hlfumiture
14-05-2013, 10:55 AM
Phan Thiết thời kỳ mới thành lập <br /> <br /> Cuối thế kỷ 17, đạo quân của Chúa Nguyễn do chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh chỉ huy được lệnh tiến sâu vào vùng đất cực Nam. Năm 1693, vượt qua con sông Mai Nương của xứ Pan Ran (Phan Rang) băng theo vùng gió cát ven biển Đông, các toán quân binh lần lượt tiến vào cửa biển Paric (Phan Rí) rồi đến cửa Ba-Giai (Phố Hài). Cuộc hành quân đường bộ dài khoảng 150 kilômét ấy tạm dừng lại ở một dải đất trũng khá rộng nằm dọc theo biển; đây đó nhấp nhô những đòi đất sỏi chen với các đụn cát vàng nối dài.<br />Một dòng sông từ hướng Tây xanh mờ non núi, chảy về uốn khúc giữa lòng thung lũng rộng mở nối xuôi thẳng ra vùng sóng nước mênh mông. Hai bên bờ sông mọc đầy những cụm bần, mấm cạnh các khe lạch lớn nhỏ, rải rác đây đó là đầm ao chen giữa lau sậy um tùm. Được biết nơi đây có tên gọi lâu đời của người Chăm là Ha-mu LITHIT (xóm có tên là LITHIT). Mặc dù sớm có mặt vài nhóm cư dân bản địa cất chòi, dựng trại làm rẫy và đánh cá, toàn vùng vẫn chưa được khai phá mấy, cảnh vật còn rất hoang sơ. <br /> <br /> <br /> <br /><br />Ngoài mấy ngôi tháp cổ kính màu đỏ gạch nung trơ vơ trên một ngọn đồi về hướng Đông Bắc, các xóm nhà còn lại chẳng có gì đáng kể, đất đai đậm nét nghèo nàn. Trong khi đó, sự trù phú của biển bày ra trước mắt với cảnh sớm sớm mặt nước chao động mạnh bởi chớn sóng của các đàn cá mòi dày đặc nổi gần bờ, hay ngoài xa kia, từng bầy cá voi với thân hình bóng loáng đang chập chờn phun cao vòi nước...<br />Lúc đầu, chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Vậy mà không biết bao giờ, cái âm cuối của địa danh Chăm LITHIT lại được gắn liền với âm "PHAN" tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra Phan Thiết. Dù chẳng mang ý nghĩa gì đặc biệt, cái tên mới Phan Thiết nghe cũng khá thuận miệng với mọi người. <br /><br />BUỔI ĐẦU HÌNH THÀNH PHAN THIẾT<br />Như sử sách đã nêu, vùng đất có tên Phan Thiết mở ra cùng một thời gian hình thành tỉnh Bình Thuận. Nhưng đáng nói là qua nhiều năm, Phan Thiết vẫn chưa xác định thuộc đơn vị hành chánh cấp gì, đặc biệt cũng chưa nói rõ địa giới của nó tới đâu. Phải đợi đến khi Bình Thuận từ một Trấn đổi thành Phủ năm 1697 rồi sau đó đặt làm Dinh, thì Phan Thiết mới chính thức được công nhận là một Đạo (cùng một lượt với các Đạo Phan Rang, Phố Hài, MaLy vùng Tam Tân Lagi). Đạo là cấp hành chính dưới Dinh và trực thuộc Dinh về mọi mặt, mặc dù đứng đầu nó có hai viên quan văn, võ lo việc cai trị. Nhưng Đạo không được coi tương đương với cấp huyện và càng không thể sánh với Đạo được lập ra sau này là một tỉnh nhỏ.<br /><br />Dưới thời phong kiến, bộ máy hành chính của tỉnh Bình Thuận thường không ổn định được lâu. Đạo Phan Thiết lập nhưng chẳng có văn bản nào chỉ rõ nó quản lý trên phạm vi gồm bao nhiêu thôn, xã. Chỉ biết 128 năm sau năm 1825 vào thời Minh Mạng, Đạo Phan Thiết được giảm bỏ, và ruộng đất này cho nhập vào huyện (năm 1854 vào thời Tự Đức, huyện này là huyện Tuy Lý) thuộc phủ Hàm Thuận từ khi Bình Thuận chính thức cải thành tỉnh.<br />Dù vậy, trải qua bao nhiêu năm, Phan Thiết vẫn được mọi người từ trong Nam ra ngoài Bắc vào đều nhắc tới là chốn thị tứ quen thuộc, sầm uất ở cuối miền Trung. Và cũng không mấy ai quên nơi đây trước kia là một nơi thường diễn ra các cuộc giao tranh ác liệt giữa các lực lượng quân Nguyễn và quân Tây Sơn kéo dài từ năm 1773 đến năm 1801. Sức người, sức của của vùng duyên hải trù phú này đã bị vơ vét, chiếm đoạt tận cùng để phục vụ cho cuộc nội chiến. Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIX khi giặc Pháp đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định năm 1859 thì từ đó Phan Thiết trở thành nơi lui tới, tụ họp thường xuyên của các phần tử yêu nước chống Pháp xâm lược ở Nam Bộ.<br />Hâu quả chiến tranh tàn phá nặng nề khiến nhà thơ Nguyễn Thông mấy mươi năm sau về sống ở Phan Thiết đã ngậm ngùi nhìn cảnh đất này bằng mấy câu thơ:<br /> " Địa kinh nhưng mã nhân yên thiểu<br /> Tuế khốn chinh thâu vật lực cùng"<br /><br />(Tạm dịch là: Đất đai trải qua chiến tranh, người ở thưa thớt, hàng năm khổ sở về sưu thuế, của cải cùng kiệt).<br /><br />Năm Minh Mạng thứ XVII năm 1836, Thị Lang Bộ Hộ là Đào Tri Phủ được cử làm việc khám đạc, lập địa bạ tỉnh Bình Thuận để chuẩn định và tiến hành đánh thuế. Trong số trên 307 xã, thôn thuộc hai phủ, bốn huyện và mười lăm tổng của tỉnh Bình Thuận, đo đạc xong ước tính có khoảng chín địa điểm năm trong khu vực được coi là vùng Phan Thiết thuộc tổng Đức Thắng. Bên hữu ngạn sông, đó là các xã Đức Thắng, Nhuận Đức, Lạc Đạo và các thôn Thành Đức, Tú Long. Bên tả ngạn là xã Trinh Tường và các thôn Long Khê, Long Bình, Minh Long.<br />Qua nhiều lần thay đổi các đơn vị hành chính, một số thôn nhỏ sáp nhập thành làng lớn, có những địa danh cũ biến mất hẳn, không tiện tra cứu sau này, như Minh Long, Long Bình (thuộc địa phận Bình Hưng hiện nay) hay Long Khê (thuộc địa phận Phú Trinh). Một số thôn, xã khác cùng Tổng Đức Thắng nh Phú Tài, Phú Hội, Xuân Phong, Đại Nẫm thì được xem là ngoại vi của Phan Thiết. Vào thời đó, một số địa danh quen thuộc ở khu vực Phố Hài như Tân Phú, An Hải, An Hoà, Tú Lâm, Sơn Thủy, Thiện Chính, Ngọc Lâm... thì thuộc về Tổng Hoa An (sau đổi lại là Lại An) của huyện Tuy Định. Xa hơn nữa về phía Đông Phan Thiết, một số thôn xã dọc bờ biển như Khánh Thiện, Thạch Long, Long Sơn (nay thuộc khu vực Rạng - Mũi Né) lại thuộc một Tổng khác, Tổng Vĩnh An của huyện Hoà Đa.<br /><br />Cuối thế kỷ XVIII, một cây cầu gỗ dài 41 trượng (khoảng 164 mét) bắc qua sông Phan Thiết, cách biển trên một dặm (khoảng nửa kilômét), nối liền con đường cái quan. Cầu có tên Thắng Kiều do một trăm dân đinh ở xã Đức Thắng được tha bắt lính và đóng thuế để dựng nên. Từ năm 1809 vào thời Gia Long, đường cái quan được tu bổ, mở rộng có quân xá và trạm dịch chuyển công văn từ trong ra ngoài. Đoạn ngang qua đồng bằng Phan Thiết rộng tới 40 - 50 kilômét với gần 6 kilômét qua toàn ruộng muối đến Phố Hài, là khu vực sầm uất nằm giữa hai trạm Thuận Lý và Thuận Phan. Phía tả ngạn sông lúc đó có phủ trị Hàm Thuận đóng, hai bờ sông đều nhóm họp chợ sớm chiều. Nhìn đâu đâu cũng người qua kẻ lại dập dìu, trên bờ cửa nhà chen chúc còn dưới bến thì tấp nập ghe thuyền. Đi xa trên 15 kilômét nữa, gặp trạm Thuận Tỉnh (nằm trong khu vực Rạng - Mũi Né) đóng giữa một làng đánh cá trù phú có tới 400 nóc nhà ngói.