ và quái vật. Các tích truyện về rồng phương Tây đều có một mô típ như sau: rồng có nhiều đầu, chuyên gieo giắc tai họa, chỗ ở trong hang, rồng bị chặt đầu, người anh hùng giết rồng để cứu cả một dân tộc hay nàng công chúa. Nhiều dân tộc châu Âu đều có tích truyện tương tự. Cổ nhất là tích tế sinh rồng có nội dung na ná như ở Hy Lạp. Trung tâm của tích truyện là: một tráng sĩ phát hiện có một cô gái đẹp (hay một nàng công chúa) sắp bị tế sinh cho rồng, chàng trai bèn giết con quái vật, chặt đầu nó, cắt lấy lưỡi rồi ra đi sau khi đã nói cho cô gái biết rằng chàng còn phải đi chu du khắp thiên hạ trước khi cưới nàng làm vợ. Qua nhiều năm xa cách, người tráng sĩ này trở về giữa lúc nàng công chúa này sắp bị gả cho một kẻ xấu, bởi lẽ tên này đã nhận rằng chính hắn là người đã giết được rồng. Người anh hùng đã chứng tỏ cho mọi người biết mình là ai bằng cách đưa lưỡi rồng ra và lắp từng lưỡi khớp với đầu rồng rồi kết hôn với công chúa. Từ truyền thuyết này đã tạo nên một tâm lý đối với người đàn ông phương Tây: tất cả các điều khủng khiếp trong cuộc đời được xem là những con rồng cần phải chiến thắng, nàng công chúa đang chờ mong thấy anh ta đẹp đẽ và quả cảm. <br /><br />Trong truyền thuyết và thần thoại Hy Lạp, rồng còn là kẻ canh giữ Bộ lông Cừu Vàng và Khu vườn của các nàng Hespesride. Mô típ truyện này cũng rất phổ biến ở phương Tây và ngày nay vẫn được nhắc lại trong các bộ phim thần thoại về chủ đề đi tìm kho báu. Sự chiến thắng rồng mang ý nghĩa chinh phục một thế lực đen tối để mang lại nguồn của cải dồi dào.<br /><br />Như vậy, nét nổi bật của rồng trong thần thoại phương Tây không phải là biểu tượng của điềm lành, chẳng dính dáng gì đến mưa cũng như sự sinh sản của đất đai. Song các câu chuyện về rồng vẫn thực sự hấp dẫn qua các cuộc phiêu lưu của những vị anh hùng để chinh phục con quái vật. Ý nghĩa ẩn đằng sau tích các truyện về rồng của phương Tây là coi rồng như hiện thân của sự xấu xa, độc ác, cần bị trừng phạt...; đối lập với rồng là nhân vật chính: các anh hùng địa phương, những người đã lừng danh trong nhiều huyền tích và thần thoại khác. Chuyện tiêu diệt rồng đã thêm vào kho công tích của các nhân vật này nhằm đẩy tầm thước anh hùng của họ lên cao nữa. "Nổi tiếng nhất trong những nhân vật hạ sát rồng có Persée, Mardouk, Hercule, Apollon, Sieg Fried, Saint Michel, Beowulf, Arthur và Tristan (7). <br /><br />Trong tư duy người phương Tây, rồng mang dáng dấp kinh sợ, dọa nạt con người. Nó có thể phun ra lửa và phá hủy tất cả. Sức mạnh của rồng ở trong miệng và đuôi của nó. Các câu chuyện về rồng bay trên không lúc đêm và có khả năng khạc ra lửa rất phổ biến ở Na Uy, Đan Mạch, cũng như vương quốc Anh. Công trình của Ernest Ingersoll cung cấp cho ta một ví dụ về hình ảnh và quan niệm của người phương Tây về rồng với ý nghĩa lửa - sự hủy diệt qua câu chuyện thượng đế huấn thị anh chàng Job buồn phiền (8).<br /><br />Khi đạo Kitô ra đời, trong huyền thoại cơ đốc giáo, rồng phương Tây trở thành hiện thân của quỷ dữ hoặc là đầy tớ của quỷ dữ. Các đầu rồng bị đập vỡ, các con rắn bị tiêu diệt là hình ảnh vĩnh cửu về cuộc chiến giữa cái thiện với cái ác trong quan niệm phương Tây. M.Drake nêu lên trong cuốn sách Các thánh và các biểu hiện của họ: "các con rồng xuất hiện ba mươi lăm lần gắn liền với ba mươi vị tử vì đạo và những người khác (9). Ngoài các tranh hình rất nổi tiếng về thánh Misen hay thánh Georges diệt rồng, chính Đức Kitô đôi lúc cũng thường được biểu hiện chân dẫm xéo xác con rồng. Sự khuất phục rồng