PDA

View Full Version : Huế - Zoom cận cảnh!


thienanfurniture
22-04-2013, 10:29 AM
Dạ thưa,<br />Từ lâu du khách đến Huế, bởi Huế là địa danh duy nhất, nổi bật nhất đã bảo tồn gần như nguyên vẹn các công trình lăng tẩm, đền đài, văn hoá của Việt Nam, dấu ấn văn hoá Cung đình – các quần thể kiến trúc, văn hoá này đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá thế giới.<br />Thành phố văn hoá di sản nhân loại soi mình bên dòng sông Hương thơ mộng, thấp thoáng bóng dáng nhà vườn với màu xanh mướt xuyên suốt bốn mùa Xuân - Hạ - Thu – Đông, và bên trong sự hào quang văn hoá, phong cảnh hữu tình thơ mộng, thanh lịch hiếm có là sự tồn tại hiển nhiên của hàng trăm chùa chiền, mang nhiều dáng vẻ khác nhau, ngày đêm phảng phất lừng thơm hương trầm và tiếng chuông chùa thả nhịp êm ái vào không gian tĩnh lặng thâu suốt năm canh…<br />Tiếng chuông chùa đã ngân lên từ chùa Thiên Mụ, Từ Đàm, Báo Quốc, Từ Hiếu…rồi tiếng chuông ngân lên từ Tháp chuông Hoà Bình trên núi Ngũ Phong - nơi đền thờ Vua Trần Nhân Tông và Huyền Trân Công Chúa toạ lạc… Gần như là sự riêng biệt để hoà chung tạo nên sự êm ả, thanh tao, sâu lắng đến lạ lùng của Huế…<br /> Đến với Huế, du khách được hoà quyện với nốt trầm trong cuộc sống để được bay bổng trong sự cân bằng, yên tĩnh, thanh thản sau những phút giây đời thường căng thẳng...<br />Dòng thông tin trong chủ đề này hi vọng sẽ giúp Du khách tìm đến Huế xưa và Huế nay có được cảm giác thú vị, bất ngờ và đáng nhớ khi mở lòng về với Huế thương yêu…Cũng xin nhận được những đóng góp của quý bạn để Huế trở nên thơ, nên thực hơn... <br /><br />Bài tiếp: <b>Xứ Thuận Hoá</b>

thanhlong_company
22-04-2013, 10:29 AM
Cái chi ri trời ơi - đây là zoom cận cảnh đây hả? <br /><br />Viết ri thì tủi thân Huế em quá đi.<br /><br />Má bắt con chùi gương đeo mắt mấy bận rồi đó. Ai đỡ tui với. Té!

dtt
22-04-2013, 10:29 AM
<!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><!--sizeo:7--><span style="font-size:36pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>XỨ THUẬN HOÁ</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>1. Từ bình minh lịch sử</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Sách ghi chép lịch sử của Việt Nam xuất hiện rất muộn, lại bắt đầu bằng những truyện truyền kỳ, huyền thoại. Người ta thường nhắc đến Đỗ Thiện, làm quan đời Lý Nhân Tông (1072-1128) và Lý Thần Tông (1028-1038) như một sử gia tiên phong, nhưng cả hành trạng lẫn tác phẩm của ông đều thất truyền. Lê Trắc trong An Nam chí lược (viết khoảng đầu thế kỷ XV bên Trung Quốc) cho biết dưới đời Trần Thái Tông (1225-1258) có Trần Tấn, làm chức tả tàng thư, sau thăng hàn trưởng, viết Việt chí; nhưng nay chúng ta cũng không biết gì về con người ấy và cuốn sách ấy. Ngay cả bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu (1229-?) cũng chẳng còn, chỉ để lại dấu vết trong bộ Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên soạn năm 1479.<br />Đời xa người khuất, các sử gia từ thế kỉ XV trở về sau chỉ còn dựa vào truyền thuyết và thư tịch Trung Quốc khi nói về thời thượng cổ Việt Nam... Sách Bắc sử xuất hiện tương đối sớm, nhưng những tác phẩm như Thượng thư, Xuân thu, Tả truyện... đời Chu không có liên quan gì đến Việt Nam. Bộ sử giá trị nhất là Sử kí của Tư Mã Thiên (145-86 TCN) đời Tây Hán (202-2 TCN), rồi đến Tiền Hán thư của Ban Cố (32-92), và một số tác phẩm khác như Giao Châu kí.... có đề cập ít nhiều đến cõi đất phía Nam. Theo đó, tỉnh Thừa Thiên Huế thuộc địa bàn nước Việt Thường cổ đại. Một truyền thuyết kể rằng năm Tân Mão (1109 TCN) đời Chu Thanh vương, nước Việt Thường ở phía Nam châu Giao Chỉ sang cống chim trỉ trắng. Sứ giả nói: &quot;Trời không bão lớn mưa dầm, biển không nổi sóng đã ba năm rồi, biết là Trung Quốc có bậc thánh nhân, cho nên tìm đến vậy&quot;. Phải qua ba lần thông ngôn, họ mới hiểu được nhau. Chu công Cơ Đán bén chế ra &quot;xe chỉ nam&quot; để tiễn đoàn sứ giả ấy trở về...<br />Một số tác giả tiên phong như Lí Tế Xuyên, Trần Thế Pháp chép lại truyện này như một huyền tích trong các sách truyền kì, và Ngô Sĩ Liên là người đầu tiên chính thức đưa vào phần Ngoại kỉ của bộ Đại Việt sử kí toàn thư như một hiện thực, rồi cho rằng địa bàn Việt Thường kéo dài ven biển từ Hoành Sơn đến Quảng Ngãi, lại ghép làm một bộ của nước Văn Lang do các vua Hùng khai sáng. Nhưng nếu tin vào truyền thuyết trên thì Việt Thường là một quốc gia độc lập, không liên quan gì với các vua Hùng. Phương chi thời ấy, nhà Chu chỉ làm chủ vùng lưu vực Kinh-Vị, cách nước ta hàng vạn dặm sông rộng núi cao, không thể có một cuộc tiếp xúc ngoại giao như thế....<br />Theo cứ liệu khảo cổ học, nếu vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (Thanh-Nghệ-Tĩnh) đã được đào bới tìm tòi khá lâu, khá kỹ, đem đến những kết quả chắc chắn về sự hình thành và phát triển của các nền văn hoá xa xưa, thì dải đất phía Nam Hoành Sơn còn vắng vẻ. Nói thế không phải là phủ nhận hoàn toàn các công trình phát hiện và khai quật lẻ tẻ của một số nhà khảo cổ học, trong đó có Madeleine Colani, người Pháp (1). Vài di chỉ được đưa ra ánh sáng, quan trọng nhất là Bàu Tró (gần Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình) và Sa Huỳnh (bờ biển tỉnh Quảng Ngãi). Hiện nay, việc thăm dò vẫn được tiến hành, nhưng chưa có một tổ chức quy mộ, phát hiện dăm ba di vật Chàm (mộ chum Cồn Ràng ở xã Hương Chử huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế; môk vò Vạn Xuân, Thành phố Huế), Việt (trống đồng Phù Lưu, tỉnh Quảng Bình, trống đồng Phong Mĩ, tỉnh Thừa Thiên Huế)....<br />Trước kia, các nhà khảo cổ học đã xác định di chỉ Bàu Tró nằm vào hậu kì thời đại đá mới, bắt nguồn từ văn hoá Quỳnh Văn (2) mà phát triển lên, còn di chỉ Sa Huỳnh thì thuộc sơ kì thời đại đồ sắt của cư dân nông nghiệp ven biển, tồn tại từ giữa thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên đến đầu Công nguyên, nhưng khác hẳn văn hoá Đông Sơn. Gần đây, một số địa điểm khác được phát hiện thêm giúp người ta tạm đưa ra giả thuyết:<br />a. Có một thời kì biển tiến, vùng đồng bằng bị chìm ngập dưới đại dương,con người phảo dồn lên cư trú theo chân núi. Họ sống chủ yếu bằng săn bắt và hái lượm, trồng rau đậu với công cụ đá thô sơ. Do môi trường sinh hoạt khó khăn nên nhân số không phát triển, nhưng các điểm cư trú phân bố khá gần nhau. Thời gian tồn tại của họ cách nay khoảng trên mươi nghìn năm... Rồi nước biển rút dần, vào thời điểm cách nay khoảng bảy nghìn năm, con người rời núi non, tràn xuống chiếm lĩnh đồng bằng. Môi trường sống đã dễ chịu hơn trước, thức ăn khá dồi dào, ngoài dã thú và rau đậu, còn có cá tôm, nhất là sò hến nhiều kể xiết. Công cụ đá được hoàn thiện một bước, mài nhưng chưa hết dấu ghè đẽo; đồ gốm làm bằng bàn xoay. Tuy vậy, dấu vết cây lúa vẫn chưa được phát hiện.<br />b. Chủ nhân của vùng đất này là ai? Chưa thể có một kết luận dứt khoát, vì các nhà khảo cổ học không tìm thấy di cốt ở những điểm khai quật. Xét các di vật, người ta nhận thấy vùng Bàu Tró- từ núi đến biển- là một ranh giới của tình hình phân bố khảo cổ học. Từ Bàu Tró trở ra Bắc, các di vật mang sắc thái văn hoá Đông Sơn càng mạnh dần; trái lại, từ Bàu Tró đi vào Nam thì mang di vật mang sắc thái văn hoá Sa Huỳnh càng đậm nét. Nhưng nhìn chung, sắc thái văn hoá Đông Sơn bao giờ cũng chiếm ưu thế, trội hơn và sớm hơn. Hiện tượng ấy có ý nghĩa gì? Phải chăng cư dân ở đây vốn từ bên ngoài Hoành Sơn di chuyển đến, tiếp thu thêm thành tựu của nền văn hoá bên trong Hải Vân? Họ thuộc tộc người Lạc Việt, nên về sau mới trở thành một bộ phận của nước Văn Lang do tổ tiên người Việt Nam làm chủ. Các di tích, di vật Champa nơi đây hầu hết thuộc thời kỳ muộn, thế kỷ IV-XIV.<br />Trở lại với cứ liệu thư tịch học, trong Sử kí, Tư Mã Thiên nói nhà Tần năm thứ 33 (214 TCN) đánh chiếm đất Lục Lương (?), đặt ba quận Quế Lâm, Tượng, Nam Hải. Hoài Nam vương Lưu An kể thêm rằng người Việt đều vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Khi nhà Tần suy yếu, viên uý quận Nam Hải là Triệu Đà kiêm tính cả Quế Lâm và Tượng, dựng nước Nam Việt (206 TCN), mới dùng thủ đoạn nham hiểm xâm chiếm Âu Lạc (180-179 TCN), chia làm hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân, mỗi quận bổ một viên sứ giả trông coi.<br />Năm 111 TCN, nhà Hán chinh phục Nam Việt, hai sứ giả Cửu Chân, Giao Chỉ đem trâu bò, rượu và số hộ khẩu đến Hợp Phố dâng nộp, Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức bèn cho họ làm thái thú hai quận ấy, các Lạc tướng vẫn cai quản dân như cũ... Vậy, vùng phía Nam Hoành Sơn vẫn nằm ngoài sự kiểm soát của nhà Triệu, nhà Hán. Không biết đích xác thời điểm xuất hiện cái tên quận Nhật Nam, mặc dù học giả Aurosseau dẫn Thuý kinh chú của Lệ Đạo Nguyên nói năm Nguyên Đỉnh 6 (110 TCN) đời Hán Vũ Đế đặt quận Nhật Nam, quận trị là Tây Quyển (3), vì mãi đến khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (39-43), Mã Viện cũng chỉ tiến vào đến huyện Cư Phong (Thanh Hoá) là chặng cuối; tì tướng của y có thể vượt xa hơn chút ít (4), nhưng chắc cũng chưa vào đến sông Gianh.