<br />Bằng đường biển, người ta đã dùng mấy chục chiếc ghe bầu chuyên chở nhiều sản phẩm hàng hoá của ruộng đồng, rừng núi, sông biển Bình Thuận vào Sài Gòn - Gia Định và đến tận Singgapore buôn bán. Đó là muối, cá mặn, nước mắm, bông vải, đậu phộng, heo sống, da thú các loại... và các thứ quý hiếm như ngà voi, sừng tê giác, trầm hương... Kết hợp những chuyến hàng bán ra nước ngoài, ghe thuyền trở về không quên mua sắm các món vũ khí, súng đạn để phòng thủ đất nước chống ngoại xâm, nhất là khi giặc Pháp rục rịch xuất hiện. Cho nên không phải ngẫu nhiên vào thời kỳ đó, đã có nhận định rằng Phan Thiết và Phố Hài là hai cửa khẩu quan trọng bậc nhất trên tuyến từ Nam Định vào Sài Gòn.<br />Tuy vậy, mài đến gần cuối thế kỷ XIX, Phan Thiết vẫn chưa được công nhận chính thức là một đơn vị hành chính của tỉnh Bình Thuận. Có lẽ sẽ lợi nhiều hơn cho việc hình thành và phát triển của Phan Thiết nếu ngay từ năm 1835, vua Minh Mạng chịu chấp nhận đề nghị của tuần vũ Dương Văn Phong cho chuyển tỉnh thành Bình Thuận lập từ thời Gia Long ở gần Phan Rí (huyện Hoà Đa) về đóng ở địa phận Phú Tài - Đại Nẫm, huyện Hàm Thuận. Phải đợi đến hơn 60 năm sau, tức là vào năm Thành Thái thứ muời (năm 1898), tỉnh lỵ Bình Thuận mới đổi chỗ, đặt tại làng Phú Tài ở ngoại vi Phan Thiết. Phan Thiết từ lâu vốn được dư luận xa gần coi là một châu thành, thì nay mới chính thức đặt thành thị xã (centre urban), tỉnh lỵ của Bình Thuận sau khi có đạo dụ của vua Thành Thái ra ngày 20-10-1898 (cùng một ngày thành lập các thị xã Thanh Hoá, Vinh, Huế, Hội An, Quy Nhơn). Bộ máy thống trị của Pháp ở Bình Thuận do một tên công sứ (résident) đứng đầu cùng cơ quan làm việc - gọi tắt là "toà sứ" - đặt thường trực tại Phan Thiết. Công việc đầu tiên mà bọn cầm quyền Pháp phải làm là sắp xếp lại thị xã Phan Thiết. Vì bước sang đầu thế k XX - mãi đến năm 1905 - thị xã này vẫn chưa xác định rõ ranh giới.<br /><br />Theo Nghị định số 4-11-1910 của toàn quyền A.Klobukowski, Phan Thiết bao gồm 16 làng xã. Cụ thể bên hữu ngạn sông có: Đức Thắng, Thành Đức, Nhuận Đức, Nam Nghĩa, Lạc Đạo, Tú Long; bên tả ngạn sông có: Long Khê, Phú Trinh, Trinh Tường, Đảng Bình, Quảng Bình, Thiện Mỹ, Thiện Chánh, Xuân Hoà, An Hải, Sơn Thuỷ (năm làng sau trước đây thuộc khu vực Phố Hài). Nay có thêm mấy địa danh mới như Nam Nghĩa, Quảng Bình là do số dân Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Quảng Bình di cư vào Phan Thiết ngày càng đông, hình thành các vạn, hộ trên địa bàn làng Thành Đức và làng Long Bình. Và do sự điều chỉnh, sáp nhập mới nên có vài tên làng rất xưa như Long Bình, Minh Long không tồn tại nữa. Tuy vậy cũng chưa ổn, vì chỉ tám năm sau, theo Quyết định ngày 6-1-1918 của Khâm Sứ Trung Kỳ Charles thì Phú Hài (tên gọi mới của Phố Hài) phải tách ra khỏi Phan Thiết để nhập về tổng Lại An của huyện Hàm Thuận.<br />Bộ máy chính quyền ở Phan Thiết được quy định: đứng đầu là viên công sứ Pháp ở Bình Thuận kiêm chức đốc lý (résident-maire) vừa là Chủ tịch Ủy ban thành phố (conmission municipale), Phó Chủ tịch Ủy ban là viên tuần vũ; các ủy viên do Khâm Sứ Trung Kỳ chọn; và Ủy ban chỉ có chức năng tư vấn. Bên dưới có một bang tá trực tiếp làm việc với quan Đốc lý Pháp và quan tỉnh của Nam triều. Mỗi phường có một phường trưởng thuộc quyền của bang tá. Ngoài phường trưởng còn có các hương chức khác thừa hành công vụ như của các làng xã ở phủ, huyện.<br />Vào thời ấy, Phan Thiết có số dân chừng 25.000 người (trong tổng số trên 10 vạn dân của Bình Thuận). Bên cạnh đại đa số người Việt, có khoảng trên 700 Hoa Kiều và Minh Hương, 60 người Âu và một số ít người Ấn..<br /> <br /> <br />... Và Thành phố Phan Thiết hôm nay .... <br /> <br /> THẮNG CẢNH BÀU TRẮNG (BẠCH HỒ) - BÀU SEN <br />Bàu Trắng là một hồ nước ngọt, trưóc đây thuộc xã Bình Nhơn, huyện Hòa Đa, Tỉnh Bình Thuận, nay thuộc thôn Hồng Lâm, xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình cách Phan Thiết khoảng 62km về hướng Đông Bắc.<br />Bàu Trắng hình thành từ lâu đời, nằm giữa vùng đồi cát rộng mênh mông xen lẫu nhiều nhóm cây rừng thấp. Nước trong hồ rất ngọt và trong. Từ xa nhìn lại một màu xanh mát dịu phủ lên những đồi cát trắng. Bàu Trắng chia thành 2 phần bởi một đồi cát vắt ngang qua. Nhân dân ở đây từ xưa đã gọi là Bàu Ông và Bàu Bà, mặc dầu bàu nước do thiên nhiên tạo nên, nhưng trong dân gian vẫn tỏ lòng biết ơn vì đã cung cấp nguồn nước nuôi sống con người (một số ngưuời Chăm đã sử dụng nguồn nước trong hồ làm nuớc sinh hoạt của họ) và động vật rừng ở đây vào mùa khô. Nơi sâu nhất của Bàu Trắng là 19m và cạn dần về phía bờ. Quanh bờ có nhiều bông sen, vào mùa hạ sen nở rộ tô thêm cho vùng cát trắng những màu sắc rực rỡ.<br />Bàu Sen thuộc xã Hoà Thắng, huyện Bắc Bình (Bình Thuận), cách thành phố Phan Thiết chừng 40km về hướng Ðông Bắc. Bàu Sen còn có tên gọi dân dã khác là Bàu Bà (bởi cách bàu này một dãy cát có một hồ nhỏ hơn gọi là Bàu Ông) hay Bàu Trắng (bởi nằm giữa ba động cát trắng), còn các thi nhân gọi là Bạch Hồ. <br /><br />Ðể đến Bàu Sen - Bạch Hồ, du khách có thể đi bằng hai đường: đi xe đặc chủng từ Hòn Rơm (dài khoảng 12km), hoặc từ thành phố Phan Thiết theo quốc lộ 1A đến thị trấn Lương Sơn, có ngã ba, rẽ phải chừng 18km là đến nơi. Ði đường nào cũng có cái thú, cái hấp dẫn riêng, nhưng đi hướng Lương Sơn thì đẹp hơn, bởi xe chạy băng qua những ngọn đồi trọc, lúc lên cao, lúc xuống thấp, xuyên qua các cánh rừng sò đo, rừng dừa xanh mướt trên những động cát trắng thơ mộng.<br /><br />Khi xe còn chạy trên đồi cao, thoạt tiên bên tay trái hiện ra một đầm nước mênh mông trông như biển hồ, nước xanh thẳm đến “nhức mắt” (nếu du khách đi đúng vào lúc trưa), trải dài tuyệt đẹp, ai cũng phải ngạc nhiên, trầm trồ và không thể không ngắm nhìn. Bàu Sen dài 3km, nơi rộng nhất 500m, độ sâu trung bình 5m, rộng 70ha, được bao bọc bởi những động cát. Ðộng cát ở đây đẹp hơn Mũi Né, bởi cát thuần khiết một màu trắng tinh anh, mịn màng.