của các vị thánh trở thành biểu tượng chiến thắng của cái thiện. <br /><br />Hình tượng rồng phương Tây trong nghệ thuật tạo hình thời Trung cổ được thể hiện có cánh hoặc không có cánh, thân phủ đầy vẩy, trên lưng có gai nhọn, dáng tựa như một con cá sấu. Đến thời kỳ Phục hưng, trong một bức họa của Léonard de Vinci, rồng lại được mô tả như một con thú có thân hình của sói, miệng nhe nanh đe dọa, các lông trên thân khá dài hướng về phía sau. <br /><br />Đối với họa sĩ phương Tây, rồng được vẽ ra trên tinh thần tạo một hình tượng mang dáng vẻ hung dữ và ác độc, là mối đe dọa đối với con người. Cách tạo hình rồng phương Tây đối lập với hình rồng phương Đông, một bên là hình ảnh tượng trưng cho sự xấu xa, ác độc, một bên là hình ảnh tượng trưng cho sự cao quý tốt đẹp. <br /><br />Từ những điều đã trình bày, ta có thể nhận thấy những khác biệt về quan niệm và cách tạo hình rồng của phương Đông và phương Tây.<br /><br />Các dân tộc phương Đông gắn bó với nền văn hóa nông nghiệp, thì thường tạo hình rồng trông hiền hòa bởi tâm lý ứng xử với tự nhiên là tiếp nhận và mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó; còn các dân tộc phương Tây gắn bó với nền văn hóa du mục lại tạo hình rồng hung dữ do tâm lý ứng xử độc tôn trong tiếp nhận và cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó. <br /><br />Trong thái độ ứng xử với tự nhiên, người dân nông nghiệp phương Đông do phải phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, dẫn đến coi trọng rồng, đề cao rồng; còn người dân du mục phương Tây do cuộc sống nay đây mai đó, không cố định, có tham vọng chinh phục và chế ngự thiên nhiên đã dẫn đến tâm lý xem rồng là một biểu tượng cho những thế lực xấu xa cần được khuất phục.<br /><br />Cũng cần phải thấy rằng đó là những nét khu biệt mang tính chất chung. Bởi lẽ, sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, khu vực, giữa phương Đông và phương Tây không thể không dẫn đến những ảnh hưởng về quan niệm cũng như cách tạo hình về hình tượng con rồng.<br /><br />Biểu tượng rồng là vật thay thế, là chiếc cầu nối để con người có thể nhận thức và khám phá thế giới. Để diễn đạt biểu tượng, con người đã chọn lọc các bộ phận của nhiều loại động vật xây dựng nên hình tượng rồng - một động vật huyền thoại bí ẩn, hay nói cách khác là con người thông qua nghệ thuật tạo hình để nói lên những ước muốn và khát vọng của mình. <br /><br />Với các dân tộc phương Đông, rồng là biểu tượng của sự cao quý tốt đẹp, thăng hoa và thịnh vượng, rồng xuất hiện là để thể hiện sự vươn tới cái đẹp chân - thiện - mỹ. Với các dân tộc phương Tây, rồng là biểu tượng của sự xấu xa, phá hoại,... tiêu diệt rồng có nghĩa là chiến thắng cái xấu, cái ác, cái tối tăm... qua đó biểu hiện một cách khác về vẻ đẹp của con người.<br /><br />Cả hai cách nhìn nhận về rồng của phương Đông cũng như phương Tây đều góp phần thúc đẩy xã hội, giúp con người nhận thức và khám phá thế giới. (Bùi Thị Thanh Mai)
eddie.chung
10-01-2013, 10:30 AM
<!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><b>Thờ cúng tổ tiên là tấm lòng thành kính thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho cháu con. Thờ cúng tổ tiên chính là toàn bộ các hình thức lễ nghi, cúng bái nhằm bày tỏ lòng tôn kính của các thế hệ sau với những người thuộc thế hệ đầu tiên của một dòng họ, với ông bà, cha mẹ đã qua đời.</b><br /><br />Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu, trên cơ sở niềm tin về sự bất tử của linh hồn sau khi <br /> khuất được về phối hưởng bởi vì người ta cho rằng "đất có Thổ công, sông có Hà bá", chỉ khi có phép của Thổ công hương hồn người đã khuất mới vào được trong nhà.