<br />Chúng ta có thể nghĩ rằng trong một thời gian dài, vùng này nằm trong tình trạng tự do, không thuộc chính quyền nào quản lý. Nhân dân Giao Chỉ và Cửu Chân khốn khổ vì bọn thống trị bóc lột, nhiều người bỏ quê nhà, dần dà tìm vào đây sinh nhai lập nghiệp cùng dân bản địa. Đến một lúc nào đó, bọn đô hộ thấy ra, bèn với tay tới, thế là quận Nhật Nam ra đời. Sách sử nhà Hán ghi quận này gồm 15400 hộ, 69485 khẩu, chưa bằng nửa Cửu Chân (35743 hộ, 166013 khẩu) và chỉ bằng một phần sáu Giao Chỉ (92440 hộ, 746237 khẩu). Toàn quận chia làm năm huyện: Tây Quyển (Bắc Quảng Bình, lưu vực sông Gianh), Tỉ Ảnh (Nam Quảng Bình, lưu vực sông Nhật Lệ, Đại Giang), Chu Ngô (Quảng Trị, lưu vực sông Thạch Hãn), Lô Dung (Thừa Thiên Huế, lưu vực sông Bồ và sông Hương), Tượng Lâm (Quảng Nam- Quảng Ngãi, lưu vực sông Thu Bồn- Trà Khúc, sau là nước Lâm Ấp)<br /><i>Chú thích</i><b></b><br />* Tạp chí Huế xưa và nay, số 18/1996<br />** Bảo tàng Văn hoá Dân gian Huế<br />(1) M.Colani sinh ngày 13/8/1866 tại Strasbourg, Pháp, sang Đông Dương năm 1898, giảng dạy và laà việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ, hoạt động khảo cổ học nhiều nơi, có nhiều phát hiện và công trình giá trị. Bà mất tại Hà Nội ngày 2/6/1943.<br />(2) Quỳnh Văn (Nghệ An) là nơi có di chỉ của nền văn hoá sớm thuộc hệ Đông Sơn, cách nay độ 4730+75 năm (đặc điểm: biết cưa đá trước khi ghè đẽo và mài nhẵn toàn thân; biết khoan đá, làm đồ gốm bằng bàn xoay, dệt vải, trồng lú, sống chủ yếu ngoài trời, dùng sò hến làm thức ăn; chôn người chết gần nơi cư trú).<br />(3) Đào Duy Anh, đất nước Việt Nam qua các đời, Thuận Hoá, Huế, 1994, tr.59<br />(4) Nguyễn Vĩnh Phúc, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Hà Nội, 1983, tr.158-168. Đàn áp xong cuộc khởi nghĩa này, Mã Viện sai dựng cột đồng để định mốc giới. Trong bài Lescolonnes de bronze Mã Viện (B.A.V.H số 4, tháng 10-11, năm 1943), Đào Duy Anh đã chứng minh cột đồng ấy ở tại núi Thành, xưa có tên Đồng Trụ sơn, cách Vinh chừng 10 km về phía Tây Nam.<br /><br /><br /><br /><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>2.Kỷ nguyên Champa</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Tuy được Tiền Hán thư và Hậu Hán thư liệt kê vào danh sách chín quận hoặc bảy quận của miền Nam Trung Quốc, nhưng thư tịch không ghi chép gì nhiều về Nhật Nam như hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Cứ theo lời sử gia Ban Cố (32-92), thì thuyền buôn qua lại giữa Hợp Phố, Giao Châu và Ấn Độ đều ghé lại Tượng Lâm, huyện cuối cùng của Nhật Nam. Bến cảng chắc ở chỗ mà về sau là Hội An hoặc Đà Nẵng hay Chân Mây, những nơi thuận lợi cho việc ẩn tránh gió bão và trao đổi hàng hoá, vì đàng sau vùng này rất giàu của cải như vàng bạc, sừng tê, ngà voi... nhưng cư dân không nhiều, mật độ chỉ chừng 2 người/km2/. Do đó, việc tổ chức của chính quyền đô hộ lúc đầu cũng đơn giản, ít vấp phải sự chống đối của địa phương. Sau cuộc khởi nghĩa thất bại của Hai Bà Trưng, bọn quan lại Hán thi hành một chính sách ràng buộc khắt khe hơn, nhằm vơ vét, bốc lột thật nhiều. Bởi thế, nhân dân Nhật Nam thường xuyên nổi dậy, nhất là tại huyện Tượng Lâm, vùng cư trú của các bộ tộc Champa.<br />Dựa vào tài liệu ghi chép trong Bắc sử và những bi kí cổ tìm được từ Huế đến Nha Trang, người ta biết rằng trên địa bàn của văn hoá Sa Huỳnh có hai bộ lạc. &quot;Bộ lạc Cau (chữ Phạn trong bi ký: Kramuka vams'a) cư trú trên vùng Phú Khánh- Thuận Hải ngày nay, và bộ lạc Dừa (Narikela vams'a) trên vùng Quảng Nam- Nghĩa Bình ngày nay. Chắc chắn họ đã có những quan hệ với các bộ phận cư dân ven biển phía bắc- ở Bình Trị Thiên- và phía nam - ở đông bằng Nam Bộ&quot; (5). Bộ lạc Cau đã thành lập một tiểu quốc, lấy tên Paran (chữ Chàm cổ) hay Panduranga (chữ Phạn). Giữa lúc ấy thì bộ lạc Dừa rơi vào ách đô hộ của nhà Hán với cái tên huyện Tượng Lâm. Về chủng tộc, họ là một bộ phận của nhóm Mã Lai- Đa Đảo cư trú vào ách đô hộ của nhà Hán với cái tên huyện Tượng Lâm. Về chủng tộc, họ là một bộ phận rộng phía Nam và Đông Nam châu Á. Ta quen gọi họ là Chàm theo tên nước về sau chứ thực ra không có một tộc Chàm riêng.<br /> ( Theo tìm hiểu sau này, tôi hiểu được: Chàm/Chăm là tên gọi để chỉ 1 tộc người, còn Chămpa là tên nước – Cham = Native; Champa = Nation ) <br /><br />Cổ sử Trung Quốc ghi chép nhiều cuộc &quot;nổi loạn&quot; của nhân dân huyện Tượng Lâm vào thế kỷ II, lắm phen làm cho quan binh nhà Hán phải thất điên bát đảo. Phong trào ngày càng phát triển mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành độc lập của Khu Liên năm 190 niên hiệu Sơ Bình (190-193). Chúng ta không biết gì nhiều về nhân vật này. Có người cho rằng Khu Liên là từ phiên âm bản ngữ &quot;kurung&quot;, nghĩa là vị cầm đầu, như ta nói &quot;vua&quot;, &quot;vương&quot;, &quot;trưởng&quot; vậy, chứ không phải là tên riêng. Khu Liên tiêu diệt bộ máy đô hộ, xây dựng một quốc gia trên địa bàn của bộ lạc Dừa từ Hải Vân đến Đại Lãnh. Tên nước này Bắc sử ghi Lâm Ấp Nam sử chép theo, không rõ nguyên tiếng Chàm như thế nào và thủ đô đóng ở đâu. Sách Thuỷ kinh chú giải thích là &quot;Tượng Lâm ấp &quot;bỏ chữ &quot;tượng&quot;, còn &quot;ấp&quot; thì cũng như &quot;quốc&quot;. R.A.Stein trong cuốn Le Lin-Yi cho là phiên âm theo tên tộc &quot;Krom&quot;, &quot;Prum&quot; hay &quot;Côn Lôn&quot; và thủ đô là Phật Thệ đóng tại Văn Xá, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng đấy chỉ là suy đoán, thiếu bằng chứng....<br />Suốt một thời gian dài, Lâm Ấp lo củng cố thực lực, không chú ý mấy đến phương Bắc, hoặc nếu có thì chỉ là đề phòng bọn xâm lược. Giữa thế kỉ IV, Lâm Ấp đã tổ chức được chính quyền hoàn bị, một quân lực hùng hậu, lại hợp nhất với tiểu quốc Panràn, hình thành một nền văn hoá phát triển rực rỡ, dựng bia đá nhiều nơi (6). Năm 349, quốc vương Phạm Văn (336-349) đem quân ra đánh quận Nhật Nam, bắt giết thái thú Hạ Hầu Lãm, lấy thây làm lễ tế trời, rồi đuổi hết bọn quan lại Trung Quốc, lấy Hoành Sơn làm cương giới phía Bắc, xây thành Khu Túc để phòng ngự (7). Vùng đất mới chiếm được này chia làm năm châu theo tên gọi của cổ sử Việt Nam (không rõ nguyên tiếng Chàm): Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Ô, Lý (hay Rí); trên đó, người Chàm và người Việt sống xen kẽ và đồng hoá lẫn nhau. Từ đây, Nhật Nam vĩnh viễn thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc...<br />Tuy nhiên, thỉnh thoảng tai hoạ chiến tranh vẫn đổ xuống đầu nhân dân, do bọn quan lại ở Giao Châu muốn thu hồi vùng đất đã mất. Lâm Ấp cũng nhiều lần &quot;trả đũa&quot;, tấn công ra cướp phá dọc bờ biển Giao Châu. Cuối thế kỷ VI, bi kí cho biết tên của vương quốc là Champa và thủ đô là Sinhapura (8), thuộc vương triều Gangaraja. Sau đó, tình hình tạm yên một thời gian; các mặt văn hoá, kinh tế, xã hội đều phát triển; vua Kandarpadharma (640-645) đã có thể lập đến và dựng bia ở vùng Huế... Giữa thế kỉ IX, lại xuất hiện một địa điểm mới, ở làng Đồng Dương, cách Trà Kiệu 15 km về phía Đông Nam. Bi kí cho biết đó là Indrapura, thủ đô của vương triều cũng mang tên ấy.<br />Sử Trung Quốc nói rằng nhà Tuỳ (581-617) bình định được Lâm Ấp, chia làm ba châu Đảng, Nông, Xung, sau đổi gọi Tỉ Cảnh, Hải Âm, Lâm Ấp, thuộc bắc bộ quận Nhật Nam cũ. Nếu điều ghi chép này là có thực, thì chắc đã xảy ra trong lần xâm lược cảu tướng Lưu Phương năm 605. Nhưng Lưu Phương chỉ chiếm đóng trong một thời gian rất ngắn, rồi lại bị vua Phạm Phàn Chí, tức Sambhuvarman (595-629) đánh đuổi, phải cướp 18 tượng thần chủ bằng vàng chạy về được nửa đường thì chết. Thành thử việc chia đặt quận huyện ấy chỉ có trên giấy tờ!<br />Nhà Đường kế tiếp, lấy nước ta làm Giao Châu đô hộ phủ (662), sau đổi An Nam đô hộ phủ (679), gồm 12 châu, 59 huyện, biên giới cực nam vẫn là Hoành Sơn, và cũng chỉ kiểm soát được 56878 hộ.... Nhà Đường suy yếu, Champa còn thường xuyên đánh thốc ra phủ An Nam, như các trận lớn năm 802, 809,861, 862, 865... Đầu thế kỉ X, một sự kiện lớn xảy ra, nước Việt Nam giành được độc lập (939). Cục diện thay đổi, Champa không còn đối đầu với chính quyền đô hộ nữa, mà giao tiếp với một quốc gia bình đẳng. Dải đất Hoành Sơn- Hải Vân trở thành &quot;vùng tranh chấp&quot; và sự tình cờ của lịch sử sẽ quyết định số phận của năm châu này...<br /><i>Chú thích</i><br />(5) Nhiều tác giả, Lịch sử Việt Nam, tập I, Đại học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1983, tr.286<br />(6) Hiện nay, người ta đã tìm thấy nhiều bia, như bia Mỹ Sơn I chữ Phạn (ở Quảng Nam), bia Chợ Dinh I chữ Phạn (ở Tuy Hoà), bia Hòn Cụt chữ Phạn (ở Quảng Nam), bia Đông Yên Châu chữ Chàm cổ.<br />(7) Hiện nay chưa ai xác định được vị trí thành Khu Túc, có mấy giả thuyết: 1. Ở giữa đèo Ngang và sông Gianh (Ba Đồn); 2. Ở bờ nam sông Hương (thành Lồi); 3. Ở cửa sông Bồ (thành Hoá Châu)...<br />(8) Tuy sử Trung Quốc và sử ta theo đó chép nước này mỗi thời một khác (Hồ Tôn, Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành, Chiêm Ba, Chiêm Phù Lao, Chiêm Bất Lao), nhưng có lẽ trước sau vẫn là Chămpa, tên một loài cây có hoa ở xứ này (tên khoa học là michelia champacca linnae), ta thường gọi hoa đại hay hoa sứ. Thủ đô Sinhapura (thành phố sư tử) nay ở địa điểm xã Trà Kiệu, gần bờ nam sông Thu Bồn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng)....