<br /><br />Ngư dân địa phương cho biết, hệ sinh vật ở Bàu Sen rất phong phú, có nhiều loại cá nước ngọt rất ngon. Trong hồ còn có loại cá trắm cỏ nặng đến 30kg! Ngày xưa ở đây còn có cả cá sấu, nhưng con cá sấu cuối cùng đã được bắt cách đây 25 năm. Sen ở đây mọc tự nhiên, hầu như nở cả bốn mùa. Mỗi năm người dân địa phương thu hoạch cả tấn hạt sen để làm mứt, nấu chè trong những dịp tết.<br /><br />Ðến với Bàu Sen - Bạch Hồ, bạn có thể thuê chiếc xuồng của ngư dân ven vùng dạo chơi, ngắm cảnh trên hồ, hay câu cá cũng rất thú vị. Nếu thích tắm, nước ở đây trong vắt, mát lạnh, sạch sẽ. Còn muốn cắm trại, bên phía bờ Bắc có khu rừng dương mát rượi, bạn tha hồ mắc võng nằm nghỉ ngơi, đàn hát. Ðừng quên mang theo máy chụp hình để ghi lại những bức ảnh tuyệt đẹp mà không phải nơi đâu cũng có. <br />Bàu Trắng không chỉ là nơi cung cấp nước ngọt mà còn là thắng cảnh đẹp ở khu vực Hòa Thắng-Băc Bình. Với nguồn nưóc mát quanh năm đã làm dịu đi cái không khí nóng bỗng của đồi cát mênh mông là thắng cảnh đẹp mà bất cứ ai đến vùng này đều phải ghé thăm.<br /><br />VẠN THỦY TÚ<br />Vạn Thủy Tú được ngư dân Thủy Tú thiết lập vào năm Nhâm Ngọ 1762 để thờ Ông (cá voi). Lúc mới xây dựng xong cửa vạn sát ngay bờ biển, ngày nay bờ biẻn đã lùi xa ra ngoài 100m.Ngày nay Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông, phường Đức Thắng, Tp. Phan Thiết.Khác với những đình làng thường xây để thờ Thành Hoàng làng, còn vạn, dinh lại thờ Cá Ông (cá Voi) và thường xây dựng ngay trước bờ biển của làng Ngư.Theo ngư dân Bình Thuận cá Ông là vị thần cứu giúp ngư dân mỗi khi gặp tai nạn trên biển, và là vị thần chung thủy với Ngư dân nên được Ngư dân kính yêu và tôn trọng.<br /><br /> Vạn Thủy Tú từ ngày xây dựng xong đến nay đã chứa gần 100 bộ xương cá Voi và nhiều loài khác cùng họ. Hơn một nữa các bộ xương đó có niên đại trên 100 -150 năm, trong đó có những bộ xương to lớn được thờ phụng tôn nghiêm. Trong khuôn viên của Vạn có một doi đất rộng, dùng để mai táng Cá Ông mỗi khi ông "lụy" và dạt từ biển vào. Mỗi lần mai táng xong, sau 3 năm mới được thương cốt nhập tẩm theo phong tục.Trong số ngư dân hễ người nào trông thấy Ông trước thì người đó làm con trưởng của Ngài, và nguời này phải lo đám tang chu đáo, để tang sau 3 năm mới hết hạn v.v... <br /><br /> Bí mật của những bộ hài cốt “Ông Nam Hải”<br /> <br />... Người nổi tiếng "có duyên" nhất Vạn Thuỷ Tú là ông Nguyễn Sáu - thường gọi là ông Sáu Vẹo - một ngư phủ đã gặp "Ông" lụy không dưới 15 lần. Có lần kéo lưới lên, thấy "Ông" mắc lưới, ông Sáu đành bỏ mẻ cá ấy để đưa "Ông" ra; nhưng đến hai lần sau vẫn thấy "Ông" chui vào trở lại, ông Sáu cho rằng "Ông" sắp luỵ nên đã chọn mình để ký thác xương cốt. Ông Sáu đành bỏ chuyến biển hôm ấy để đưa "Ông" vào bờ, lên Ngọc Lân thánh địa trong đình Vạn Thuỷ Tú nằm chờ chết... <br /><br /><br /> <br />Bộ ngà<br /> <br />Những ngày đầu năm này, hàng ngày có nhiều người dân Phan Thiết lui tới đình Vạn Thuỷ Tú để xem việc phục chế bộ xương cá voi lớn nhất Việt Nam. Công việc được tiến hành ở ngôi đình có 240 năm tuổi, gần bằng thời gian thành lập tỉnh Bình Thuận. Dự kiến công trình phục chế bộ xương cá voi còn nguyên cặp ngà ấy sẽ khánh thành vào dịp lễ Tế Xuân, ngày 20/2 âm lịch (22/3/2003).<br /><br />Thông tín viên BinhThuantoday đã tới ngôi đình độc đáo còn lưu giữ khoảng 600 bộ hài cốt cá voi này.<br /><br />Từ xa xưa, ngư dân duyên hải miền Trung có tín ngưỡng thờ cúng cá voi như vị thần hộ mệnh. Với sự tôn kính đặc biệt và nhớ ơn loài cá khổng lồ qua những truyền thuyết cứu nạn người đi biển khi gặp bão to sóng dữ, họ gọi cá voi là "Ông Nam Hải".<br /><br />Khoảng sau năm 1693, theo chân những đoàn quân nhà Nguyễn, những ngư phủ vùng Nam, Ngãi, Bình, Phú… đã đưa gia đình lên thuyền xuôi về phương Nam, đổ bộ lên cửa biển Phố Hài lập nghiệp. Khi những cộng đồng ngư dân đã an cư, ngoài việc lập đình thờ Thành hoàng và chư vị tiên hiền như những làng xã chuyên sống bằng nghề nông, họ còn lập đền miếu thờ Ông Nam Hải. Trải qua bao dâu biển đổi thay, bên hữu ngạn cửa sông Phan Thiết ngày nay - thuộc phường Đức Thắng, thành phố Phan Thiết - có một ngôi đình toạ lạc tại số 20A đường Ngư Ông được xếp hạng di tích cấp quốc gia vào năm 1996 là Đình Vạn Thuỷ Tú.<br /><br />Đình được dựng lên vào năm Nhâm Ngọ (1762), mặt hướng ra biển Đông. Kiến trúc đình nhỏ và bình thường như những đình làng khác ở miền Trung, nhưng bên trong có nhiều điểm khác biệt. Hương án chính giữa đình Vạn Thuỷ Tú thờ Nam Hải cự tộc Ngọc Lân tôn thần; bên trái thờ Thuỷ Long thánh phi nương nương tôn thần và bên phải thờ Thái hiệu tiên sư tôn thần. Cạnh chính điện còn có miếu thờ đức Quan thánh. Phía sau là những phòng lưu trữ, bảo tồn chừng 600 bộ hài cốt của các "Ông", "Bà" và "Cậu", là những hải thần phò trợ, cứu mạng người đi biển theo quan niệm của ngư dân. Theo ông Nguyễn Xèng - một lão ngư 69 tuổi, gốc người Quảng Điền (Thừa Thiên-Huế), ngư dân địa phương gọi cá Ông lớn là Ông Nam Hải, nhỏ là Cậu; gọi các loài rùa biển là Bà sống khến, Bà Năm, Bà Bảy... Những vị hải thần này thường tấp vào bờ để "luỵ" (chết), cũng có khi chui vào lưới của các ngư phủ khi sắp "luỵ". Hàng năm, ngư dân Thuỷ Tú cũng vớt được "Ông" hoặc các "Bà" luỵ, có năm tới 6-7 trường hợp cả ven bờ và trên biển…<br /><br /><br /> <br />Trong đình có 600 bộ xương cá voi<br /> <br />Người nổi tiếng "có duyên" nhất vạn Thuỷ Tú là ông Nguyễn Sáu - thường gọi là ông Sáu Vẹo - một ngư phủ đã gặp "Ông" luỵ không dưới 15 lần. Có lần kéo lưới lên, thấy "Ông" mắc lưới, ông Sáu đành bỏ mẻ cá ấy để đưa "Ông" ra; nhưng đến hai lần sau vẫn thấy "Ông" chui vào trở lại, ông Sáu cho rằng "Ông" sắp luỵ nên đã chọn mình để ký thác xương cốt. Ông Sáu đành bỏ chuyến biển hôm ấy để đưa "Ông" vào bờ, lên Ngọc Lân thánh địa trong đình Vạn Thuỷ Tú nằm chờ chết.<br /><br />Ngọc Lân thánh địa là nghĩa trang chôn cất thi hài các vị hải thần mới chết, trước khi được bốc mộ rửa sạch xương cốt đưa vào thờ phụng trong đình. Đó là một khoảnh đất có hàng rào bao quanh nằm trước sân đình, bên trong có một am nhỏ để thắp hương và nhiều loại hoa được trồng xen giữa 24 ngôi mộ đắp đất. Hàng năm, đình Vạn Thuỷ Tú có 5 kỳ tế lễ vào các ngày âm lịch: 20-2 (Tế Xuân); 20-4 (Cầu ngư); 20-6 (Chính mùa); 20-7 (Chèo dọc) và 23-8 (Mãn mùa, cúng giỗ Ông).