PDA

View Full Version : HUẾ - PHÁ TAM GIANG


infovt
25-03-2013, 02:28 PM
<b>NHỮNG LÀNG NGHỀ BÊN PHÁ TAM GIANG </b><br /><br />Phá Tam Giang, nơi hội tụ của 3 con sông là: sông Hương, sông Bồ và sông Ô Lâu trước khi đổ ra biển Đông theo hai cửa Thuận An và Tư Hiền từ lâu vốn là nguồn cảm hứng cho thi ca, nhạc họa. Không những thế, trên những vùng đất trù phú này nằm hai bên phá này, các làng nghề ra đời góp phần làm cho nền văn hóa của đất Cố đô thêm phần đặc sắc. Bắt đầu từ Thuận An, nơi con sông Hương hòa mình vào biển rộng, chúng tôi làm một cuộc viễn du xuôi theo dòng Hương, ngược về ngã ba Sình để viếng thăm những làng nghề nằm ven sông Hương, sông Bồ yêu thương. <br />Qua khu phố chợ Bao Vinh một thời vang tiếng, nơi mà từ bao đời nay, cứ mỗi độ xuân về lại trở thành nơi tề tựu tấp nập, đông vui của người dân các xã: Hương Vinh, Hương Toàn, Hương Phong (Hương Trà); Quảng Thành (Quảng Điền); Phú Mậu (Phú Vang)… chúng tôi đến với thôn Địa Linh (Hương Vinh, Hương Trà), vùng đất nổi tiếng bởi là địa linh nhân kiệt. Đặt chân lên vùng đất một thời được gọi bằng cái tên yêu mến là làng chạm cẩn, dường như, tim mình cũng rộn ràng hơn bởi âm vang nghề xưa đang giục dã đâu đó. Mấy năm trở lại đây, được sự quan tâm của chính quyền địa phương, nghề chạm cẩn đang dần hồi sinh. Khắp làng, bản hợp xướng chạm gõ “lách cách” mộc mạc của những đường kỹ hà đang nảy nở dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân vang lên. Dưới bàn tay tài hoa của những nghệ nhân vô danh kia, những bức tượng gỗ trở nên sống động, có hồn hơn. Dạo một vòng quanh làng, mới biết, làng không chỉ có nghề chạm cẩn mà còn có một nghề truyền thống khác, đó là nghề làm bài tới. Bình thường chỉ một vài nhà làm đi bán ở các chợ lẻ. Nhưng, cứ mỗi độ mùa xuân ngấp nghé đầu ngõ là không ai bảo ai, cả làng lại bày giấy, con dấu, máy in, máy cắt… để làm bài tới, chuẩn bị cho một trò chơi dân gian không thể thiếu trong những ngày xuân. Cụ Nguyễn Thị Hoa, năm nay đã 82 tuổi, cười móm mém: “Tui cũng không biết nó có nguồn gốc ở mô. Chỉ thấy đời ôn mệ, cha mạ làm thì mình cũng làm theo và truyền lại cho con cái”. Nói rồi, bỗng dưng cụ lại tần ngần, giọng đầy nuối tiếc: “Đây là cái nghề cũng lắm công phu mà thu nhập thì rất ít. Làm chủ yếu cho vui để giữ nghề của tổ tông. Tụi trẻ bữa ni chẳng chịu khó như tụi tui hồi đó. Ít năm nữa nghề ni mai một thì cũng tiếc lắm!”. Chúng tôi từ giã Địa Linh, mang theo cả câu nói chứa chất bao nỗi niềm, tâm huyết của cụ Hoa. Mong rằng, năm sau, năm sau nữa, hội ngộ với chúng tôi vẫn là Địa Linh của hôm nay, một ngôi làng với những nghề truyền thống không bao giờ mai một. <br />Qua khỏi thôn Địa Linh, về làng Thủy Tú. Bởi sông Bồ mang nặng yêu thương nên cứ miệt mài bồi đắp phù sa cho những vùng đất mình đi qua như một sự hiến dâng lặng lẽ. Cũng chính nhờ bãi sông ăm ắp phù sa màu mỡ ấy mà làng Thủy Tú trở thành làng gạch ngói, bao năm tô màu đỏ tươi cho vẻ đẹp của phố xá. Không chỉ là một nghề thuần tuý, nghề làm gạch ở Thủy Tú còn được xem là một nghề sống chết của dân làng bởi phần lớn người dân nơi đây đều sống dựa vào nghề ấy, từ những bà mẹ nông dân chân lấm tay bùn đến những đứa trẻ lớn lên trong gia đình nghèo khổ muốn kiếm thêm chút thu nhập để đến trường. <br />Qua hết xã Hương Vinh, sông Bồ lại uốn một đường cánh cung