<br /><br />Đồ lễ dâng cúng gia tiên bao giờ cũng phải thanh khiết, không con cháu nào được đụng tới. Cỗ bàn nấu xong, cúng gia tiên trước con cháu mới được ăn sau. Khách tới ăn giỗ có mang đồ lễ để cúng, <br />thường là vàng hương, trầu rượu, trà nến, hoa quả.<br /><br />Quan hệ huyết thống của Việt Nam khá phức tạp. Gia đình chỉ là một đơn vị độc lập tương đối bởi vì giữa các gia đình trên một phạm vi nào đó lại tồn tại một quan hệ ràng buộc mà người ta gọi là họ hàng, dòng tộc. Và theo "quy định" huyết thống ấy, nhiều gia đình sẽ họp thành một ngành, nhiều ngành họp thành một họ. Mỗi họ có một ông Tổ chung.<br /><br />Vì vậy, ngoài ngày giỗ tổ tiên tại gia, người Việt còn có ngày giỗ họ. Trưởng tộc là người được hưởng hương hoả của tổ tiên nên có trách nhiệm phải lo việc làm giỗ họ. Trong ngày giỗ họ, con cháu đều phải góp giỗ. Mỗi họ đều có một cuốn gia phả ghi chép họ tên, chức tước, ngày tháng sinh tử của tổ tông và người trong họ theo thứ tự để mọi người cùng dòng họ "vấn tổ tầm tông".<br /><br />Con cháu trong một họ lập Từ đường để thờ vị Thuỷ tổ. Trên bàn thờ ấy có bài vị Thuỷ tổ dòng họ. Xưa kia bài vị thường được ghi bằng Hán tự, ngày nay có nhiều người dùng chữ Quốc ngữ để đề bài vị. Ngoài thần chủ đồ thờ còn bao gồm đèn nến, hương, hoa, mâm quỳ, mâm bồng, cổ đài rượu... Hoành phi câu đối trên đó ghi lại công đức của tổ tông là đồ không thể thiếu trong gian thờ. Có nhiều họ không xây Từ đường thì xây một đài lộ thiên, dựng bia đá, ghi tên thụy hiệu các tổ tiên. Mỗi khi có giỗ tổ hoặc có tế tự thì cả họ ra đó cúng tế.<br /><br />Chuyện góp giỗ và tổ chức giỗ họ hàng nǎm được chuẩn bị rất chu đáo. Theo phong tục chỉ có đàn ông trong họ trên 18 tuổi mới phải góp giỗ (được gọi là tính theo đinh). Có nhiều họ theo quan niệm "con gái là con người ta" nên không cho con gái dự giỗ họ nhưng con dâu "mới đúng là con mua về" thì được tham dự. Ngày nay, quan niệm ấy đã dần được xoá bỏ. Ngày giỗ họ, không mời khách khứa, chỉ có con cháu trong họ. Các ngày rằm, mồng một, ngày lễ, ngày Tết việc lễ bái sẽ do nhà trưởng họ lo. Đến tháng Chạp thì cả họ lại họp nhau lại như ngày giỗ Tổ.<br /><br />Đã bao thế kỷ trôi qua, cung cách và quan niệm thờ phụng tổ tiên của người Việt Nam xét theo góc độ nào đó đã có nhiều thay đổi nhưng ý nghĩa lớn nhất thì vẫn giữ nguyên. Người Việt Nam coi việc thờ phụng tổ tiên là một trong những nguyên tắc đạo đức làm người. Đó là hình thức thể hiện sự hiếu thuận và lòng biết ơn của con cháu đối với các bậc sinh thành.<br />.................................................. ..<br /><b><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro-->Tại sao cúng giao thừa ngoài trời?<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--></b><br /><br /><b>Giao thừa là gì? Theo Từ điển Hán Việt của Ðào Duy Anh nghĩa là cũ giao lại, mới đón lấy. Chính vì ý nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ, mới này, có lễ trừ tịch.</b><br /><br /><b>* Lễ trừ tịch</b><br /><br />Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt đầu qua năm mới. Vào lúc này, dân chúng Việt Nam theo cổ lệ có làm lễ trừ tịch. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ để "khu trừ ma quỷ", do đó có từ "trừ tịch". Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ giao thừa.<br /><br /><b>* Cúng ai trong lễ giao thừa?