<br /><br />Không chỉ những ngư phủ mới tin vào sự phù trợ của các vị hải thần như một tín ngưỡng dân gian mang tính truyền thống. Các vị vua nhà Nguyễn cũng ghi nhận công lao đó với 24 điệu sắc thần. Trong số đó, riêng vua Thiệu Trị ban tặng đến 10 điệu sắc thần, còn lại là của các đời vua Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định... Những điệu sắc thần viết trên giấy thủ công - trong đó, 10 bản đã có hơn 150 năm tuổi nhưng vẫn được giữ gìn cẩn trọng, nguyên vẹn trong ngôi đình Vạn 240 năm tuổi này. Đình Vạn Thuỷ Tú hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển cộng đồng cư dân nghề cá vùng hữu ngạn cửa sông Phan Thiết do các bậc tiền bối để lại. Trong đó, có chiếc chuông đồng đúc vào năm Nhâm Thân (1872), đến nay đã được 130 năm; thân chuông có dòng chữ "Tự Đức nhị thập ngũ niên - Xuân quý giáo đáng - Thuỷ Tú Vạn - Bổn Vạn đồng ký".<br /><br />Trong hàng trăm bộ hài cốt lưu giữ tại đình Vạn Thuỷ Tú có hai bộ xương cá voi rất lớn. Tài liệu cũ chép rằng: "Thuở mới lập Vạn xong, một hôm Ngài bị luỵ ở ngoài khơi trôi về ngay trước cửa Vạn. Vì Ngài lớn quá (dài hơn 20m, nặng tới vài chục tấn) nên mãi hai ngày sau, với sự giúp sức của ngư dân các làng lân cận đến giúp mới tẩm liệm xong cho Ngài". Ông Nguyễn Xèng lại kể rằng: "Khi Ngài lụy, bạn chài nhiều làng đang đánh cá cùng phát hiện và tranh nhau đưa về thờ phụng. Lúc ấy, Vạn Thuỷ Tú đông người, nhiều ghe nên đưa được Ngài về vùng nước cạnh hòn Lao (trước mặt đình Vạn) rồi đóng cọc buộc giữ xác ngài để thuỷ táng vì không có cách nào kéo lên bờ được. Sau ba năm mới đưa xương cốt Ngài vào đình bảo quản, thờ phụng". Theo ông Xèng, bộ xương lớn nhất (dài hơn 18m) có niên đại chừng 110 năm, bộ lớn thứ nhì (dài 14m) của Ông luỵ năm 1953.<br /><br />Hiện nay, UBND thành phố Phan Thiết giao cho Phòng Văn hoá Thông tin làm chủ đầu tư công trình phục chế, lắp dựng bộ xương cá voi lớn nhất đặt tại đình Vạn Thuỷ Tú, dự kiến sẽ khánh thành vào dịp lễ Tế Xuân, ngày 20/2 âm lịch (nhằm 22/3/2003). Ông Đào Văn Chừ - Trưởng phòng VHTT thành phố Phan Thiết cho biết, đã tham khảo, tìm hiểu nhiều nơi, cuối cùng chọn phương án nhờ sự hỗ trợ của Viện Hải Dương Học (HDH) Nha Trang, giao cho DNTN Lê Vũ (Nha Trang) thiết kế, thi công phục chế, lắp dựng bộ xương cá voi này. Ông Đào Tấn Hỗ - Trưởng phòng Bảo tàng HDH Nha Trang cho biết:" Bộ xương cá Ông này sau khi phục chế có lẽ là bộ xương lớn nhất ở nước ta và cũng có thể lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học đến nghiên cứu và khách du lịch đến chiêm ngưỡng".<br /><br /><br /> <br /><br /> <br />Hàng ngày, nhiều người dân địa phương thường lui tới đình Vạn Thuỷ Tú xem việc phục chế đang được tiến hành kể từ đầu tháng 1/2003. Một người dân nói: "Cả đời tôi chưa được tận mắt thấy nguyên hình bộ xương Ông Nam Hải. Tôi thấy rất vui khi ngay tại đây sẽ có một công trình ý nghĩa như vậy. Tuy nhiên, việc chặt bỏ cây cổ thụ để xây dựng ngôi nhà để đặt bộ xương Ngài choán hết nửa sân đình Vạn Thuỷ Tú như vật thiệt cũng uổng vì cảnh quan bị phá vỡ, che khuất cả ngôi đình cổ xưa nhất Phan Thiết này. Rồi đây, những ngày tế lễ hàng năm của Vạn cũng sẽ gặp nhiều trở ngại vì sân đình quá chật hẹp".<br /><br />Đình Vạn Thuỷ Tú là di tích văn hoá tín ngưỡng địa phương có niên đại sớm nhất ở Phan Thiết và cả tỉnh Bình Thuận - tính đến nay đã được 240 năm, gần bằng thời gian thành lập tỉnh Bình Thuận - là kiến trúc đánh dấu sự hình thành và phát triển nghề cá và cộng đồng ngư dân địa phương, một bộ phận quan trọng trong cơ cấu xã hội ở Phan Thiết, Bình Thuận.<br /><br />Về việc phục chế bộ xương cá voi ở Vạn Thuỷ Tú<br /><br />- Năm 1995, một bộ xương cá voi dài gần 18m đã được phục chế, lắp đặt tại Viện Hải Dương Học (HDH) Nha Trang. Lúc ấy, bộ xương cá voi này được coi là có kích thước lớn nhất được phát hiện ở Việt Nam. Thực ra, bộ xương cá voi lớn nhất ở đình Vạn Thuỷ Tú đã được bảo quản, lưu giữ từ nửa sau thế kỷ 19 có kích thước lớn hơn nhưng chưa được các nhà quản lý và giới khoa học biết đến. Theo ông Đào Tấn Hỗ - Trưởng phòng Bảo tàng Viện HDH Nha Trang - dù công việc phục chế đang tiến hành, chưa có được số đo chính xác nhưng có thể xác định chiều dài bộ xương ở Vạn Thuỷ Tú dài hơn 18m.<br /><br />-Bộ xương ở Viện HDH Nha Trang bị vỡ nhiều xương sườn và không có cặp ngà. Bộ xương ở Thuỷ Tú còn nguyên cặp ngà quý giá nhưng thiếu khá nhiều đoạn xương sống và xương đầu bị vỡ, sứt nhiều chỗ do quá trình dịch chuyển và chất những bộ xương khác chồng lên. Để khiêng bộ xương đầu ra khỏi hậu đình, đem ra nhà võ ca để phục chế, gần hai chục thanh niên lực lưỡng phải gồng mình hết sức mới nhấc lên nổi.<br /><br />- Bộ xương ở Vạn Thuỷ Tú thiếu: 14/63 đốt xương sống; 4/30 chiếc xương sườn; 4 đốt xương treo, 13 đốt xương chi trước và 8 xương móng, vi.<br /><br />- Công nghệ composite được dùng phục chế bộ xương cá voi ở Vạn Thuỷ Tú, có khả năng chịu đựng khí hậu vùng biển nhiệt đới tốt hơn thạch cao đã dùng cho bộ xương ở Viện HDH Nha Trang. Toàn bộ khung đỡ, giá treo dùng inox. Bục đế hình chiếc thuyền bằng gỗ hương. Mặt sàn lót mica với hệ thống đèn chiếu tạo hình ảnh sóng biển. Thiết kế và thi công do DNTN Lê Vũ (Nha Trang) đảm nhận với sự tư vấn về khoa học của các ông Đào Tấn Hỗ và Chu Anh Khánh (Viện HDH Nha Trang).<br /> <br /> <br /><br />Vạn Thủy Tú là một trong những dinh, vạn cổ xưa nhất của Bình Thuận, được ngư dân làm biển coi như thủy tổ nghề biển. Vạn Thủy tú còn là một trong những di tích cổ có số lượng lớn sắc phong của các vị Vua triều Nguyễn ban tặng để thờ cá Ông và các vị Hải Thần. Vạn Thủy tú đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sữ cấp Quốc gia năm 1996. <br /><br />ĐẬP ĐÁ DỰNG<br />Được xây dựng từ năm 1958, chắn ngang dòng sông Dinh nối với hai bờ Tân An và Tân Bình. Lúc đầu đập xây dài 80m nhưng vài năm sau bị lũ rừng tràn về phá sâu vào bờ tả ngạn nên đập phải kéo dài thêm. Đập Đá Dựng nằm ở vị trí có nhiều khối đá thiên nhiên sừng sững nằm ngổn ngang giữa dòng sông. Đập xây để dẫn nước vào đồng ruộng và chứa nguồn nước sinh hoạt cho cả khu vực Lagi, nhưng với vẽ hoang sơ đã tạo nên cảnh đẹp khá lãng mạn. Lúc mới xây đập có một nhà thủy tạ được xây theo dáng dấp chùa Một Cột ở Hà Nội nằm trên lòng hồ của đập, nhưng sau đó bị lũ cuốn sập-có nhiều năm Đập Đá Dựng bị hoang phế nay được cải tạo, nâng cấp vẫn còn một quần thể đá lô nhô dưới làn nước đập đổ xuống tạo ra những đám mù sương huyền ảo.