nhẹ nhàng trước khi đi vào địa phận xã Hương Toàn. Trên con đường làng mơ màng sương sớm như vẫn còn cuộn tròn trong một giấc chiêm bao êm ái, những cô thôn nữ đang gánh bún bán dạo. Mùa xuân ở thôn quê không nhộn nhịp và ồn ào như ở chốn thị thành, nó bình dị và trong trẻo đến lạ thường, nó khiến cho ta có cảm giác không uống rượu mà cũng như say cùng với đất trời đang xuân. Khi mọi giác quan bắt đầu mở căng ra, mũi ngửi được mùi thơm của nếp; tai nghe được tiếng giã gạo rộn ràng; mắt nhìn thấy những ngôi nhà khuất sau bụi tre cao vút, có nghĩa là chúng ta đã bước chân đến với làng Vân Cù, ngôi làng có bề dày lịch sử trên 500 năm, nổi tiếng bởi nghề làm bún. Bất cứ đi đâu, về đâu, người dân xứ Huế vẫn có những vọng niệm ngọt ngào về món ăn truyền thống quê mình. Và bún Vân Cù luôn được nhớ đến, trân trọng như là một nét văn hoá ẩm thực dân dã mà tinh tuý của quê nhà. Dù đi đâu xa, những ngày tết đến hay ngày giỗ của Bà Bún, người dân Vân Cù lại về quê, thưởng thức hương vị mặn mà, thơm ngon, tinh khiết của bát bún quê hương. Hiếm có làng nghề truyền thống nào lại có một sức sống bền bỉ làng bún Vân Cù. Làng có 312 hộ thì đã có 200 hộ sống bằng nghề làm bún, thật không hổ danh là một làng nghề đi vào lịch sử. <br />“Ơi o bán cốm hai lu <br />Có về An Thuận cho tui về cùng” <br />Men theo câu ca này, chúng tôi tìm về với làng An Thuận. Chỉ cần nghe câu hát ngọt ngào văng vẳng, cũng đủ để chúng ta cảm nhận được hương vị thanh tao mà đậm đà của đặc sản vùng đất này: cốm dẹp. Không như cốm làng Vòng (Hà Nội), cốm An Thuận có nét đặc trưng riêng, cũng chế biến công phu, cũng chắt lọc cái hương vị tinh tế của trời đất nội cỏ An Nam, cũng mang cái vị tinh khiết của lúa nếp đang kỳ ngậm sữa, nhưng cốm dẹp An Thuận còn có thêm cái vị gừng cay nồng đặc trưng của xứ Huế, cái thơm bùi của mè, đậu phụng và cả cái tâm thơm thảo người dân vùng chiêm trũng nghèo nàn. Cả làng làm cốm nhưng không ai biết nghề cốm có nguồn gốc từ đâu. Phải vất vả lắm chúng tôi mới tìm đến được nhà cụ Nguyễn Xuân Thành, một người làm cốm lâu năm. Cụ Thành kể lại: Đời vua Hàm Nghi, ông cố của cụ là ông Nguyễn Xuân Chiêm, làm quan ở đất Quảng Ninh, kết hôn cùng bà Võ Thị Cẩm rồi cùng nhau về Huế. Vốn con nhà có nghề làm cốm, lúc vào Huế, bà Cẩm mang theo cả những bí quyết nghề cốm. Với tài trí và bàn tay khéo léo của mình, bà chế biến thành món ăn thích hợp với khẩu vị của người Huế, vừa thanh đạm, tinh khiết lại vừa ngọt bùi khó quên. Nếp thơm nguyên vỏ đem luộc lên rồi ngâm nước. Sau 3 ngày đem ra rang chín, giã dẹp, vất trấu, lấy nguyên hạt rồi lại tiếp tục rang hạt nếp đến khi giòn và nở bung lên. Công đoạn cuối cùng là bỏ nếp đã rang giòn vào khuôn và cho đường cát sên vàng cùng mè, gừng, đậu phụng vào. Sau khi chế biến, bà đem dâng lên vua, được vua khen thưởng, bà liền về phổ biến cho người dân trong làng, từ đó, nghề làm cốm dẹp trở thành nghề truyền thống của làng. Cũng đã khá lâu rồi, người dân An Thuận không còn sống nhờ vào cái nghề làm cốm dẹp. Thế nhưng, nghề làm cốm không vì thế mà dần mai một. Với các o, các mệ ở vùng đất này, đã là con gái An Thuận là phải biết làm cốm. Cứ mỗi độ xuân về, nhà nhà lại bắt đầu chuẩn bị cho một khuôn cốm mới ra lò. Trong cái se se lạnh của những ngày đầu xuân, trong không khí ấm áp của buổi gặp mặt đầu năm, không