<br /><br /><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>3. Vùng đất tranh chấp </b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Việc bang giao giữa hai quốc gia trên dải đất dựa núi giáp biển không phải luôn luôn &quot;thuận buồm xuôi gió&quot;. Những ông vua Đại Việt buổi đầu thực ra không hề có tham vọng gì về đất đai. Khốn nỗi tầng lớp thống trị Champa đã tập quen tinh thần hiếu chiến từ trước thời chống chính quyền đô hộ, gây thành mối ngoại hoạ thường xuyên đối với dân tộc Đại Việt. Vì thế, khói lửa thỉnh thoảng lại bùng lên, vùng &quot;năm châu&quot; không khỏi bị càn đi quét lại bao nhiêu phen, nằm trong tình trạng bất ổn...<br /><br />Khi nhà Ngô suy yếu, các võ tướng cát cứ gây nên cái hoạ mười hai sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh với sự giúp sức của các bạn Nguyễn Bặc, Lê Hoàn, Phạm Hạp, Lưu Cơ, Trịnh Tú... dẹp được hết. Ngô Nhật Khánh, sứ quân ở Đường Lâm (Phú Thọ, Sơn Tây), tuy phải về hàng, nhưng vẫn nuôi lòng bất mãn dù được trọng đãi. Năm 979, Nhật Khánh trốn vào Champa xin viện binh để trả thù. Vua Champa- không rõ nguyên tên Chàm, sử ta ghi là Ma Mĩ Thuế, Tì Mi Thuế hay Phê Mị Thuế (972-982)- muôn nhân cơ hội xâm chiếm đất đai, bèn tự cầm quân đem hơn nghìn binh thuyền ra đánh Hoa Lư. Chẳng may khi vào cửa Đại Ác (sau đổi Đại An, ở Hà Nam Ninh) gặp sóng gió, thuyền chìm gần chết. Nhật Khánh chết đuối, Ba Mĩ Thuế thoát nạn, thu vét tàn quân trở về!<br />Lê Hoàn lên ngôi, đánh bại giặc Tống xâm lược, rồi năm 982, sai hai sứ giả Từ Mục, Ngô Tư Bảo sang giao hảo với Champa, nhưng Ba Mĩ Thuế không hưởng ứng, bắt sứ giả giam lại. Lê Hoàn tức giận thân chinh, phá thành trì, huỷ tông miếu, giết quốc vương, chấm dứt vương triều Indrapura, rồi bắt nhân dân, thu vàng bạc và của quý đem về. Đây là cuộc nam chinh đầu tiên của triều đình phong kiến nước ta, nhưng sau khi đại thắng thì rút lui, bỏ mặc đất đai cho họ. Vua Champa kế tục sinh lòng kính sợ, chịu thần phục, hàng năm nộp cống đầy đủ. Vương triều mới bỏ Indrapura đã bị tàn phá, dời đô vào tận Vijaya (sử ta thường gọi là Chà Bàn, Đồ Bàn, ở Bình Định) (9).<br /><br />Thế nhưng chỉ được ít lâu, Champa cứ theo nếp cũ, thỉnh thoảng bỏ lệ cống, hoặc kéo ra cướp phá ven biển từ Nghệ An đến Thanh Hoá. Triều đình Đại Việt không thể chỉ phòng ngự thụ động, cho nên tiến công để giải quyết dứt điểm. Nhà Lí đã hai lần làm theo kiểu Lê Hoàn (năm 1020 và 1044). Sau đó, vua Champa, sử ta ghi tên Chế Củ, tức Yan Cri Rudravarman hay Rudravarman III, nuôi chí phục thù (?), luyện tập voi ngựa, thao diễn sĩ tốt, sửa soạn khí giới thuyền bè, lại sai sứ sang Tống cống phương vật để dựa thế cắt đứt ngoại giao với Đại Việt từ năm 1065. Áp dụng chiến thuật &quot;tấn công để phòng ngự&quot; và &quot;ngồi im đợi giặc, không đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc&quot; (như về sau vận dụng đối phó với Tống), vua Lí Thành Tông thân chinh, cử Lí Thường Kiệt làm đại tướng, năm 1069 đem năm vạn quân đi đường biển, đổ bộ Thi Nại (hay Thi Lị Bì Nại, ở Quy Nhơn) đánh thẳng vào Vijaya.<br /><br />Chế Củ bỏ thành, đem vợ con chạy trốn, bị Lý Thường Kiệt đuổi theo bắt được. Sau khi đốt phá hết 2500 khu nhà, vua Thánh Tông ban sư, giải theo Chế Củ và năm vạn nhân dân Champa. Đến Thăng Long, Chế Củ xin dâng ba châu Bố Chinh, Địa Lí, Ma Linh để chuộc mạng. Vua Lí nhận rồi tha cho Chế Củ về nước, nhưng cũng không quan tâm mấy đến đất đai &quot;trên trời rơi xuống&quot; như thế!<br /><br />Nhưng có lẽ tiếc đất, Chế Củ và quốc vương kế vị nấn ná không chịu giao, lại còn tiếp tục đem quân ra quấy nhiễu ven biển Thanh-Nghệ. Muốn yên mặt Nam để rảnh tay đối phó với nhà Tống, năm 1075, vua Lí Nhân Tông lại sai Lí Thường Kiệt vào đánh dẹp, vẽ bản đồ dâng lên, đổi tên ba châu là Bố Chính, Lâm Bình và Minh Linh (10), đặt quan cai trị, chiêu mộ nhân dân đến khai thác. Năm 1103, Lí Giác làm loạn ở Diễn Châu (Nghệ An), bị Lý Thường Kiệt đánh đuổi, chạy sang Champa, khuyên quốc vương Chế Ma Na, tức Jaya Indravarman II, nên ra đánh Đại Việt. Chế Ma Na thua chạy, trả đất và xin triều cống hàng năm. Từ đó, trong một thời gian dài ngót thế kỉ, hai nước hoà hảo, nhân dân yên ổn làm ăn.<br /><br />Năm 1225, nhà Trần thay nhà Lí. Lợi dụng thời gian ban đầu của triều đại mới gặp khó khăn nội bộ, Champa lại ra quấy nhiễu và đòi lại ba châu đã cắt nhượng. Đến năm 1252, vua Trần Thái Tông phải thân chinh, bắt được vương phi Bố Da La, nhiều thần thiếp và quan lại, quân dân đem về. Sau đó, vua Champa sai sứ sang cống, hai bên trở nên hoà hảo. Vua Champa bây giờ có lẽ là Jaya Indravarman VI (?-1257), và kế tiếp là Jaya Shimhavarman, tức Indravarman V (1257-1284). Ông này cùng với con, thái tử Harijit, đã kiên quyết chống lại cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông, góp phần với nhân dân Đại Việt giữ vững nền độc lập (11). Câu chuyện tiếp theo thuộc triều vua Nhân Tông và Anh Tông nhà Trần phần cuối của bài viết này...<br /><br />Chú thích<br /><br />(9) Học giả L.Cadière có lẽ dựa vào Khâm định Việt sử thông giám cương mục gọi là thành Phật Thệ, và xác định ở làng Nguyệt Biều, tức Thành Lồi, nay còn di tích. Không, vì thủ đô của nước nào thường ở vùng đất cơ bản của nước ấy, chứ không thể nằm nơi địa đầu thường xuyên bị áp lực bên ngoài đe doạ. Vả lại, sử cũ cho biết hành trình vua Lí đi từ cửa Tư Dung (cực nam Thừa Thiên Huế) đến cửa Thi Nại (Quy Nhơn) để đánh Phật Thệ mất đến 6 ngày, thì Phật Thệ phải là Vijaya. Phải chăng &quot;Phật Thệ&quot; phiên âm từ một tiếng Champa nào đó chỉ thành luỹ?<br /><br />(10) Bố Chính: Trấn Bình thời thuộc Minh; nội và ngoại Bố Chính (hay Bắc và Nam Bố Chính) thời Lê; các huyện Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch thời Nguyễn; nay là phần Bắc tỉnh Quảng Bình, lưu vực sông Gianh. Lâm Bình: Tân Bình thời Trần; Tây Bình thời thuộc Minh; Tân Bình rồi Tiên Bình thời Lê; các huyện Khang Lộc (đổi Phong Lộc), Quảng Ninh, Lệ Thuỷ thời Nguyễn, nay là phần Nam tỉnh Quảng Bình, lưu vực sông Nhật Lệ. Minh Linh: Nam Linh thời thuộc Minh; Minh Linh thời Lê; các huyện Vĩnh Linh, Do Linh đời Nguyễn; nay là phần Bắc tỉnh Quảng Trị.<br /><br />(11) Ông này nguyên tên Harideva, lên ngôi lấy hiệu Jaya Shimhavarman, đến năm 1266 đổi là Indravarman V. Còn Thái tử Harijit (sử ta ghi Bổ Đích) sau lên ngôi lấy hiệu Shimhavarman III, sử ta gọi là Chế Mân.<br /> <br /><br /><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->4. Châu đi rồi châu lại về<!--sizec--></span><!--/sizec--><b></b><br /><br />Vua Trần Nhân Tông có tên huý là Khâm, sinh ngày 11 tháng Mười năm Mậu Ngọ (7/11/1258) (12), có công tham gia, tổ chức đánh tan 2 cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông (1285 và 1288). Ông tốn vị năm 1293, rồi lên ẩn tu tại am Ngoạ Vân núi Yên Tử năm 1299, pháp hiệu Hương Vân đại đầu đà, khai sáng thiền phái Trúc Lâm, được tôn xưng Điều Ngự Giác Hoàng, tịch ngày mồng 3 tháng Mười Một năm Mậu Thân (6/12/1308), để lại nhiều tác phẩm, trong đó Khoá hư lục nổi tiếng nhất. Con trưởng ông là Trần Thuyên, tức Anh Tông, sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tí (25/10/1276), lên ngôi ngày mồng 9 tháng Ba năm Quý Tị (16/4/1293) và tốn vị ngày 18 tháng Ba năm Canh Thân (24/4/1320).<br />Bấy giờ, đế quốc Nguyên Mông đang bành trướng thế lực ra khắp châu Á, châu Âu, đánh bại nhà Tống xuống miền đông nam Trung Quốc. Hốt Tất Liệt muốn sử dụng Đại Việt làm gọng kềm thứ hai, sai sứ sang vừa đe doạ vừa dỗ dành. Nhà Trần khôn khéo dùng biện pháp ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên quyết để kéo dài thời gian chuẩn bị lực lượng và nghiên cứu tình hình địch. Giữa lúc ấy, Hốt Tất Liệt tổ chức một đạo thủy quân, sai Toa Đô chỉ huy, vượt biển vào đánh Champa để tạo áp lực và hình thành một mũi tấn công ra Đại Việt. Toa Đô xuất phát từ Quảng Châu (12/1282), đổ bộ ra cửa Thi Nại (Cri Vinaya), chiếm Vijaya. Quốc vương Indravarman V cùng thái tử Harijit và tể tướng Bảo Thoát Thốc Hoa (G.Maspéro đoán là Bhadradeva) rút vào rừng, tổ chức cuộc kháng chiến (2/1283)...<br />Sách Nguyên sử, An Nam truyện dẫn lời Trịnh Thiên Hựu báo cáo: &quot;Giao Chỉ thông mưu Chiêm Thành, sai hai vạn quân và năm trăm thuyền ứng viện&quot;. Chuyện ấy có hay không chưa rõ, nhưng Toa Đô đại bại khi đánh vào mật khu Champa (19/3/1283). Thấy quân ở lâu, gặp khó khăn về lương thực, Hốt Tất Liệt sai sứ sang Đại Việt mượn đường đi đánh Champa. Nhà Trần trả lời: &quot;Từ nước tôi đến Chiêm Thành, đường bộ và đường thuỷ đều không tiện&quot;. Lại sai chở thóc gạo vào tiếp tế cho Toa Đô, nhà Trần đáp: &quot;Lần trước bị đại quân tàn phá, nhân dân nước tôi chưa sản xuất kịp&quot; (13). Toa Đô chờ lâu, phần thì hao binh tổn tướng, phần thì lương thực cạn dần, phải quyết định rút quân ra Bắc (24/3/1284), đóng ở vùng hồ Đại Lãng (có lẽ là phá Cầu Hai hay Lăng Cô ngày nay), cướp bóc vùng Ô Lệ, Việt Lí để kiếm ăn! (14)<br />Đến đầu năm 1285, khi Thoát Hoan xâm lược Đại Việt, Toa Đô lại kéo quân ra, định làm một gọng kềm từ phía nam. Nhưng vua tôi và quân dân nhà Trần đã phản công, giáng cho chúng những đòn sấm sét. Kết cục, Thoát Hoan bại tẩu về nước, chắc &quot;tởn đến già&quot;, còn Toa Đô thì bỏ mạng trên sông Cầu (24/6/1285). Cái mộng làm bá chủ cả phương Nam của Hốt Tất Liệt tan thành mây khói! Chiến thắng to lớn lần này chính là nhờ sự đoàn kết đồng tâm giữa hai dân tộc Việt- Chàm vậy.