</b><br /><br />Tục ta tin rằng, mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới. Lễ giao thừa được cúng ở ngoài trời là bởi vì các cụ xưa hình dung trong phút cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã (nhưng mắt trần ta không nhìn thấy được), thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì.<br /><br />Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà trời đã cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà.<br /><br /><b>* Sửa lễ giao thừa</b><br /><br />Người ta cúng giao thừa tại các đình, miếu, các văn chỉ trong xóm cũng như tại các tư gia. Bàn thờ giao thừa được thiết lập ở giữa trời. Một chiếc hương án được kê ra, trên có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm: chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã, đôi khi có thêm chiếc mũ của Ðại Vương hành khiển.<br /><br />Ðến giờ phút trừ tịch, chuông trống vang lên, người chủ ra khấu lễ, rồi mọi người kế đó lễ theo, thành tâm cầu xin vị tân vương hành khiển phù hộ độ trì cho một năm nhiều may mắn. Các chùa chiền cũng cúng giao thừa nhưng lễ vật là đồ chay. Ngày nay, ở các tư gia người ta vẫn cúng giao thừa với sự thành kính như xưa nhưng bàn thờ thì giản tiện hơn, thường đặt ở ngoài sân hay trước cửa nhà.<br /><br /><b>* Lễ cúng Thổ Công</b><br /><br />Sau khi cúng giao thừa xong, các gia chủ cũng khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà. Lễ vật cũng tương tự như lễ cúng giao thừa.<br /><br /><b>* Mấy tục lệ trong đêm trừ tịch</b><br /><br />Sau khi làm lễ giao thừa, các cụ ta có những tục lệ mà cho đến nay, từ thôn quê đến thành thị, vẫn còn nhiều người tôn trọng thực hiện:<br /><b><br />- Lễ chùa, đình, đền:</b> Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầu phúc, cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình và nhân dịp này người ta thường xin quẻ thẻ đầu năm.<br /><br /><b>- Kén hướng xuất hành:</b> Khi đi lễ, người ta kén giờ và hướng xuất hành, đi đúng hướng, đúng giờ để gặp may mắn quanh năm.<br /><br /><b>- Hái lộc:</b> Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong người ta có tục hái trước cửa đình, cửa đền một cành cây gọi là cành lộc mang về ngụ ý là "lấy lộc" của Trời đất Thần Phật ban cho. Cành lộc này được mang về cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô.<br /><br /><b>- Hương lộc: </b>Có nhiều người thay vì hái cành lộc lại xin lộc tại các đình, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm và bình hương bàn thờ nhà mình.Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt được lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật, Thánh phù hộ cho được phát đạt quanh năm.<br /><br /><b>- Xông nhà: </b>Thường người ta kén một người "dễ vía" trong gia đình ra đi từ trước giờ trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch thì xin hương lộc hoặc hái cành lộc ở đình chùa mang về. Lúc trở về đã sang năm mới và người này sẽ tự "xông nhà" cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Nếu không có người nhà dễ vía, người ta phải nhờ người khác tốt vía để sớm ngày mồng một đến xông nhà trước khi có khách tới chúc Tết, để người này đem lại sự may mắn, dễ dãi cho gia đình. <br />.................................................. .................<br /><!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>Tục xông đất</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />Tục lệ xông đất đã có lâu đời ở nước ta. Người dân Việt Nam quan niệm ngày mồng Một là ngày đầu của một năm. Họ cho rằng vào ngày mồng Một, nếu mọi việc xảy ra suôn sẻ, mau mắn thì cả năm cũng sẽ được tốt lành thuận lợi. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng.<br /><br />Cho nên cứ cuối một năm, mọi người có ý tìm xem những người nào vui vẻ, linh hoạt, đạo đức, và thành công trong bà con hay láng giềng để nhờ sang thăm. Tục này gọi là tục xông đất. Người khách đến xông đất phải đến thăm sáng sớm ngày mùng Một (vì muốn là người khách đầu tiên), mang theo quà biếu như trái cây, bánh mứt, và tiền lì xì cho trẻ con trong nhà. Chủ nhà, do đã sắp đặt trước, sẽ tiếp đón niềm nở và nhận những lời chúc tốt lành.<br /><br />Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc Tết chừng năm mười phút chứ không ở lại lâu, hầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt. Người đi xông đất xong có niềm vui vì đã làm được việc phước. Người được xông đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ may mắn trong suốt năm tới.<br />.................................................. ........<br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b><!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro-->Tục tảo mộ<!--colorc--></span><!--/colorc--></b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Phong tục thuần tuý Việt Nam trong dịp Tết là tục tảo mộ cuối năm hay vào những ngày đầu năm mới. Vào những ngày cuối năm hay đầu năm, các gia đình thường tụ họp ở nghĩa địa để sửa sang, quét dọn phần mộ của tổ tiên và những thân quyến quá cố. Họ đem hương hoa lễ vật bày ở mộ và "cung thỉnh" hương hồn những người quá vãng về nhà ăn Tết cùng con cháu...<br /><br />Tục tảo mộ Tết này, trước các thời kỳ chiến tranh vẫn còn được duy trì nhiều nơi ở miền Bắc và nhiều tỉnh ở miền Trung như ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa v.v... Theo sách "đại Nam thống Chí", nhiều nơi ở miền Bắc nhất là quanh vùng Hà Nội còn có tục cả họ (nghĩa là tất cả mọi người trong cùng một gia tộc) tụ họp nhau lại để cùng đi tảo mộ tổ tiên và thân quyến quá cố, vào những ngày trước Tết... Có nơi thì đi thăm mộ vào những ngày đầu năm. Tục tảo mộ Tết này được gọi là Lễ Tổ Lạp.<br /><br />Tục tảo mộ Tết này cho thấy ta khác với Tàu, vì chính lễ Thanh Minh tảo mộ của Trung Hoa là vào tháng Ba âm lịch, do đó thơ Kiều mới có câu: "Thanh minh trong tiết tháng Ba/ Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh..."<br />.................................................. .....................<br /><b><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro-->Tục hoá vàng và lễ khai hạ<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--></b><br /><br /><b>"Hoá vàng" là đốt các đồ "vàng mã" mà người ta bày cúng trên bàn thờ gia tiên trong dịp Tết.</b><br /><br />"Vàng mã" thường là: giấy vàng, giấy bạc (là một thứ tiền giả vàng và bạc lá làm bằng giấy) vàng thoi (những thoi vàng giả làm bằng giấy), bạc thoi... Người ta tin rằng nếu đốt các đồ vàng mã này đi thì người chết ở thế giới bên kia mới nhận được những lễ vật của mình dâng cúng. Có người còn cẩn thận đổ một chén rượu cúng vào đống tro vàng mã để những đồ cúng không bị thất lạc khi chuyển cho người nhận! Cẩn thận hơn, người ta còn hơ các cây mía tươi trên ngọn lửa hóa vàng để các cụ (tức Tổ tiên) có gậy chống về... âm phủ!<br /><br />Ngày hoá vàng không nhất định. Thường thì người ta hoá vàng vào ngày mồng 3 Tết, có nhà để đến mồng 7 hay mồng 10. Sau ngày lễ người đã khuất về bên kia thế giới, mọi sinh hoạt trong nhà dần dần trở lại bình thường. Lễ hạ nêu thì được cử hành vào ngày khai hạ mồng 7 tháng Giêng âm lịch. Sau ngày này thì xem như hết Tết.