có gì thú vị bằng vừa tâm sự vừa uống một ly trà thật thơm, thật nóng và thưởng thức cái vị tinh khiết, nồng ấm của những miếng cốm giòn tan. <br />Trước khi về đến An Thuận, sông Bồ dịu dàng và lãng mạn như một bản slow hiền hòa chảy qua những vườn quýt ngọt ngào đắp đầy phù sa của làng Hương Cần, qua những thửa hoa màu nằm ven bờ sông Bồ của xã Quảng Thọ (Quảng Điền) và yên ả đến với làng Bao La (Quảng Phú, Quảng Điền), một ngôi làng nổi tiếng bởi nghề đan lát tre nứa từ thuở xa xưa. Ở ngôi làng này, đầu làng xóm Chùa, cuối làng xóm Chợ, tất cả người dân trong làng đều biết đan giần, sàng, mủng, nia, rổ, rá… Nhưng theo ý các cụ Tổ, mỗi xóm giữ nghề gia truyền xóm mình để tránh cạnh tranh sinh mất hòa khí. Thế nên xóm Chùa chuyên đan rá; xóm Ðình đan mủng, trẹt; xóm Hóp đan rổ; xóm Ðông và xóm Cầu đan nia; xóm Chợ đan sàng, giần. <br />Thúng mủng Bao La đem ra đựng bột, <br />Chiếu Bình Ðịnh tốt lắm ai ơi. <br />Tạm tiền mua lấy vài đôi, <br />Dành khi hiếu sự trải côi giường Lào <br />Trú mưa ở nhà chị Nguyễn Thị Thịnh, chúng tôi được nghe chị hát câu hát ấy trong lúc đang thoăn thoắt đôi tay với chiếc nia gần hoàn tất. Cũng từ chị Thịnh, chúng tôi được biết, làng Bao La gồm có Bao La trong và Bao La Ngoài. Làng Bao La Ngoài tức là thôn Thủy Lập hay còn gọi là làng thúng mủng. Làng có 380 hộ, hiện nay, cả 380 hộ đều gìn giữ nghề đan lát truyền thống. Hơn trăm năm trước, một số bà con trong làng Bao La gồng gánh gia đình theo đuôi con cá ra ngụ ven phá Tam Giang và đứng chân trên thôn Thủy Lập này. Bà con sống trên đất mới tuy vẫn cày cấy trên đất cát bạch sa, nhưng thêm nghề đánh cá, tôm, cua trong đầm phá và lưu giữ nghề đan lát mây tre truyền thống. Mới đầu, họ vẫn đan giần, sàng, rổ, rá như trong làng cũ, sau vì nhu cầu sinh sống ven đầm phá, bà con chuyển sang đan thúng, mủng. Muốn đan được một cái thúng không phải là đơn giản, người dân phải lặn lội qua Phò Trạch, An Lỗ mua lồ ô. Cưa lấy đoạn gộc vót vành tròn lót trong, vót vành ngoài lép, đoạn giữa chẻ nan vót láng đan mên, khúc đọt chẻ mảnh hơn, nhỏ hơn để đát thành miệng thúng. Lận vành phải người lớn quen tay mới làm được. Nức vành thúng phải nức lật đôi, thúng nhỏ nức dày 90 nức lật, thúng lớn thì nức trăm hai, trăm ba nức lật, cái thúng mới chắc nụi. Người làng Bao La xưa có truyền thống gã con gái cho các chàng lực điền trong thôn vì không muốn nghề đan lát may tre bị thất truyền. Ngoài ra, những chàng rể được chọn khi quăng mạnh thúng phải bung vành ra. Hỏi ra mới biết, với hành động đó, các cụ muốn đánh giá tài đan lát của các chàng rể ở độ khít khao, chắc bền của tấm mên. <br />Còn rất nhiều, rất nhiều làng nghề bên phá Tam Giang mà mổi làng đều có một nét đặt trưng riêng, không lẫn vào đâu nên du khách khi một lần ghé qua sẽ nhớ mãi. Và để góp phần giới thiệu các làng nghề này đến với du khác tham quan Huế hoặc du khách lưu trú dài ngày. Abalone Resort &amp; Spa đóng tại thị trấn Thuận An đã khôi phục các mô hình làng nghề để giới thiệu tại Khu Nghỉ Mát hoặc tổ chức cho du khách tham quan các điểm thực tế. Với các tour du lịch này, du khách sẽ có cơ hội tiếp cận các làng nghề trên phá Tam Giang. Có thêm cơ hội khám phá, tìm hiểu tất cả những đặt trưng của các làng nghề truyền thống của vùng đất cố đô. <br /><br /><br />Trần Quang Hào<br />ww.huetourist.info