<br />Sau chiến tranh, năm 1293, Nhân Tông tốn vị nhàn du và tu thiền. Năm 1301, nghĩ tình hoà hảo, Ngài giao hẳn việc nước cho con (Anh Tông), cùng tả hữu tuỳ tùng sang dạo thăm đất nước Champa. Quốc vương Chế Mân (Jaya Shimhavarman III, tức thái tử Harijit thời chống Nguyên) ân cần đón tiếp. Thấy Chế Mân phong thái anh hùng, ngài hứa gả công chúa út Huyền Trân cho, mặc dù quốc vương đã có bà hoàng hậu người Java. Nhân Tông trở về, gác bỏ hẳn việc đời, lên núi Yên Tử tu hành. Nhưng Chế Mân thì vẫn nhớ lời hẹn ước, sai sứ giả đem vàng ngọc, sản vật sang cống và xin cưới. Vua Anh Tông và triều thần bàn bạc mãi, không quyết. Chế Mân chưa nản lòng, bèn xin dâng đất hai châu Ô, Lí làm sính lễ. Bấy giờ, không ai bàn bạc gì nữa, mà công chúa Huyền Trân cũng bằng lòng vì nước ra đi.<br />Tháng Sáu năm Bính Ngọ (khoảng từ giữa tháng 7 đến giữa tháng 8 năm 1306), Anh Tông cử một phái đoàn đưa em gái sang làm dâu Champa, tiếp nhận đất đai. Tương truyền chính vua thân hành, khi nghỉ lại ở cửa Ô Long, mới cho đổi tên Tư Dung (dáng vẻ nết na của người con gái) để kỉ niệm. Qua tháng Giêng năm sau, vì nhân dân các thôn La Thuỷ, Tác Hồng, Đà Bồng (hẳn là người Champa) chống đối, vua sai hành khiển Đoàn Nhữ Hài vào hiểu dụ &quot;tuyên bố đức y&quot;, đổi tên châu Ô ra châu Thuận, châu Lí ra châu Hoá, cùng thuộc phủ Lâm Bình vơi ba châu cũ, chọn người bản thổ đặt quan cai trị, cấp ruộng đất và miễn tô thuế ba năm cho nhân dân. ( Lý giải tên gọi này, có ý kiến cho rằng : Thuận Hoá có nghĩa là chấp thuận sự hoá đổi, chấp thuận sự trao đổi văn hoá giữa người Chàm và người Việt…)<br /><br />Huyền Trân rất được quốc vương Chế Mân sũng ái; nhưng chẳng may, cuộc tình duyên quá ngắn ngủi! Tháng Năm năm Đinh Mùi (1307), Chế Mân qua đời. Sợ em mình bị đưa lên dàn hoả thiêu theo tục lệ Champa, đến tháng Mười, Anh Tông sai Tả bộc xạ Hành khiển Trần Khắc Chung và An phủ sứ Đặng Văn sang dùng mưu đón công chúa về nước... Mối giao hảo thế là tan vỡ hẳn. Champa thường xuyên ra lấn cướp, đòi lại hai châu; quân Trần cũng nhiều lần vào tấn công, khi thắng khi bại. Nhân dân ở đây phải chịu nạn chiến tranh chà đi xát lại bao nhiêu phen, không an tâm khai canh sản xuất, cho đến lúc vua Lê Thánh Tông đẩy biên giới sâu về phía Nam năm 1470-1471. Vùng đất cũ của nước Văn Lang thời các vua Hùng xưa kia đã trở về trọn vẹn với gia đình Đại Việt, mà bộ phận cuối cùng ở &quot;đầu sóng ngọn gió&quot; là tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay (15)...<br />Chung quanh câu chuyện này, thư tịch cổ ghi chép rất sơ sài, lại mang giọng điệu mỉa mai châm biếm của nhà nho với quan niệm luân lí khắt khe va tinh thần phân biệt chủng tộc, như sách Toàn thư nói: &quot;Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Trước đây, Thượng hoàng đi chơi các địa phương sang nước Chiêm Thành, đã trót hứa gả con gái cho. Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn điển vua nhà Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô làm lời thơ bằng quốc ngữ để chê cười&quot; (16). Sử thần còn trách: &quot;Khi đi chơi mà trót hứa gả, sợ thất tín, thì sao mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi mệnh thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi cho đúng lời hẹn trước...&quot;<br />Thật ra, Vương Tường truyện chép trong Hồng Đức quốc âm thi tập chưa chắc là tác phẩm đời Trần; trường hợp Chiêu Quân cũng khác hẳn trường hợp Huyền Trân. Chiêu Quân là con gái nhà dân, bị tuyển vào làm cung nữ, chưa từng một lần gặp vua; còn Huyền Trân là một nàng công chúa, hiển nhiên &quot;lá ngọc cành vàng&quot;. Vả lại, nhà Trần gả công chúa cho quốc vương Champa khi ở thế &quot;thượng phong&quot; vì lợi ích của Tổ Quốc, quyết không phải do khiếp nhược như vua tôi triều Hán trước sức mạnh Hung Nô:<br />Vật chi muông cỏ dám lăng loàn<br />Âu hẳn trong triều ít kẻ ngoan<br />Mắt thấy thư Hồ văn vỡ mật<br />Tai nghe nhạc Bắc võ run gan...<br />(Vương Tường truyện)<br />Hơn nữa, cái tinh thần kì thị chủng tộc, &quot;phân biệt hoa di&quot; thời Trần trở về trước hoặc chưa có, hoặc mờ nhạt. Các vua Lí cũng đã từng gả công chúa cho tù trưởng các bộ tộc miền núi phía Bắc (17). Hôn nhân là biện pháp tốt nhất thời bấy giờ để thắt chặt tình đoàn kết thân ái giữa các dân tộc, huống chi với Huyền Trân, nước Đại Việt thu hồi hai châu vốn là đất cũ đã mất vào tay Champa suốt 867 năm mà không gây ra cảnh binh đao, và Chế Mân lại là một vị anh hùng chống Nguyên Mông, xứng đáng làm rễ nước Đại Việt lắm chứ!<br />Tóm lại, Trần Nhân Tông là một vị vua anh hùng, Trần Nhân Tông là một vị vua sáng suốt, đã sẵn sàng đón lấy cơ hội hợp lí, tốt nhất để khôi phục, mở mang lãnh thổ bằng giải pháp hoà bình. Các sử gia thời phong kiến quên rằng nàng công chúa đời Trần khảng khái chấp nhận lời đề nghị của cha anh, khước từ hạnh phúc thanh xuân, đem về lại cho Tổ Quốc &quot;nước non ngàn dặm&quot; không tốn một mũi tên, không đổ một giọt máu. Đã hơn bảy trăm năm, ngày nay chúng ta không thể không thông cảm, yêu mến và ca ngợi, biết ơn những con người đã để lại cho chúng ta một tài sản vô giá. ( Bài chi tiết về Vua Trần Nhân Tông và Huyền Trân công chúa sẽ được viết riêng, về điểm du lịch: “Đền thờ vua Trần Nhân Tông và Huyền Trân Công chúa trên núi Ngũ Phong”. Sẽ có chi tiết về chuyện tình lãng mạn của nàng Huyền Trân… Các bạn chú ý theo dõi nhé! *_+)<br /><br /><i>Chú thích</i><b></b><br />(12) Đại Việt sử kí toàn thư ghi ngày 11 tháng 11 năm Giáp Ngọ, Nguyên Phong 8, nhưng xét ra phải là năm Mậu Ngọ (vì Giáp Ngọ là 1234 hay 1294, đều không phù hợp). Trong chính văn lại nói: &quot;Mùa đông, tháng 10, lấy ngày sinh nhật làm tiết Thọ thiên&quot;. Vì vậy, chúng tôi ghi ngày 11 tháng Mười năm Mậu Ngọ.<br />(13) Trên đây dẫn theo: Hà Văn Tấn, Trần Thị Tâm, cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỉ XIII, Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1972, từ tr.149.<br />(14) Đây là theo Nguyên sử. Bi kí Champa có nói đến hai châu Ulik và Vuyar, áng chừng ở phía Bắc &quot;cựu châu&quot; Amuravati (Quảng Nam- Quảng Ngãi). Hà Văn Tấn và Trần Thị Tâm cho rằng Ulik và Vuyar cũng là Ô, Lí chép trong sử ta và Ô Lệ, Việt Lí chép trong sử Nguyên.<br />(15) Châu Thuận đời Trần gồm các huyện Lợi Điều, Thạch Lan, Ba Lãng, An Nhân; thời Lê đổi làm hai huyện Vũ Xương, Hải Lăng và hai châu Thuận Bình, Sa Bôi thuộc phủ Triệu Phong, nay là phần Nam tỉnh Quảng Trị, lưu vực sông Thạch Hãn. Châu Hoá thời Trần gồm các huyện Lợi Bồng, Tư Dung, Thế Vinh (thời thuộc Minh gộp làm một huyện Đan Điền (Sa Lệnh, Bồ Đài, Bồ Lãng, Trà Kệ; nhà Lê chia làm ba huyện Đan Điền (Sa Lệnh, Bồ Đài cũ), Kim Trà (Bồ Lãng, Trà Kệ cũ) và Tư Vinh (Sĩ Vinh cũ); Nguyễn Hoàng chỉ đổi tên năm 1570: Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vinh (không rõ đọc thành Phú Vang từ bao giờ và vì sao), cũng thuộc phủ Triệu Phong. Vua Gia Long tách ba huyện này đặt làm dinh Quảng Đức, vua Minh Mạng gọi là phủ Thừa Thiên từ năm 1822, rồi năm 1835 chia đặt thêm ba huyện Phong Điền, Hương Thuỷ, Phú Lộc. Bây giờ ta vẫn giữ như thế, chỉ thêm thành phố Huế và hai huyện miền núi Nam Đông, A Lưới.<br />(16) Ngô Sĩ Liên (khởi thảo), Đại Việt sử kí toàn thư, bản dịch: Cao Huy Giu, tập II, Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1967, tr. 92.<br />(17) Hoàng Xuân Hãn, Lí Thường Kiệt, Ban tu thư Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1966, tr.108-110.<br /><br />Sau này hai châu Thuận, Hoá được gom lại thành phủ Thuận Hóa dưới thời nội thuộc nhà Minh. Năm 1466, Lê Thánh Tông phân chia địa giới hành chính cả nước Đại Việt thành 12 đạo thừa tuyên và chính thức đặt Thuận Hóa làm thừa tuyên Thuận Hóa. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất này và cùng con cháu các đời xây dựng Thuận Hóa thành một vương quốc Nguyễn ở xứ Đàng Trong kéo dài xuống tận mũi Cà Mau. Đến đời nhà Hậu Lê, Thuận Hóa là một đơn vị hành chính cấp tỉnh. Năm 1604, Nguyễn Hoàng đã cắt huyện Điện Bàn thuộc trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, sáp nhập vào trấn Quảng Nam. Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn (thế kỷ 17- 18) là vùng đất trải dài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân...<br />Có ý kiến cho rằng, theo cách gọi tắt của dân gian, từ Huế là do Thuận Hóa thành Hóa rồi đọc trại thành Huế như ngày nay. Vào thế kỷ thứ 17, người châu Âu thường gọi Thuận Hóa là Singoa, Sinoa hay Senna<br /><br /><br />Bài tiếp theo:<br /><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><b>&quot; Đô thành Phú Xuân&quot; </b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Shilly - a roamer...