<br /><br /> HẢI ĐĂNG KHE GÀ<br />Hải Đăng Khe Gà được xây dựng trên đỉnh đảo Khe Gà, đảo có diện tích 5ha ở vùng biển xã Tân Thành, trước thuộc huyện Hàm Tân, nay thuộc huyện Hàm Thuận Nam, cách Phan Thiết 30km về phía Đông Nam. Hải Đăng Khe Gà do một người Pháp tên là Chnavat kỹ sư thiết kế, xây dựng để hướng dẫn tàu thuyền qua lại, khởi công từ tháng 2 năm 1897, đến cuối năm 1898 mớI khánh thành, đến nay vẫn còn một tấm đá hoa cương lớn đặt ngay trước của vào Hải Đăng khắc số 1899. Hải Đăng Khe Gà chính thức hoạt động năm 1900. Nhân viên điều hành gồm có một người Pháp (trạm trưởng) và 8 người Việt canh giữ đèn. Đảo Khe Gà cách bờ biển 500m, những ngày nước ròng, từ bờ biển có thể lội ra đảo được. Lúc triều cường và có gió đi lại rất vất vả. Trên đảo ngọn Hải đăng được xây dựng tương đối đồ sộ, có lẽ đây là ngọn Hải đăng cao nhất trong nước, xây bằng đá hoa cương, hình bát giác. Đá hoa cương xây ở Hải Đăng Khe Gà chưa biết người Pháp đưa từ đâu đến vì trong khu vực này không có loại đá này. Và không phải chỉ những viên đá bình thường có 4 góc mà tất cả những khối đá hoa cương dùng xây Hải đăng đều đã được chạm, khắc thành từng ô, từng hình cụ thể, khớp với nhau. Tháp đèn xây bằng đá cao 35m, độ cao toàn bộ từ mặt đất đến chóp đèn là 41,5m, độ cao từ tầm ngọn đèn đến mặt biển là 65m, kích thước cạnh của tháp (chân tháp) là 2,60m. Trên ngọn tháp có bóng đèn lớn 2000W làm tín hiệu hướng dẫn tàu bè qua lại. <br />Ngoài ngọn Hải đăng, còn có một căn nhà lớn hình vuông mỗi cạnh 40m, dưới nhà là một hầm chứa nước sâu 3m, trước nhà có một cái giếng gọi là giếng Tiên. Từ dưới mép nước biển đến Hải đăng hàng chục bậc tam cấp. Hai hàng hoa sứ dọc theo lối đi và xung quanh chân Hải đăng do người Pháp trồng từ cuối thế kỷ 19 đến nay vẫn còn nguyên, tỏa bóng mát quanh năm. Lên ngọn Hải đăng có 184 bậc thang xoắn ốc bằng thép dẫn đến đỉnh Hải Đăng cùng hàng chục bậc tam cấp lên đến đỉnh đèn, tấc cả đều được đưa từ Pháp sang, kể cả ngọn đèn trên đỉnh, máy phát điện. Hiện nay hòn Đảo Khe Gà và ngọn Hải Đăng đã và đang trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách. Bởi Hải Đăng Khe Gà vừa là thắng cảnh vừa là di tích kiến trúc độc đáo.<br /><br /> CHÙA NÚI TÀ-CÚ <br />Chùa tọa lạc trên đỉnh núi Tà Cú ở độ cao 475m thuộc xã Tân Lập, Huyện Hàm Thuận Nam, cách Tp. Phan Thiết khoảng 30km về phía Ðông-Nam. Chùa Núi được xây dựng từ thế kỷ 19, nãm 1879 nhưng trước đó nhiều nãm đã có chùa thờ Phật bằng mái tranh vách đất. Chùa Núi do nhà sư Trần Hữu Ðức trụ trì, nơi xây dựng chùa do nhà sư chọn, ở đó quanh nãm có cây xanh, suối chảy, chim vượn ở ngay cạnh chùa. Về sau có nhiều lý do khác nhau, chùa tách thành hai, chùa cũ gọi là chùa Trên với tên gọi là Linh Sơn Trường Thọ và chùa Dưới có tên là Linh Sơn Long Ðoàn, gọi chung là Chùa Núi. <br />Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng làm nên khu danh lam thắng cảnh từ xưa. Toàn thể cảnh chùa là một tổng thể kiến trúc bao gồm: Cổng Tam Quan, điện thờ, tượng Phật, tháp mộ, hang Tổ, …. ẩn mình dưới rừng cây cổ thụ xanh tươi bốn mùa. <br /><br /> Từ dưới chân núi, leo lên hàng trãm bậc tam cấp theo những con đường ngoằn ngoèo giũa rừng già mới đến chùa. Ở ðây không khí trong lành, mát lạnh, hơi nước toát ra từ núi đá với không khí lạnh mát hấp dẫn trong mùa hè. Chùa Núi nổi tiếng cũng nhờ vào phong cảnh hùng vĩ nên thõ của núi rừng. Mặt khác, Chùa Núi còn có pho tượng Phật nằm khổng lồ:” Thích Ca nhập niết bàn” nằm ở vị trí cao nhất cách chùa khoảng 100m. Tượng Phật này thuộc vào pho tượng Phật hiếm có trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Tác phẩm do kỹ sư Trương Ðình Ý chủ trì vào nãm 1962.<br />Cách Pho Tượng Phật nằm chừng 50m là nhóm tượng Tam Thế Phật: A Di Dà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí. Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7m, với nét mặt hiền hòa đang nhìn bao quát thế gian như để sẳn sàng cứu nhân độ thế.Vào các mùa trong nãm lúc nào cũng có khách thập phương đến viếng Phật, ngắm cảnh chùa và rừng núi, nhất là dịp Xuân về Tết đến có hàng vạn người kéo ðến chùa. <br />Huyền thoại Linh sơn Tà Cú<br />Vùng đất cực Nam Trung bộ có nhiều di tích lịch sử văn hóa, nhưng với Linh Sơn Trường thọ trên núi Tà Cú (thuộc huyện Hàm Thuận Nam) lại mang một bản sắc rất riêng. Từ cảnh quan thiên nhiên đến những truyền thuyết như hòa quyện vào nhau để Tà Cú càng thêm hoang sơ và quyến rũ.Thắng cảnh di tích Tà Cú nằm ở vị trí đầu mối các tuyến đường giao thông: từ thành phố Hồ Chí Minh ra và các nẻo đường từ Vũng Tàu đi qua Suối nước nóng Bình Châu, Dinh Thầy Thím (Hàm Tân), Mũi điện Khê Gà… rất thuận lợi cho lộ trình hành hương và những chuyến lữ hành du lịch sinh thái. Khách sẽ ngỡ ngàng khi đứng trước cảnh chùa cổ kính, tượng phật trầm tư và dấu thiêng của Tổ sư từ buổi khai sơn cách đây trên 130 năm. Không đợi đến ngày giỗ tổ Hữu Đức hàng năm (mùng 5 tháng mười âm lịch), hoặc Tết nguyên đán mà gần như thường xuyên đều có khách thập phương đến viếng cảnh. Những tốp người lặn lội leo hàng ngàn bậc đá của những đoạn dốc cao kéo dài 2.000m mới đến được một cõi an nhiên đầy bóng xanh của tán lá rừng, lẩn khuất màu mây.<br />Đã có khá nhiều trang viết, bài báo nói về chùa Tà Cú, nhưng với tôi mấy lần lên xuống núi vẫn mang nặng bao điều băn khoăn xung quanh những câu chuyện tưởng chừng bí ẩn. Hỏi chuyện nhà sư trụ trì, rồi gặp những người cao tuổi từng sống dưới mái ngói rêu phong của tổ đình và đến tận chùa Pháp Bửu Đàn (Hàm Tân) để nghe sư bà nói về ngôi chùa tổ cội nguồn. Tôi cảm nhận ra những điều kỳ diệu ở buổi ban sơ mà nhà sư Hữu Đức và các chư hậu tổ đã dày công tạo dựng ngôi chùa, những tượng Phật hoành tráng giữa chốn non cao rừng thẳm.