<b>"Nhàn cư vi bất thiện". SPAM 1 bài nữa nào.</b><br /><br /><b><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Cúng, Khấn, Vái, và Lạy<!--sizec--></span><!--/sizec--></b><br /><br /><b>1. Định nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy</b><br /><br /><b>a. Cúng</b><br /><br />Khi có giỗ Tết, gia chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ bàn, chén bát, đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu kính, biết ơn, và cầu phước lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy, và vái.<br /><br /><b>b. Khấn</b><br /><br />Khấn là lời cầu khẩn lầm rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ liên quan đến các chi tiết về ngày tháng năm, nơi chốn, mục đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời hứa.<br /><br />Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính cẩn. Người ta thường nói khấn vái là vậy. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng từ khấn vái trong câu “Lầm rầm khấn vái nhỏ to,/ Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.” (câu 95-96)<br /><br /><b>c. Vái</b><br /><br />Vái thường được áp dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái.<br /><br /><b>d. Lạy </b> <br /><br />Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác đối với người trên hay người quá cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý nghĩa khác nhau.<br /><br /><i><b>- Thế lạy của đàn ông </b></i> <br /><br />Thế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và giơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy. Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.<br /><br />Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa học và vững vàng. Sở dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn bị đứng lên cũng vậy. Sở dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.<br /><br />Thế lạy phủ phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng thời quì hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập luyện hằng ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh thoảng quí cụ mới đi lễ chùa, phải cẩn thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng bằng.<br /><br /><i><b>- Thế Lạy Của Đàn Bà </b></i><br /><br />Thế lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết. Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.<br /><br />Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.<br /><br />Thế lạy của đàn ông có vẻ hung dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển chuyển tha thướt, tượng trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất tiện là khi mặc âu phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao niên còn áp dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.<br /><br />Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền thống rất có ý nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành khẩn vừa trang nghiêm trong lúc cúng tổ tiên. Nếu muốn giữ phong tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh niên phải có lòng tự nguyện. Muốn áp dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập dượt lâu mới nhuần nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi việc sẽ thành.<br /><br /><b>2 . Ý nghĩa của Lạy và Vái</b><br /><br />Số lần lạy và vái đều mang một ý nghĩa rất đặc biệt. Sau đây chúng tôi xin trình bày về ý nghĩa của vái và lạy. Đây là phong tục đặc biệt của Việt Nam ta mà người Tàu không có tục lệ này. Khi cúng, người Tàu chỉ lạy 3 lạy hay vái 3 vái mà thôi.<br /><br /><b>a. Ý nghĩa của 2 Lạy và 2 Vái</b><br /><br />Hai lạy dùng để áp dụng cho người sống như trong trường hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng điếu, nếu là vai dưới của người quá cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.<br /><br />Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính cẩn, chứ không có ý nghĩa nào khác. Nhưng trong trường hợp người quá cố còn để trong quan tài tại nhà quàn, các người đến phúng điếu, nếu là vai trên của người quá cố như các bậc cao niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan tài đã được hạ huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.<br /><br />Theo nguyên lý âm dương, khi chưa chôn, người quá cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng trưng cho âm dương nhị khí hòa hợp trên dương thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.<br /><br /><b>b. Ý nghĩa của 3 Lạy và 3 Vái</b><br /><br />Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng trưng cho Phật, Pháp, và Tăng. Phật ở đây là giác, tức là giác ngộ, sang suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong sạch, thanh tịnh, không bợn nhơ. Đây là nói về nguyên tắc phải theo. Tuy nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.<br /><br />Trong trường hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ âu phục, nếu cảm thấy khó khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.<br /><br /><b>c. Ý nghĩa của 4 Lạy và 4 Vái</b><br /><br />Bốn lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần. Bốn lạy tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú ngụ.<br /><br />Bốn vái dùng để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp dụng thế lạy.<br /><br /><b>d.Ý nghĩa của 5 Lạy và 5 Vái</b><br /><br />Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng trưng cho trung cung tức là hành thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý kiến cho rằng 5 lạy tượng trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng Vương, quí vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng Vương là vị vua khai sáng giống nòi Việt.<br /><br />Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì giờ để mỗi người lạy 5 lạy.<br />(nguồn: không nhớ. viết tạm là ăn cắp vậy)
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.