dogothanhhien
22-04-2013, 10:29 AM
Hay hay! Nhưng mà sao hẻm chia thành nhiều phần hả trời! Ngứa con mắt bên phải, đỏ con mắt bên trái. Hai con mét cùng mệt và bầm tím!<br />Hi hi mong bạn Siu Lỳ cố géng phét huy<br />Thân ái!

ntungco-ltd
22-04-2013, 10:29 AM
<!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>ĐÔ THÀNH PHÚ XUÂN (1738-1775)</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />&quot;Mùa hạ, tháng 4, ngày Nhâm Dần&quot; (tức ngày 7/6/1738), sau 13 năm cầm quyền, chúa Nguyễn Phúc Trú ( Nguyễn Phúc Thụ ) mất, thọ 43 tuổi. Chỉ 7 ngày sau khi Ninh Vương qua đời, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, vị chúa kế nhiệm đã quyết định đưa thủ phủ trở lại Phú Xuân (9).<br />Một trong những tư liệu quan trọng nhất thường được dẫn ra khi mô tả về Đô thành Phú Xuân là sách Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Như một chứng nhân lịch sử, Lê Quý Đôn đã ghi lại hầu như tất cả những gì mà ông từng nghe, nhìn hoặc hiểu biết về đất Thuận Hoá khi ông đặt chân đến đây năm 1776. Dưới ngòi bút của Lê Quý Đôn, Đô thành Phú Xuân hiện lên thật hoành tráng, lộng lẫy:<br />&quot;Ở trên các phủ thờ ở Kim Long giữa thì cung phủ hành lang, dưới thì nhà cửa ở Phủ-ao. Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, đổi tên đề biển, có hai điện Kim Hoa, Quang Hoa, có các nhà Tựu Lạc, Chính Quan, Trung Hoà, Di Nhiên, đài Sướng Xuân, các Dao-trì, các Triêu-dương, các Quan-thiên, đình Thụy Vân, hiên Đồng Lạc, am Nội-viện, đình Giáng Hương, công đường, trường học và trường súng. Ở thượng lưu về bờ nam có phủ Dương-xuân và Phủ cam. Ở trên nữa có phủ Tập-tượng; lại dựng điện Trường Lạc, hiên Duyệt Võ, mái lớn nguy nga, đài cao rực rỡ, mà giải võ, tường bao quanh, cửa bốn bề, chạm khắc vẽ vời, khéo đẹp cùng cực. Các nhà đều lát nền bằng đá, trên lát ván kiền kiền, những máng xối đều làm bằng kẽm để hứng nước; trồng xen cây cối, cây vả cây mít đều to mấy ôm. Vườn sau thì núi giả đá quí, ao vuông hồ quanh, cầu vồng thuỷ tạ, tường trong tường ngoài đều xây dày mấy thước, lấy vôi và mảnh xứ đắp thành hình rồng phượng, lân hổ, cỏ hoa. Ở thượng lưu và hạ lưu Chinh dinh đều là nhà quân bày hàng như bàn cờ. Những nhà của thuỷ quân lại ở đối ngạn. Xưởng thuyền và kho thóc thì ở các xã Hà Khê, Thọ Khang trên thượng lưu. Còn nhà vườn của các công hầu quyền quí thì chia bày ở hai bờ phía thượng lưu sông Phú Xuân, cùng hai bờ sông con bên hữu phủ Cam. Ở thượng lưu hạ lưu phia trước Chinh dinh thì chợ phố liền nhau, đường cái đi ở giữa, nhà cửa chia khoảng tiếp nhau, đều là mái ngói. Cây to bóng mát, tả hữu thành hàng. Thuyền buôn bán, đò dọc ngang, đi lại như mắc cửi. Bài &quot;Sơn minh&quot; của Chu Dũ Tín có câu rằng: &quot;Thanh ý xuân môn, câu cử giao ảnh; lục hoè thu thị, chu tiếp tương thông&quot; [Cửa xuân như giải vóc xanh, khe ngòi ánh lộng; chợ thu dưới bóng hoè lục, thuyền chèo lại qua], tưởng cảnh sắc cũng như thế này thôi&quot; <br />Ngoài ra, Đô thành Phú Xuân còn được nhiều nhân chứng người nước ngoài mô tả khá chi tiết và đây là những tài liệu quý giúp chúng ta hiểu rõ hơn tình hình đô thị Huế trong giai đoạn này (10).<br />Nếu xét theo nghĩa rộng, Đô Thành Phú Xuân có qui mô rất lớn và đã được qui hoạch khá ngăn nắp theo trục chính là dòng sông Hương. Ở phía tây nam Đô Thành, trên thượng nguồn sông Hương là lăng mộ của các vị chúa tiền triều (xem Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ của Bùi Thế Đạt đã có Đoan Công Mộ- tức lăng mộ chúa Nguyễn Hoàng, Thuỵ Quân Mộ- tức lăng mộ chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Nhân Quận Mộ- tức lăng mộ chúa Nguyễn Phúc Lan). Còn ở phía dưới, đúng như Lê Quý Đôn đã mô tả về phía từ bắc sông Hương: trên thì có phủ thờ ở Kim long, ở giữa có cung phủ hành lang, dưới thì có nhà cửa ở Phủ Ao. Về phía bờ nam có phủ Dương Xuân và phủ Cam, trên chút nữa có phủ Tập Tượng. Nhà cửa, doanh trại của binh lính, Phủ đệ của các bậc thân vương, quan lại thì bố trí kiểu ô bàn cờ dọc hai bờ sông Hương và sông An Cựu. Ở phía hạ lưu thi có phố chợ liền kề, buôn bán tấp nập nối liền với thương cảng Thanh Hà vẫn đang ở trong thời kỳ phồn thịnh (trên Bình Nam Đồ của Bùi Thế Đạt, Thanh Hà được ghi rõ bằng tên gọi Đại Minh Phố).<br />Như vậy, quy hoạch đô thị của Đô Thành Phú Xuân đã khá hoàn chỉnh và về cơ bản, nó đã tự như quy hoạch kinh đô Huế đầu thế kỷ XIX. Dĩ nhiên, mức độ tập trung và qui mô đô thị của hai thời kỳ này chắc chắn là đang còn chênh lệch nhau rất nhiều (11).<br /><br /><u>Chú thích:</u><br />(9) Việc chuyển thủ phủ từ Phú Xuân ra Bác Vọng của chúa Nguyễn Phúc Chu chỉ là một việc làm có tính chất tạm thời. Về tất cả mọi phương diện, vị trí Bác Vọng đều không thể so sánh với Vương đảo mà trung tâm là Phú Xuân. Vậy nên, quyết định đưa thủ phủ trở lại Phú Xuân của chúa Nguyễn Phúc Khoát là một việc làm mang tính tất yếu. Thêm nữa, việc trở lại Phú Xuân lần này, ngoài nguyên do thế mạnh của vùng đất mà ở phần viết trước chúng tôi đã phân tích, còn có một nguyên nhân về mặt tâm linh rất quan trọng. &quot;Chúa cho rằng lời dấm có nói &quot;Tám đời trở lại Trung đô&quot;, bèn đổi y phục, thay phong tục, công dân đổi mới, châm chước chế độ các đời, định triều phục văn võ... Thế là &quot;văn vật một phen đổi dân đổi mới, châm chước chế độ các đời, định triều phục văn võ... Thế là &quot;văn vật một phen đổi mới&quot; (6:208). Như vậy, việc đưa thủ phủ quay về Phú Xuân đã được chúa Nguyễn xem là sự kiện &quot;trở lại Trung đô&quot;. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó không phải là một sự thay đổi vị trí thủ phủ bình thường mà thực sự là quyết định đô của dòng họ Nguyễn ở Đàng Trong. Năm năm sau sự kiện này, chúa Nguyễn Phúc Khoát chính thức lên ngôi &quot;Vương&quot; tại Phú Xuân, đồng thời khiến gọi nơi phủ ở là điện, đổi chữ &quot;thân&quot; làm chữ &quot;tấu&quot;, phàm văn thư vẫn dùng niên hiệu vua Lê, nhưng với cái thuộc quốc thì xưng Thiên Vương&quot; (6:206). Phú Xuân vốn được gọi là Chính dinh, sau khi chúa lên ngôi vương được đổi làm Đô Thành.<br />Quả thực là &quot;văn vật một phen đổi mới&quot;! Một quốc gia độc lập với những thể chế riêng đã được chính thức ban hành. Riêng đất Phú Xuân, vốn chỉ là một thủ phủ nay đã được xác lập với tư cách một Quốc đô.<br />Tuy nhiên, phải mười năm sau nữa, năm 1754, Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát mới có điều kiện xây dựng lại toàn bộ đô thành Phú Xuân, biến nó trở thành một vùng đất phồn vinh, hoa lệ bậc nhất của Đàng Trong.<br />(10) Năm 1740, thầy tu Favre, thư kí của giám mục De la Baume đã có một chuyến du hành đến Đàng Trong cùng vị giám mục này. Những ghi chép của ông về Đàng Trong, đặc biệt là đất Phú Xuân có tính sử liệu rất cao. Dưới đây là mô tả của ông về đất Phú Xuân sau khi chúa Nguyễn Phúc Khoát tái lập thủ phủ được hơn một năm:<br />&quot;Đàng Trong.... chỉ có một thành phố, mà người ta gọi theo tiếng địa phương là Huế và theo tiếng Latinh Bồ Đào Nha là Sinoa: tuy nhiên không phải là trong các dinh khác không có những thị trấn có thể được gọi là thành phố nếu chỉ tính đến số lượng lớn những người sống trong đó. Nhưng vì sự quan trọng hay vì sự tôn kính đối với triều đình mà người ta muốn chỉ có một thành phố. Tôi đã đến thành phố, tức là đến Huế, hay đến Triều Đình. Thành phố duy nhất này là một tập hợp những công trình kiến trúc được phân chia thành khu phố tạo thành như những thôn và làng. Thành phố được xây dựng trong một bình nguyên đẹp, được phân chia từ phía mặt trời mọc đến phía mặt trời lặn bằng một con sông lớn. Nước sông chảy nhẹ nhàng, trên sông có một số thuyền chiến, những thuyền lớn và thuyền nhỏ. Trên bờ sông người ta thấy những cung điện đẹp nhất, vài cái lợp ngói, những cái khác lợp bằng rơm hay tranh, những cửa hàng giàu có nhất và những quảng trường rộng lớn nhất.<br />&quot;Phủ của chúa nằm ở phía Bắc của sông lớn, trên một hòn đảo dài khoảng 1 dặm, tạo thành do một con kênh hình vòng cung. Các quan lớn và các vương công của triều đình cũng ở trên hòn đảo này. Đảo được gọi là Vương Đảo. Phủ của chúa chỉ có một tầng, tất cả đều được làm bằng gỗ, những chiếc cột làm bằng gỗ mun đen bóng và để tự nhiên. Phủ được xây đắp gần như là một cái thành công có hào, được bao vây chung quanh bằng những trại lính hình vuông. Bên ngoài còn có những lối đi chung quanh cách 4 bước lại đặt một khẩu súng đại bác bằng gang có hình cỡ bình thường với 6 người lính canh giữ. Vị trí phủ rất rộng và có thể có đến hơn 100 khẩu đại bác được đặt ở hai phía, hướng mặt trời mọc và hướng nam, nơi có những cổng vào dẫn đến những trạm gác đầu tiên. Người nước ngoài, nếu không có một ân huệ đặc biệt thì không bao giờ được vào bên trong phủ. Trong số các người châu Âu, hiện nay chỉ có một người được phép đi vào khắp nơi ngay cả vào khu dành cho các cung phi. Đó là đức cha Siebert, giáo sĩ dòng Tên, thầy thuốc, quan triều đình, nhà toán học và là người trông nom các con chó nuôi của chúa&quot; (2:145-146).