<br />Giữa hoàn cảnh núi cao, khí hậu khắc nghiệt, cách biệt với cư dân thì nhà sư sẽ sống ra sao? nhưng được lý giải từ những môn đồ kế tục rằng: Nhờ pháp thuật cao siêu mà tổ Hữu Đức thuộc dòng Lâm tế chánh tông thứ 40 đạt được sức mạnh chuyển hóa vạn vật xung quanh. Biết bao huyền thoại về tổ Hữu Đức suốt 16 năm khai sơn với sự nhiệm màu của trí huệ, đại hùng. Theo nhiều người truyền tụng, có một bạch hổ luôn phủ phục bên hang Tổ, quấn quít theo chân Tổ bất cứ đi đâu. Mãi cho đến ngày Tổ tịch thì hổ cũng chết theo nên mới có ngôi mộ hổ ở vườn chùa. Trên cánh rừng cạnh chùa có cặp chim hồng hoàng cao cát với bộ lông rất đẹp, xuất hiện từ khi có Tổ. Tiếng chim hót lên cũng là báo hiệu có khách thập phương dưới chân núi sắp lên rồi bay lượn dẫn đường không sai một bước. Bữa ăn hàng ngày của Tổ là lá rừng, rau lũi hái ở vách núi bên hang, nước uống thì lấy từ khe đá. Có người kể về giai thoại của Tổ cho đến sau này, đó là khi xây pho tượng Phật nằm 49m, nhu cầu vận chuyển hàng trăm tấn sắt thép, xi măng lên núi đã khó trong khi khối lượng cát xây phải cần đến gấp chục lần lại giữa địa hình sườn núi đá phủ kín mà không phải đưa từ dưới núi lên. Trước ngày thi công theo thời gian của thợ hồ, sư trụ trì lúc ấy cho trữ nước vào các hồ, mái chứa rồi bít kín các lỗ mạch nước chảy hàng ngày, sáng ra từ các mạch nổi đã trào ra những đụn cát nhuyễn dùng được cho công trình.Vào năm Tự Đức thứ 33 (tức 1880), hoàng thái hậu là bà Từ Dũ lâm trọng bệnh, mắt mù lòa nhưng các ngự y, danh y tài giỏi ở triều đều bất lực. Nhà vua châu tri khắp thần dân trong nước kêu gọi ai cứu được mẫu hậu sẽ trọng thưởng. Bởi tiếng đồn về danh đức, pháp thuật của Tổ từ lâu, nay quan thủ hiến đầu tỉnh Bình Thuận lập tức viết biểu tâu lên vua. Vua Tự Đức hạ chiếu sai sứ xin rước Tổ về triều chữa bệnh cho Hoàng thái hậu. Nhưng vì đã nguyện không bao giờ xuống núi nữa mà Tổ chỉ trao cho sứ thần thảo dược cùng cách sử dụng. Quả là linh nghiệm, sau khi uống hết các chú chuẩn đề và thuốc, Hoàng thái hậu vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, nhanh chóng bình phục. Vua Tự Đức tỏ lòng cảm phục Tổ ban sắc phong bốn chữ “Linh Sơn Trường Thọ” cho nơi Tổ sáng lập và tu tịnh.<br />Tôi lần theo vách đá xuống hang Tổ trong bóng tối âm u chỉ vài chục mét đã thấy hơi lạnh xông lên đến rợn người. Vậy mà Tổ Hữu Đức chọn làm nơi thiền tịnh. Người ta kể, quăng một trái bưởi xuống hang thì vài ngày sau sẽ tìm thấy trái bưởi đó trôi trên biển Khê Gà… Chui vào lòng tượng Phật nằm, len qua những gộp đá hoa cương ở lưng chừng núi mới thấy trí lực của những thiền sư đã khơi dậy sự mầu nhiệm đáp ứng nỗi khao khát của con người. Tà Cú với tiềm năng đa dạng được thiên nhiên ưu đãi nức tiếng linh sơn từ rất xa xưa gắn với những ngày khổ hạnh tu luyện của Tổ Hữu Đức. Nơi đây hiện là một trong những điểm du lịch khá nổi tiếng của Bình Thuận.<br /><br />Những nãm gần đây nãm nào cũng tổ chức hội thi leo núi thu hút nhiều thanh niên từ các tỉnh miền Ðông tham gia. Sắp tới nõi đây sẽ thực hiện dự án cáp treo để đưa du khách lên xuống tham quan được thuận tiện hơn.<br />Chùa Núi cùng với những cánh rừng trong khu Bảo Tồn Thiên Nhiên đã được Nhà Nước xếp hạng thắng cảnh quốc gia nãm 1993.<br /><br /> <br /><br /><br /><br /><!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->CHÙA HANG<!--sizec--></span><!--/sizec--><br /> Chùa Hang (Cổ Thạch): Chùa Hang còn gọi là Chùa Cổ Thạch, tọa lạc tại bờ biển xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, cách Tp. Phan Thiết 105km về hướng Bắc. Chùa được xây dựng trong hang đá lớn do thiền sư Bảo Tạng lập vào khoảng giữa thế kỷ 19. Đường lên chùa Hang có xây bậc, lan can hai bên chùa đắp rồng. Trên núi đá nhỏ sát bờ biển có tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong chùa có tượng Đức Phật Thích Ca. Cạnh chùa là bãi đá Cà Được nhiều màu sắc chạy dọc bờ biển gần 1km. Xung quanh chùa Hang cảnh quan tuyệt đẹp, một làng du lịch Cổ Thạch mới mọc lên với nhiều ngôi nhà xinh xắn được xây theo kiểu nhà sàn để đón khách phương xa về viếng chùa và thưởng ngoạn thắng cảnh.<br /><br /> Cổ Thạch là một vùng núi đá rộng, gồm hàng ngàn, hàng vạn tảng đá lớn nhỏ, có tảng đá nguyên khối to như những ngôi nhà, có tảng giống như bàn Thạch, có những tảng chồng lên nhau, úp vào nhau, như có bàn tay con người sắp đặt, bố trí, có những tảng đá có hình thù kỳ lạ đầy tính cách huyền bí và chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo với nhiều hang động nguyên sinh luồn sâu vào trong núi. Chùa Cổ Thạch ngoài vẻ đẹp tự nhiên của hang động kết hợp với sự sáng tạo của con người, ở đây còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa lịch sử quý hiếm: nhiều di sản văn hóa Hán Nôm liên, đối, hoành phi và những tài liệu có từ ngày lập chùa. Một số cổ vật có giá trị lịch sử văn hóa khác như Đại Hồng chung, trống sấm đều có niêm đại từ nửa đầu thế kỷ 19. <br />Chùa Hang hàng chục năm nay do Hòa Thượng Thích Minh Đức trụ trì là điểm du lịch chính ở Bình Thuận, hàng chục vạn du khách từ mọi miền đất nước và du khách nước ngoài đến đây hàng năm để chiêm bái, lễ Phật và tham quan danh lam thắng cảnh độc đáo hiếm có ở đây. Những giá trị về thắng cảnh thiên nhiên và về lịch sử văn hóa, Cổ Thạch Tự đã được Nhà nước xếp hạng di tích thắng cảnh cấp Quốc gia năm 1993. <br /><br />DINH THẦY THÍM<br />Dinh Thầy Thím tọa lạc giữa khu rừng già, có tên là rừng dầu Bàu Cái thuộc xã Tân Hãi, huyện Hàm Tân cách Thành phố Phan Thiết khoảng 70 km về phía Đông Nam. <br />Tương truyền trong dân gian: Dưới Triều vua Tự Đức có hai vợ chồng đạo sĩ quê ở làng La Qua, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đạo sĩ là người giàu tài đức, hay giúp đỡ người nghèo khó, căm ghét bọn quan lại hay ức hiếp dân làng, chống lại chế độ đương thời. Ông bị Triều đình Tự Đức kết tội gây rối, mưu toan bạo loạn và chịu hình phạt "Tam ban Triều Diễn". Trước lúc bị hình phạt này, Đạo sĩ đã "biến" dãi lụa điều thành rồng bay về phương Nam. Hai vợ chồng dừng chân ở làng Tam tân, ngày ngày bốc thuốc chữa bệnh cho dân và đốn củi kiếm sống qua ngày. Tài đức của vị Đạo sĩ nổi tiếng khắp vùng, từ đó dân làng gọi vợ chồng Đạo sĩ bằng cái tên thân mật "Thầy, Thím". Hàng năm vào ngày 5 tháng giêng âm lịch, người ta thường thấy một đôi hổ thường về viếng mộ Thầy.