<br />Đáng tiếc là chúng ta không có những ghi chép của cha Siebert về Phú Xuân, nhưng bù lại, chúng ta lại có được những thông tin rất quý của cha Koffler, người đã từng sống ở Đàng Trong từ năm 1740-1755. Năm 1747 vị thầy tu này đã được Võ Vương chọn làm ngự y riêng. Những mô tả của Koffler về Phú Xuân rất phong phú, tỉ mỉ và điều đáng chú ý nhất là Phú Xuân ở giai đoạn này đã chính thức trở thành đô thành của Đàng Trong. Vì vậy, dù mô tả của Koffler khá dài dòng nhưng vẫn có sức hấp dẫn rất lớn.<br />&quot;Phủ chúa được bố trí theo hình vuông, với 3 lớp thành bao bọc. Có bảy cổng, cổng chính là cổng đẹp nhất mở ra sông, làm thành mặt tiền của công trình, ở trên có một tháp canh. Cách đó không xa, ở bờ trái, có 3 khẩu đại bác lớn không bao giờ được dùng nếu không gặp những dịp vui chẳng hạn như sinh hạ được một hoàng thái tử. Một trăm năm mươi khẩu đại bác khác nhỏ hơn, bằng sắt hoặc bằng đồng, được đặt chung quanh phủ, cứ giữa hai cái cột thì có một khẩu. Sau khi đã vượt qua cổng chính, ta thấy mình đang đứng trong một cái sân rộng nơi 25 đội quân đứng gác thay phiên nhau. Các đội quân này xếp thành hai hàng vào các dịp thiết triều mà theo luật lệ của vương quốc, chúa cho tổ chức mỗi tuần hai lần. Sau đó, có một phòng lớn nơi các quan đứng, các quan võ đứng bên phải, các quan văn bên trái, mỗi người xếp hàng theo phẩm tước của mình. Chúa được đưa đến trên một chiếc ngai, rồi ông ngồi trước một cái bàn trên đó người ta đã bày bút, ấn bà tấm gạc thấm thần sa màu đỏ. Trong bộ máy như thế, ông tiếp những người muốn nói chuyện với ông.<br />Khi đi vào bằng các cửa bên, người ta thấy ở một bên có các chuồng, những nơi nuôi gia súc và chủ yếu là những con gà đá to lớn... phía bên kia, là nhà của các ca nhân của chúa&quot; (8:164).<br />Cùng ở khu vực này Koffle còn mô tả có một khu vườn rất đẹp, trồng rất nhiều loại hoa, trong đó có không ít các loại hoa đưa từ nước ngoài về. Hoa không chỉ được trồng trong bồn mà còn được đặt trong các chậu gốm, chậu sứ đắt tiền và được sắp xếp đặt rất công phu và đẹp mắt.<br />Tại đây còn có nhiều bể lớn nuôi các loại cá quý hiếm, các bể chứa nước mưa để tưới hoa, các bể đặt những non bộ cầu kỳ...v.v...<br />&quot;Chúng ta đến vòng thành thứ hai, nhỏ hơn lớp thành đầu tiên. Nó được bao chung quanh bằng một hành lang lát gạch, có trang trí cột và lợp mái để có thể đi dạo ở đây mà không bất tiện khi trời mưa. Từ đấy có 4 cái cửa cao bằng tường thành và được các binh lính dân miền núi da ngăm đen canh giữ. Khi đi qua bên kia, người ta đến một cái sân rộng. Những nhân vật chủ chốt của vương quốc chiếm chỗ những căn nhà đầu tiên. Những căn tiếp theo được dành cho bà con của chúa. Về phần những người có họ hàng xa với cháu, họ đều ở bên ngoài phủ.<br />&quot;Cuối cùng, trước mắt là ngôi nhà dành cho các cung phi, nó không khác hơn một tu viện nữ tu sĩ bao nhiêu. Nó gồm một hàng cột chung quanh nhà và một tầng lầu. Bên ngoài chẳng có gì ngoại trừ tường, các cửa và một hành lang có mái với cột dở. Nhà của từng cung phi đều có mỗi bức tường ngăn cách. Tất cả các cửa đều mở ra phía hành lang và chỉ được đóng bằng một cái chốt duy nhất để cho chúa không phải gõ cửa. Trong một khoảng không gian chừng 8 bước chân nằm tiếp giáp với nhà và ở bên phải có một cái giường được trang hoàng rất tuyệt dành cho trường hợp chúa muốn nghỉ ban ngày. Chỉ có một cửa sổ duy nhất mở ra một cái vườn nhỏ có tường vay quanh, để cho không ai có thể nhìn thấy ông chúa (đây là một điều cấm kị, nếu phạm vào sẽ đáng bị tội chết), các cung phi trồng nhiều loại hoa trong vườn này và họ sẽ mang dâng cho chúa của mình khi được ông cho gọi đến. Ở bên trái là phòng ngủ các cung phi. Một tấm màn che bằng vải lanh mịn rải rác có những bông hoa bằng vàng, được treo trước giường. Sau đó đến phòng ngủ của những cô hầu, nhà bếp... Tất cả những căn phòng của các bà vợ mà chúa chung sống được xây đại loại như thế, tuy nhiên các bà có chức vị cao hơn thì được hưởng những chỗ rộng rãi hơn và được trang hoàng nhiều hơn.<br />&quot;Từ vòng thành thứ hai này người ta đi vào vòng thành thứ ba nơi có phủ chúa nói theo đúng ý nghĩa nơi ông chúa ở. Nó gồm 5 công trình mà công trình quan trọng nhất có 3 tầng bên trên còn có một cái tháp để quan sát thiên tượng. Từ bên trên cái tháp này, người ta không những nhìn thấy tất cả kinh thành, mà cả những vùng phụ cận cũng như nhiều chỗ uốn khúc của sông trải ra trong một khung cảnh tuyệt vời. Trong những công trình uy nghiêm này, người ta không thấy vôi, cũng không thấy tường, cũng không thấy đá. Tất cả đều bằng gỗ quý, được gọt đẽo, chạm, đánh bóng rất tinh xảo. Những cây cột chẳng hạn, đều bằng một loại gỗ màu chanh được sơn son. Người ta cứ tưởng mình đang ở trong một nhà hát tuyệt mỹ có sàn lát bóng lộn như pha lê. Ở mỗi cửa lớn của các căn nhà có treo các màn trướng rất đẹp, được vẻ rất thẩm mỹ. Ở trên nóc và ở các góc mái nhà có những con rồng bằng đất sét trắng ngậm trong miệng những cái chuông bằng vàng đung đưa trong gió và kêu leng keng rất ăn nhịp với nhau. Nói tóm lại, tất cả đều được bài trí, không phải để nhằm mục đích duy nhất để ở, mà là nhằm vào sự phô trương và tráng lệ, và điều đó thật xứng đáng với một vị chúa.<br />Ngoài chỗ ở này của ông chúa, còn có 3 phủ khác. Cái phủ xưa nhất là kho tàng với những tường thành rất chắc chắn trong đó cất giữ những của cải của tất cả các chúa Đàng Trong. Nó được dựng cách cái phủ mà chúng ta vừa mô tả khoảng 200 bước chân. Cái phủ thứ hai, dùng làm nhà mùa đông cho chúa, được xây dựng trên bờ đối diện của sông. Cuối cùng, cái phủ thứ ba là khuê phòng nơi các bà vợ goá các chúa tiền nhiệm, khóc cảnh goá bụa của mình cho đến chết&quot; (6:151-152)<br />Những mô tả tỉ mỉ của Koffler khiến chúng ta khá dễ dàng hình dung được diện mạo của đô thành Phú Xuân dưới thời Nguyễn Phúc Khoát, đặc biệt là khu vực trung tâm nằm trên Vương đảo. Chúng ta cần nhớ rằng, năm 1755, Koffler đã rời khỏi Đàng Trong, trong khi đó mãi đến năm 1754, Võ Vương mới &quot;bắt đầu sửa sang đô ấp&quot;. Chỉ trong hơn 1 năm, việc xây dựng chỉnh trang toàn bộ Đô thành chắc chắn chưa thể hoàn tất được. Tuy nhiên, bộ mặt của Phú Xuân lúc đó theo lời của Koffler đã tráng lệ lắm rồi. Và về đại thể, chúng ta thấy nó không khác bao nhiêu so với sự mô tả của Lê Quý Đôn hơn 20 năm sau đó (tức năm 1776).<br />(11) Xét theo nghĩa hẹp, Đô Thành Phú Xuân chỉ là &quot;nơi chúa ở&quot;, tức phủ chính của chúa đóng trên Vương Đảo. Khu vực này đã được các nguồn tư liệu từng dẫn ở trên mô tả khá kỹ. Đô Thành của Võ Vương theo nghĩa này gồm có 3 lớp thành hình vuông lồng vào nhau. Lớp thành ngoài cùng theo Koffler có đến 7 cổng ra vào, trong đó cổng giữa ở mặt nam là cổng chính. Thành có mỗi cạnh dài 545m (280 toires), chu vi là 2180m (1120 toires) (5:321). Trong bản đồ của Le Fluch de la Carière có một phần vẽ mặt tiền của một lớp thành này được dựng lên muộn hơn bởi trong mô tả của Koffler, chỉ ở vòng thành thứ hai mới có một hành lang tương tự.<br />Bên trong vòng tường này, ở phần phía trước là nơi chúa tổ chức lễ thiết triều, các khu vực ở hai bên và phía sau là những khu vườn, chuồng nuôi các con vật, bể cả... Vòng tường thứ 2, theo Koffler, có 4 cửa xây ngang bằng mặt tường, lại có một hồi lang có mái chạy quanh bên ngoài. Bên trong vòng tường này là nhà cửa của các vị đại thần, thân vương được phép sống kề cận với chúa. Dãy nhà dành cho các cung phi nằm phía sau cùng.<br />Bên trong vong tường nhỏ nhất, vòng tường thứ 3 là khu vực dành riêng cho chúa. Trong 5 công trình mà Koffler kể đến, công trình quan trọng nhất có 3 tầng, trên lại có quan sát thiên tượng có lẽ là gác Triêu Dương, nơi sau này Lê Quý Đôn đã từng ngồi viết Phủ Biên Tạp Lục. Bởi đứng từ trên gác này, người ta có thể quan sát khắp cả Đô thành trải dài theo dòng Hương Giang xinh đẹp.<br /><br /><br />Bonus: <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/cool.gif" style="vertical-align:middle" emoid="B)" border="0" alt="cool.gif" /> <b>PHÚ XUÂN – THĂNG LONG THỜI TÂY SƠN (1786-1802)</b><br /><br />Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của triều đình Thăng Long và đã làm thay đổi vị thế chính trị của kinh đô Thăng Long. Dù không là kinh đô của một đất nước sau khi lập lại nền thống nhất từ sau năm 1786, nhưng Thăng Long vẫn tiếp tục đóng góp, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử dân tộc đã thể hiện sức sống của một trung tâm chính trị hàng đầu, có lịch sử lâu đời nhất của đất nước. Đó là giá trị lịch sử của thời kỳ hậu kinh đô của Thăng Long mà bấy lâu chưa được giới thiệu nghiên cứu quan tìm hiểu.<br />1. Lộ trình Phú Xuân (1786-1788)<br />Đô thành Phú Xuân dưới thời các chúa Nguyễn (1744-17740 trở thành trung tâm chính trị đối trọng của kinh đô Thăng Long ở Đàng Ngoài. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã làm lung lay vị thế của trung tâm chính trị Phú Xuân, tạo điều kiện cho chúa Trịnh cử tướng Hoàng Ngũ Phúc mang 3 vạn quân vào đánh chiếm Phú Xuân (1775). Phú Xuân đổi chủ trở thành trọng tấn của Đàng Ngoài, là bản lề của cánh cửa hoàng cung Thăng Long dưới thời vua Lê chúa Trịnh (1775-1786). Văn hóa Thăng Long cũng từ đó có điều kiện thâm nhập vào Phú Xuân thể hiện rõ nhất là quan giáo dục và thi cử1.<br />Mùa hè năm 1775, quân Trịnh từ Phú Xuân đánh vào vùng kiểm soát của nghĩa quân Tây Sơn ở Quảng Nam. Tây Sơn thua trận bị quân Trịnh đuổi ra khỏi đất Điện Bàn, rồi Tây Sơn phải bỏ đất Hội An, bị đuổi đến tận Chu Lai. Do dịch bệnh nên binh lính bị chết rất nhiều nên quân Trịnh không thể tiến quân vào phía Nam. Nhân cơ hội đó, Tây Sơn xin giảng hòa, Nguyễn Nhạc được vua Lê phong tước Công và giao trấn nhậm đất Quảng Nam trở vào. Văn hóa Thăng Long có điều kiện thâm nhập vào đất Quảng Nam. Dựa vào lợi thế là một quan chức của triều đình Thăng Long, Tây Sơn nhiều lần cho quân đánh quân Nguyễn ở Gia Định. Năm 1777, chúa Nguyễn Phúc Thuần bị quân Tây Sơn giết. Năm 1785, 5 vạn quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện bị quân Tây Sơn đánh tan. Mục tiêu mà phong trào Tây Sơn và triều đình Thăng Long cần thực hiện nay đã kết thúc, phong trào Tây Sơn phát triển theo hướng tấn công mới.<br />Trong hơn mười năm chấp nhận làm quan cho triều đình Thăng Long (1775-1786), những lãnh tụ phong trào Tây Sơn vẫn luôn đề phòng cuộc tấn công của quân Trịnh từ Phú Xuân, nên sau mỗi lần đánh thắng quân Nguyễn trên đất Gia Định, Tây Sơn vội vàng cho quân lui về giữ Quy Nhơn. Nay chiến trường Gia Định ở phía Nam tạm yên, Tây Sơn chuyển hướng tấn công quân Trịnh ở phía Bắc mà trước hết là đô thành Phú Xuân cũ của chúa Nguyễn.<br />Mùa hè năm 1786, hai vạn quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy từ Quy Nhơn ra đánh Phú Xuân. Bị trúng kế “điệu hổ ly sơn” và “ly gián” kết hợp với cuộc tấn công đầy mưu trí của nghĩa quân Tây Sơn cùng với sự nổi dậy của nhân dân, ba vạn quân Trịnh ở Phú Xuân – Thuận Hóa nhanh chóng bị tiêu diệt. Phú Xuân – bản lề của cánh cửa hoàng cung Thăng Long bị quân Tây Sơn bẻ gãy và trở thàn bàn đạp cho Nguyễn Huệ đưa nghĩa quân Tây Sơn tấn công ra Bắc.<br />Nguyễn Huệ cho quân tiến vào Thăng Long tiêu diệt chúa Trịnh, kết thúc hơn hai trăm năm đất nước chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài của hai chúa Trịnh – Nguyễn. Thoát khỏi thân phận bị trói buộc của chúa Trịnh, thấy được đất nước thống nhất, vua Lê Hiển Tông ban tờ chiếu công bố nhất thống và sai niêm yết ở ngoài cửa Đại Hưng. Nguyễn Huệ, người có công “phù Lê diệt Trịnh” đưa lại đất nước thống nhất được vua Lê gả công chúa Ngọc Hân và sau này bà trở thành Bắc Cung hoàng hậu trong kinh thành Phú Xuân. Sự hiện diện của Ngọc Hân trong cung Phú Xuân là hình ảnh đẹp đẽ về chính sách chiêu hiền của Nguyễn Huệ, mở đầu cho lộ trình đưa nhân tài Bắc Hà đến với Phú Xuân mà sau này chúng ta thấy có Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp, Ninh Tốn...<br />Trước đây, một số thử thách của triều Nguyễn do ác cảm với Nguyễn Huệ nên cho rằng Nguyễn Huệ ra Thăng Long năm 1786 đã đưa về Phú Xuân bao nhiêu của cải chiếm được Bắc Hà, đây cũng là lý do tạo nên sự mâu thuẫn giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ. Điều này, theo tôi là không đúng. Do có thể bị hiểu nhầm nên hiện tượng này bị xuyên tạc chứ không phải mục tiêu và quan điểm của Nguyễn Huệ đối với lần ra Bắc năm 1786. Dù thiếu thiện chí với Tây Sơn, nhưng các tác giả đương thời của sách Hoàng Lê nhất thống chí đã ghi lại đầy đủ, xin dẫn ba đoạn trích để minh chứng về sự nhầm lẫn đáng tiếc truyền lại từ bấy lâu: Bấy giờ Bình vào thành, hạ lệnh nghiêm cấm quân sĩ không được cướp bóc của dân, rồi Bình vào phủ chúa nghỉ ngơi. Nhưng hiện tượng cướp bóc tại kinh thành Thăng Long là có thật, sự việc này cũng được các tác giả Ngô gia văn phái ghi lại như sau: Nhân lúc rối ren, dân chúng xung quanh kinh thành tha hồ rủ nhau đón đường cướp bóc, ngựa xe của cải của các họ hàng nhà chúa và của các đại thần, đại phu đều bị họ lấy sạch, không biết bao nhiêu, người chỉ còn trơ chiếc mình không mà chạy. Việc cướp bóc ở Thăng Long lại tái xuất hiện vào năm 1787, lúc Võ Văn Nhậm nhận lệnh Nguyễn Huệ ra Bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh là do dân chúng lợi dụng thời cơ sau khi vua Lê Chiêu Thống bỏ thành chạy để hôi của và do hành xử sai trái của Võ Văn Nhậm, chứ nhân dân Thăng Long vẫn giữ hình ảnh đẹp của Nguyễn Huệ chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn ra Bắc vào năm 1786. Sách Hoàng Lê nhất thống chí đã làm sáng tỏ vấn đề mà bấy lâu Nguyễn Huệ bị nghi oan: Gần tối, Võ Văn Nhậm đến nơi đem quân vào thành thì thấy cung điện, kho tàng chỉ còn trơ lại xác nhà không mà thôi.<br />...Ngày hôm sau Nhậm bèn thả lính lùng khắp các nhà dân ở phường phố, lấy được của báu rất nhiều, đến cả của tư cũng đều lấy hết.<br />Có người dân ở cửa quân kêu rằng:<br />- Đời xưa hành quân, không hề chạm đến một mảy may của dân. Có người lấy cái nón của đàn bà để che áo giáp của quan, cũng không dung thứ. Sao nay dân gian lại bị hại đến như thế.<br />Ngô Cao Lãng trong sách Lịch triều tạp kỷ cũng thừa nhận: Huệ và Chinh vào thành hạ lệnh nghiêm cấm các quân thủy bộ không được cướp bóc. Huệ đóng ở trong phủ chúa. Nguyễn Hữu Chỉnh và Tả quân Võ Văn Nhậm đống lầu Ngủ Long.<br />Tác giả Nguyễn Minh Tường cũng khẳng định: Nguyễn Huệ lần đầu tiên ra Bắc diệt Trịnh vào năm 1786, nghĩa quân tuyệt đối không tơ hào già đến của dân. Nhiều giáo sĩ phương Tây có mặt ở Bắc Hà vào thời kỳ này đã phản ánh tình cảm nồng nhiệt của nhân dân đối với quân đội Tây Sơn.<br />Được nhiều trí thức Bắc Hà ra công tác, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xây dựng Phú Xuân thành một trung tâm lãnh đạo của phong trào Tây Sơn trong giai đoạn mới, một trung tâm chính trị tiêu biểu, có sức sống mãnh liệt nhất của đất nước hồi bấy giờ. Từ đây, Nguyễn Huệ đem quân vào Quy Nhơn dập tắt cuộc nội biến của Nguyễn Nhạc do sự hạn chế tầm nhìn của một thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân đã nhanh chóng bị phong kiến hóa (1787). Cũng từ Phú Xuân, năm 1787, Nguyễn Huệ cử Võ Văn Nhậm ra Thăng Long để giết Nguyễn Hữu Chỉnh, người đã từ bỏ nhà Lê đi theo Tây Sơn, rồi trở lại liên kết với Lê Chiêu Thống để chống lại Tây Sơn, nhằm phá vỡ thế thống nhất của đất nước vừa sau một năm hàn gắn. Võ Văn Nhậm giết Chỉnh bằng cách cho xé xác ở cửa thành để bêu cho mọi người biết.<br />Lê Chiêu Thống vẫn làm vua nhưng từ đó đã bỏ thành Thăng Long lại cho tướng Tây Sơn là Võ Văn Nhậm rồi cho người sang nhà Thanh cầu viện. Kinh đô Thăng Long chỉ tồn tại trên danh nghĩa mà thực chất nằm dưới quyền của Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đang đóng ở Phú Xuân. Tháng 5 năm 1788, Nguyễn Huệ lại thân hành ra Thăng Long để giết Võ Văn Nhậm vì viên tướng này tàn bạo, cho quân cướp bóc của dân và có âm mưu chống lại chính quyền Tây Sơn ở Phú Xuân. Để đảm bảo sự an cư cho nhân dân Bắc Hà, nhằm củng cố tinh thần đoàn kết chống lại giặc Thanh và triều đình lưu vong Lê Chiêu Thống, Nguyễn Huệ cho thành lập lại bộ máy cai quản Bắc Hà đóng tại Thăng Long bao gồm: Nội hầu Phan Văn Lân, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Hộ bộ Trần Thuận Ngô, Học sĩ Ngô Thời Nhậm theo Ngô Văn Sở giữ Thăng Long.<br />Nguyễn Huệ nói rằng: Sở và Lân là nanh vuốt của ta. Dụng và Ngôn là lòng dạ của ta. Nay ta lấy các việc quân vụ và quốc chính của 11 trấn toàn hạc Bắc Hà ủy thác cho, ta thuận cho tiện nghi mà làm việc, phải hội đồng thương nghị với nhau, chớ vì cũ mới mà xa cách nhau, đó là điều mong mỏi của ta vậy.