<br />Đến đời Thành Thái thứ 18 năm Bính Ngọ (1906), nhà vua đã xem xét lại công đức Thầy Thím nên quyết định xóa án và ban sắc phong "Chí Đức Tiên Sinh, Chí Đức Nương Nương Tôn Thần". Để tỏ lòng tôn kính và biết ơn công lao của Thầy Thím, dân làng đã lập dinh tại địa điểm ngày nay để tôn thờ. Nhân dân quanh vùng coi Thầy Thím như vị Thành Hoàng biểu hiện cho nhiều tính cách đáng quý: tài đức, tính cần cù, miệt mài lao động, lòng nhân ái với người nghèo khổ. Hơn 100 năm qua Dinh Thầy Thím trở thành nơi để nhân dân chiêm bái, những năm gần đây là khu danh lam thắng cảnh và du lịch kết hợp với núi rừng xung quanh bãi biển, đồi dương. Hàng năm nhân dân khắp nơi đến viếng mộ thăm Dinh, nhưng đông nhất vẫn là dịp giỗ Thầy ngày 5 tháng giêng âm lịch và tế Thu của Dinh từ ngày 14-16 tháng 9 âm lịch.<br />Dinh Thầy Thím được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận công nhận và ra quyết định bảo vệ khu danh lam thắng cảnh số 1377-QĐ/UB-BT ngày 6/12/1993 và Bộ Văn Hóa Thông Tin đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1997.<br /><br />LẦU ÔNG HOÀNG<br />Lầu Ông Hoàng bao gồm một quần thể đồi núi, sông, biển, chùa tháp tạo thành khu danh lam thắng cảnh nổi lên với ngọn núi Cố tương đối cao và 4 ngọn đồi nhấp nhô sát biển, đẹp nhất là núi Cố, đồi Bà Nài, cửa sông Phú Hài và bờ biển cùng những làng chài xưa cách Phan Thiết 7km về hướng Đông Bắc.<br />Năm 1911 một ông Hoàng người Pháp là công tước De Montpensier từ Pháp sang du lịch, săn bắn ở những ngọn đồi lân cận, thấy phong cảnh sơn thủy đẹp ở đây khiến ông nảy sinh ý định mua đất và xây dựng biệt thự, cũng để có nơi nghỉ nghơi trong các kỳ săn bắn và du lịch sau này. Nguyện vọng của ông đã được nhà cầm quyền pháp ở Bình Thuận (công sứ Garnier) đồng ý bán quả đồi Bà Nài. Ngày 21 tháng 2 năm 1911 biệt thự được khởi công xây dựng và gần 1 năm sau đó hoàn chỉnh, với diện tích rộng 536m2 chia thành 13 phòng. Khu biệt thự được xây cách nhóm đền tháp PôSaNư gần 100m về phía Nam. Đây là khu biệt thự đẹp, đầy đủ tiện nghi, ban đêm có máy phát điện dưới biệt thự có nhiều hầm chứa nước mưa đủ cho những nguời trong biệt thự dùng trong 1 năm, được coi là hiện đại nhất Bình Thuận lúc bấy giờ. Từ đó nhân dân Phan Thiết quen gọi khu vực này là đồi "Lầu Ông Hoàng". Vài chục năm sau thi sĩ Hàn Mạc Tử đã đến địa danh này và đã để lại nhiều kỉ niệm khiến cho Lầu Ông Hoàng càng có ý nghĩa. Hiện nay, Lầu Ông Hoàng là một quần thể du lich hấp dẫn bao gồm: Nhóm Tháp Chăm Cổ, bên cạnh có chùa Bửu Sơn cổ kính, dưới chân đồi là bờ biển, cửa sông Phú Hài, núi Cố.... Tất cả hợp thành một quần thể di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh của Phan Thiết.<br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />"KỲ ẢO SUỐI TIÊN"<br />Suối Tiên Hàm Tiến là nơi giao thoa của màu sắc thiên nhiên. Phía bên này chạy ra biển bạc sóng là màu xanh ngút mắt của dừa, của cỏ. Chạy theo dòng nước ra tới biển là bạt ngàn thảm muống biển nở hoa tím. Chen trong dừa xanh có hàng anh đào, mùa xuân nở hoa phơn phớt hồng, cứ ngỡ như buổi sáng mùa xuân Đà Lạt. Có lần chạy ra Mũi Né, đi qua Suối Tiên thấy ngào ngạt hoa bưởi, hoa chanh, ghé vào thấy cả vườn chanh ra hoa trắng như tuyết thơm lừng.Còn phía bên kia suối là đồi cát trải dài, biến đổi theo đường đi của gió lộng, có lúc như bình nguyên, lắm khi là dốc thẳm. Từ đây vệt lửa cháy trên cát chạy băng băng tới tận Hàm Thuận Bắc, Tuy Phong, có khi nhào ra biển như những hàm răng của rồng lửa. Và trên tất cả là bầu trời xanh ngát bình yên.<br />Đặc sản Suối Tiên lại là con Giông, sinh vật ngoan cường của vùng cát. Chính con giông đã dựng lên một phong tục nơi đây có thể gọi hội giông. Hội giông thường diễn ra trước tết ÐOAN NGỌ ( 5-5 ÂM LỊCH) một thời gian. Chính xác là khi giông nước mưa đầu mùa rơi xuống làm bừng tỉnh thiên nhiên. Những chú giông bao ngày năm im trong hang nhấm đuôi mình, giờ lao lên mặt cát nhấm nháp những con kiến cách, mối cánh béo ngọt. Chỉ vài ngày sau, các chú giông choai béo lẳn.<br />Dân Hàm Tiến Mũi Né có thể chế biến đủ món ăn từ con giông: bánh xéo, cà ri, nướng, rán, ram, kho dừa. Và ngay cả đám cưới, nếu thiếu món giông này thì coi như chưa đủ vị. được biết nhiểu cánh bắt giông bằng bẫy hay đào, nhưng tôi thích nhất cách làm của một cậu bé vê lá cỏ tranh làm thành tiếng vi vi, ri ri như tiếng dế vừa lãng mạn vừa lung linh.<br />Suối Tiên vẫn chảy kỳ ảo và nên thơ dưới mỗi bước chân người tới đây.<br /><br /> THẮNG CẢNH HÒN RƠM<br />Từ TP.Phan Thiết đi Mũi Né (22km), rồi theo đường bờ biển thêm 4km nữa các bạn sẽ đặt chân đến khu du lịch Hòn Rơm. Bờ biển sạch đẹp, nước biển trong xanh, êm ả, lời ru của gió mơn man qua những rặng dừa mát rượi, trịu quả. Những đồi cát vàng, cát trắng nối tiếp nhau ….. Tất cả đã tạo nên vẻ hoang sơ quyến rũ, mời gọi các bạn đến với điểm du lịch nổi tiếng này cùng chinh phục sa mạc cát, và các bạn còn được nhìn thấy nét đẹp kiêu hãnh của suối Hồng bên cạnh những đồi cát hùng vĩ. <br /><br />NGẢNH TAM TÂN (HÀM TÂN)<br />Đó là một đoạn bờ biển đẹp thuộc xã Tân Hải (Hàm Tân), có bãi cát rộng phẳng, mịn màng và nhiều mỏm đá nhô lên mặt sóng đó từng bầy chim về phơi cánh tung tăng. Câu chuyện về những người tù vượt Côn Đảo, trên chiếc bè tắp vào bờ biển, trong đó có nhà cách mạng Tú Kiên sau này là Bí thư kỳ bộ Tân Việt Nam Kỳ được dân địa phương cứu thoát. <br /><br />Thuở đầu nhà Nguyễn Trung Hưng ở đây có một đồn binh được truyền lại câu thơ buồn như lời than thở" <br /><br />"Phong táp sơn yên truyền pháo hưởng<br />Triều phiên hải giác trợ bề thanh"<br />(Gió thổi trên lưng núi như tiếng súng vọng về, từng làn sóng âm vang dội về góc biển). <br /><br />Bờ biển Tam Tân còn giữ được cảnh quang sinh thái, những cây dương liễu xanh liên hoàn với địa danh dốc Ông Bằng, với dinh Thầy Thím đã trở thành điểm du lịch, nghỉ ngơi của khách mọi nơi.