<br />Từ năm 1786-1788, liên tiếp là những chiến công của Nguyễn Huệ trên đất Thăng Long nhưng đây cũng là thời kỳ thử thách sinh mạng chính trị mang tính sống còn đối với Bắc Bình Vương. Đây cũng là quá trình hợp lưu các dòng chảy dân tộc, thống nhất, dân chủ cho Phú Xuân mà sự sàng lọc tinh hoa của văn hóa Thăng Long là một nhân tố quan trọng để cho ra đời trung tâm chính trị Phú Xuân đáp ứng yêu cầu mới của đất nước sau ngày thống nhất nhưng lại bị đe dọa của giặc ngoại xâm.<br /><br />2. Thăng Long thời kinh đô Phú Xuân của vương triều Tây Sơn (1789-1802)<br />Ngày 22-12-1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại núi Bân, đặt niên hiệu Quang Trung, chọn Phú Xuân làm kinh đô, vị trí trung tâm chính trị hàng đầu của đất nước chính thức chuyển giao cho Huế. Chính sách trọng dụng hiền tài của vua Quang Trung đã tạo nên một sức hút mạnh mẽ đối với trí thức Bắc Hà về với kinh đô Phú Xuân. Kế thừa tri thức trị nước được đào tạo ở Thăng Long trước đó, vua Quang Trung thông qua Trần Văn Kỷ đã cân nhắc chọn lọc nên có ngay một đội ngũ quan chức có tài năng và phẩm hạnh để xây dựng vương triều mới.<br />Ngay sau khi lên ngôi, vua Quang Trung cho xuất quân ra Bắc để đánh giặc Thanh đang chiếm đóng Thăng Long vào thời điểm mà chúng không ngờ là vào dịp Tết xuân Kỷ Dậu (1789). Đêm 30 Tết, vua Quang Trung cho quân tấn công vào các tuyến phòng thủ phía nam thành Thăng Long và các căn cứ quân sự mà chúng tưởng bất khả xâm phạm đã làm đảo lộn phương án tác chiến của chúng sẽ là trận quyết chiến xảy ra tại Phú Xuân vào xuẩn Kỷ Dậu.<br />Ngay từ khi lên ngôi vua, Quang Trung đã làm tròn sứ mạng của kinh đô Phú Xuân mới tạo lập trong việc tổ chức lực lượng làm chiến đấu, chủ động tấn công kịp thời để giải phóng Thăng Long. Làm nên chiến thắng này trong đó có sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhân dân Thăng Long bằng cách cung cấp rơm, ván, lương thực, thực phẩm cho quân đội Tây Sơn góp phần tạo nên chiến thắng lẫy lừng trong trận Ngọc Hồi, Đống Đa, kết thúc sớm số phận đội quân viễn chinh của nhà Thanh trên đất Thăng Long. Theo kế hoạch dụng binh của Càn Long thì Phú Xuân mới là mục tiêu cuối cùng để quân Thanh tấn công vào bắt sống Nguyễn Huệ và tiêu diệt quân đội Tây Sơn đã bị nhanh chóng phá sản ngay tại Thăng Long. Phú Xuân – Thăng Long là hai nhịp của một chiếc cầu chiến thắng để đưa quân đội Tây Sơn đến đỉnh vinh quang.<br />Tháng 5 năm 1789, sau khi thắng trận, vua Quang Trung trở về Phú Xuân đắp thêm thành quách, mở rộng cung điện, đặt tên quan chức, định luật lệnh, tu sửa hộ tịch, tha thuế ruộng, chế độ được đổi mới một loạt.<br />Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung lại càng chú trọng hơn về chính sách thu dụng nhân tài. Những trí tuệ và tâm huyết của các Nho sĩ đất Thăng Long nhiệt thành ra cộng tác với Tây Sơn đã tạo nên một sức sống mới của Phú Xuân được thể hiện trong dòng văn học Tây Sơn và các văn bản ngoại giao với nhà Thanh thấm đẫm tinh thần dân tộc và thể hiện đẳng cấp của trí tuệ Đại Việt vào thời văn hóa phục hưng.<br />Động thái nhận trách nhiệm trước dân vào năm 1789, về việc trước đó quân Tây Sơn đã phá nhà bia Tiến sĩ đề danh ở Văn Miếu của vua Quang Trung là một thí dụ điển hình về nhân cách của một hoàng đế thời phục hưng. Rồi vua Quang Trung đền cho dân làng Văn Chương một con rùa bằng vàng để dân làng bán lấy tiền tu sửa Văn Miếu. Điều đó, thể hiện Quang Trung không chỉ là thiên tài quân sự mà là nhà chính trị có tầm nhìn văn hóa đáng trân trọng:<br />Nay mai dựng lại nước nhà<br />Bia Nghè lại dựng trên tòa muôn gian<br />Những chính sách cải cách của vua Quang Trung tuy bị hạn chế về thời gian và năng lực thực hiện của đội ngũ quan chức nhưng đã phát huy có hiệu quả trong đời sống kinh tế và xã hội như chính sách phục hồi nông nghiệp, lập thẻ tín bài...trong văn hóa, giáo dục như đề cao chữ Nôm, mở trường học đến tận làng xã...đều thể hiện thế “rồng bay” tại Phú Xuân, kế thừa sức sống của kinh đô Thăng Long của hàng trăm năm trước đó.<br />Vua Quang Trung có ý định đô ở Thăng Long nên sau khi thắng quân Thanh, nhà vua ở lại hơn 3 tháng ở Bắc Hà để tìm hiểu, nhà vua mời Nguyễn Thiếp từ Nghệ An ra Thăng Long tìm đất đóng đô. Nguyễn Thiếp vâng lời ra Thăng Long, rồi đi Kinh Bắc xem đất Cổ Bi (thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội). Nhưng không rõ vì lý do gì, sau đó Nguyễn Thiếp lại về Nghệ An để xem đất An Tường có ý đóng đô ở đó.<br />Tuy không còn là kinh đô, nhưng Thăng Long luôn là trung tâm chính trị của trọng tấn Bắc Hà nên được triều Tây Sơn giao cho các trọng thần hoặc thân vương trấn nhậm. Sau chiến thắng quân Thanh vua Quang Trung giao cho Đại tư mã Ngô Văn Sở trấn nhậm Bắc Hà, nhà vua căn dặn: Tất cả việc văn thư thù tiếp với triều đình Trung Quốc thì chuyên giao phó cho Ngô Thời Nhậm và Phan Huy Ích, việc qua lại giữa hai nước đều theo tiện nghi xử trí, việc không quan hệ khẩn cấp thì bất tất phải bẩm báo. Từ đó, thành Thăng Long được đổi làm Bắc Thành.<br />Mặc dù không trực tiếp đóng đô ở Thăng Long nhưng vua Quang Trung vẫn cho Bắc Thành luôn giữ vị trí quan trọng trong chính sách nội trị và ngoại giao của vương triều Tây Sơn. Tháng 9 năm 1972, vua Quang Trung tạ thế, triều đình Cảnh Thịnh cử Thị trung Đại học sĩ Ngô Thời Nhậm dẫn đầu một phái đoàn sang nhà Thanh báo tang nói dối rằng: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ có dặn sau khi mất thì chôn ở Tây Hồ thuộc Bắc Thành ngõ hầu được gần gũi, nương tựa Thiên triều.<br />Dưới thời Cảnh Thịnh, Quang Thùy được phong làm Khang công Tiết chế các doanh thủy bộ miền Bắc kiêm Tổng lý binh dân thứ vụ, thực chất đó là một phó vương phụ trách các trấn Bắc Hà đóng tại Bắc Thành (thành Thăng Long cũ).<br />Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân, Cảnh Thịnh đã cùng triều thần Tây Sơn bỏ chạy ra Bắc, đổi niên hiệu là Bảo Hưng, tiếp tục chiến đấu nhưng cuối cùng bị thất bại. Năm 1802, vua Bảo Hưng bị quân Nguyễn bắt về giam tại Bắc Thành, Thăng Long là nơi chứng kiến ngày tàn của vương triều Tây Sơn.<br />Khác với Đại La – Thăng Long và Phú Xuân – Huế đều là quá trình phát triển kinh đô trên một không gian địa – chính trị có tính liên tục qua cắt lớp của khảo cổ học. Thăng Long – Phú Xuân – Huế cũng mang tính kế tục của lịch sử nhưng lại diễn ra trên hai vùng lãnh thổ khác nhau. Không có Thăng Long của nước Đại Việt thì không có Phú Xuân – Huế của nước Việt Nam (1804) thống nhất tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc. Nhờ sự thống nhất đó mà đã truyền sức mạnh yêu nước của cả dân tộc liên tục cho đến năm 1945. Mặc dù thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị thành ba kỳ: Bắc, Trung, Nam, nhưng các phong trào yêu nước Việt Nam vẫn mang tên gọi chung là Việt Nam: Việt Nam Quang Phục Hội, Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, Việt Nam Quốc dân Đảng...là cơ sở để tái lập Quốc hiệu Việt Nam vào năm 1945 với thủ đô Hà Nội. Thủ đô Hà Nội là kết quả vận hành liên tục của nhiều thế hệ trung tâm chính trị của đất nước từ Thăng Long – Phú Xuân – Huế để Việt Nam có một nền văn hóa đặc sắc, không chỉ bắt nguồn từ văn hóa Đông Sơn mà cả Sa Huỳnh, Óc Eo ở miền Trung và miền Nam. Với ý nghĩa trên, Thăng Long thời hậu kinh đô có vai trò cực kỳ quan trọng trong lịch sử mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, chính trị và văn hóa, là gạch nối giữa nước Đại Việt lâu đời giàu bản sắc và một nước Việt Nam thống nhất ra đời từ đầu thế kỷ XIX, để có một nước Việt Nam với thủ đô Hà Nội anh hùng văn minh, hiện đại của ngày hôm nay...<br /><br />Bài tiếp:<b> KINH THÀNH HUẾ</b>

ctydongnama
22-04-2013, 10:29 AM
Hế, cứ tương vài chục cái hình cho nó cận cảnh, chứ mấy cái tài liệu này trên net thiếu gì, nhờ anh Gúc Gù ảnh tìm chưa đến 5 giây. Còn nếu không có hình thì bạn tổng hợp lại tài liệu rồi viết theo giọng văn và cách hiểu của bạn, có khi lại hấp dẫn và cuốn hút nhiều người hơn í chứ. <br /><br /> <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/tongue.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":P" border="0" alt="tongue.gif" /> hề hề hề, sogy là tớ mới đọc bài của bạn có vài dòng đầu tiên thì chán quá, không muốn đọc nữa vì nhiều chữ quá, thấy chữ nó cứ bò lổm ngổm như lũ kiến trong hũ đường. <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/10.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":10:" border="0" alt="10.gif" />

ynguyenvn
22-04-2013, 10:29 AM
Sắp vô, sắp vô....<br />Gần tới rùi,<br />Zdum thì cũng xoay xoay nó mới nhìn rõ đc chứ chỉa 1 cái vô liền thì nó...lộ liễu quá! Mí lại, cái cận cảnh của tớ ở đây không phải chỉ là hình ảnh mô....<br />Dù sao, cũng sắp rồi, sắp ẤY rồi...<br />Cứ xem, rồi sẽ thấy....<br /><br />Thanks : )<br /> <br />Shilly