<br /><br /> THẮNG CẢNH HÒN BÀ (HÀM TÂN)<br />Là một hòn đảo nhỏ nằm cách bờ biển khoảng 2 cây số, Hòn Bà có hình dáng con Rùa khổng lồ đang ngẩng đầu vươn mình trên sóng biển. Hòn bà là ngọn núi trẻ, trên núi có nhiều cây cổ thụ lớn. Quanh năm cây xanh cổ thụ rợp bóng và là nơi trú ngụ của loài chim biển mỏi cánh bay về. Trên đảo có thờ Bà Chúa Ngọc Thiên Y A diễn bà với nguyên bản là một tảng đá tự nhiên mang hình dáng người mà người dân địa phương gọi là tương bà. Hàng năm vào ngày 23 tháng 3, ngư dân tổ chức lễ vía bà rất long trọng. Từ huyền thoại đầy tính sử thi về sự thủy chung, ghen giận, phân ly để rồi còn lại dấu vết Hòn Bà như một dấu chấm than buồn trên biển sóng mênh mông. <br /> Nữa đầu thế kỷ XVII người Chăm đã dựng lên một ngôi đền thờ nữ Thần Thiên Ya Ana - vị thần thiêng liêng của Vương Quốc Chăm-pa cổ. Cũng từ đây hòn đảo có tên gọi là Hòn Bà. Ngôi đền thờ có kết cấu kiến trúc và trang trí nghệ thuật giống như ngôi miếu của ngườI Việt cùng thời. Trong ngôi đền thờ, tượng nữ Thần Thiên Y Ana bằng đá, được các nghệ nhân Chăm tạc từ một khối đá nguyên tại chỗ. Việc thờ tượng Bà ở trên đỉnh Hòn Bà thể hiện sự tôn vinh của người Chăm với Nữ Thần. Mặt khác ở những thế kỷ trước đây, nghề biển là nghề chính thu hút đông đảo ngư dân Chăm ven bờ mà dấu vết của những làng ngư cổ vẫn còn. Do vậy, việc thờ tượng nữ Thần ở đây là sự cầu mong cho nữ thần phù hộ, cứu nạn cho họ trên biển. Hàng năm người Chăm ở các nơi thường đến đây làm lễ cầu mưa và các nghi lễ tôn giáo khác.<br /><br /> Hòn Bà người ta biết đến và ngưỡng mộ không phải chỉ bằng chính ngôi đền cổ mà bởi ở đây là hòn đảo cheo leo giữa biển hấp dẫn mọi người bằng chính cảnh đẹp của nó cộng với sự hùng vĩ mênh mông của biển cả và đồi dương bên trong bờ càng làm cho phong cảnh ở đây đẹp thêm.<br />Hòn Bà đuợc ví von là Động Tiên sa vì nơi đây dưới chân đảo là những tảng đá muôn hình muôn vẽ chồng chất lên nhau tạo ra những hang động huyền ảo. Tiếng sóng vỗ vào khe đá giữa gió đại dương ầm ào để Hòn Bà càng thêm hoang sơ và thơ mộng. <br /><br />THÁP CHÃM PÔSANƯ<br />Nhóm ðền Tháp Chãm PôSaNư tọa lạc trên ðồi Bà Nài thuộc xã Phú Hải về phía Ðông-Bắc cách Tp. Phan Thiết khoảng 7km ðược người Chãm xây dựng từ những cuối thế kỷ IX thuộc phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa Lài - một trong những phong caáh kiến trúc nghệ thuật cổ của Vương quốc Chãm-pa, mà hiện nay những ngôi tháp này còn lại rất ít nhý một số phế tích ở khu thánh ðịa Mỹ Sõn, còn lại nhóm Hòa Lai (Phan Rang) nhóm PôDam (Tuy Phong - Bình Thuận) và tương ðối nguyên vẹn là nhóm ðền tháp PôSaNư.<br />PôSaNư là nhóm ðền tháp Chãm có vai trò quan trọng trong các di tích kiến trúc Chãm ở Bình Thuận, từ hình dạng kiến trúc ðến kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật trên thân tháp, các vòm cuốn, các cửa chính, cửa giả, trong lòng và lên ðến ðỉnh tháp. Riêng kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân tháp ðủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt của phong cách Hòa Lai. So với những tháp Chăm khác, đến nay hàng năm vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng lân cận đến làm lễ cầu mưa và những nghi lễ khác liên quan đến phong tục tập quán của họ. Một điều khá lý thú nữa là đối với ngư dân những vùng lân cận truớc khi đi biển cũng đến đây cầu xin cho những chuyến đi biển được bình yên. Nhóm đền tháp Chăm PôSaNư được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1991<br /><br />GÀNH SON: VẺ ĐẸP CHƯA KHÁM PHÁ<br /><br />Gành Son thuộc xã Chí Công, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Mới nghe tên cũng đã gợi cho ta cảm giác cheo leo gập ghềnh với những dãy núi hang động mang nhiều hình thù lạ mắt. Vào buổi sáng tinh sương hay những buổi chiều êm ả, biển lặng, từ trên gành, có thể nhìn thấy toàn cảnh sinh hoạt ấm cúng, nhộn nhịp của làng chài. Màu đỏ của đá, màu xanh của biển như hoà lẫn vào nhau tạo nên một sắc thái hài hoà vừa gần, vừa xa, vừa hư lại vừa thực... Gành Son quả là một tặng vật của thiên tạo chưa được nhiều người biết đến.<br /><br />Cà Ná - một thắng cảnh biển <br /><br /> <br /><br /><br /> <br />Nằm cách Phan Rang 30 km về phía Nam, Cà Ná với vịnh biển được ôm ấp bởi một vòng cung dải cát vàng dài 3 km, bên cạnh biển là núi xanh trùng điệp, đây là một trong những nơi lý tưởng cho tắm biển, trị liệu, du lịch núi và du lịch làng chài. <br /><br />Chưa hết, dọc thềm biển nhô lên vài cụm đá, chấm phá vài loại cây vùng khô hạn Nam Trung bộ, theo đó, một hệ thống hạ tầng khách sạn, nhà nghỉ kiểu sàn Tây Nguyên, dịch vụ ăn uống đặc sản biển và các tuyến tham quan…Tất cả đều được xây dựng sát quốc lộ 1A, tạo thuận lợi cho du khách khi đến tham quan.<br /><br />Cách khoảng 3 km về phía Đông Đông Bắc bờ biển Cà Ná là làng biển Lạc Nghiệp. Đây là một trong những làng biển lâu đời dọc ven biển hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, nó cùng với làng Vĩnh Hy, làng La Gàn được xếp vào những làng chài lâu đời nhất của người Việt vùng Nam Trung bộ.<br /><br />Cạnh làng biển Lạc Nghiệp là Xí nghiệp muối Cà Ná, một địa điểm sản xuất muối công nghiệp lớn nhất ở Việt Nam. Ngoài khơi cách Cà Ná chừng 10 km về hướng Nam là Cù Lao Câu (còn gọi là Đảo Cái Hồn người), ở đó hoàn toàn là một đảo đá với cỏ và dứa dại. Trên đảo có nhiều chim muông, dưới thềm đảo có nhiều loại hải sản quý, nhưng ngon nhất và lạ nhất như ốc nhảy, loại ốc có càng như cua. Đảo này thực sự là một “vệ tinh” du lịch kỳ thú của Cà Ná.<br /><br />DU LICH ĐẢO PHÚ QUÝ<br />Có lẽ Phú Quý là đảo duy nhất hiện nay còn lại những cánh buồm. Phương tiện chuyên chở khách du lịch đi tham quan là loại xe đặc chủng GMV, đón khách tại bến tàu và đưa đi len lỏi trong con đường cái hẹp có những ngôi nhà tập trung đông đúc trong những ngõ xóm nhỏ bé với những giếng nước có đông người địa phương. Khu dân cư ở phía bắc đảo, ẩn mình sau các hàng cây dày đặc là những dãy phố cát trắng xóa, trải dài. Trên đảo không có khách sạn, nhà trọ, các dịch vụ du lịch cũng không. Mọi hoạt động kinh tế sôi nổi đều do những cơn gió mùa mang đến từ phía nam, tạo điều kiện cho tàu thuyền ghé đảo.<br />VẠN TAM THANH là nơi còn lưu giữ lại bộ xương CÁ ÔNG khổng lồ cùng với tập tục thờ thần Nam Hải. Cuộc sống ở xóm đảo càng nhộn nhịp thì ngoài vùng ven thị trấn lại càng vắng lặng, suốt con đường dẫn lên núi Cao Cát là một vùng đất đỏ bazan màu xanh của dứa, loại cây vốn một thời từng là loại cây xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao, giờ đã mất thị trường, người dân chuyển qua trồng các loại cây có giá trị kinh tế khác nhằm tăng thêm thu nhập để trang trải cuộc sống, trao đổi hàng hóa để lấy lương thực và một số hàng thực phẩm xa xỉ khác ở các tàu thuyền từ đất liền ra, ngoài việc kiếm thu nhập từ việc đánh cá, mò ngọc trai.... trên biển thì đây chính là một trong những nguồn sống của dân đảo.<br /><br />Núi Cao Cát được dân đảo xem như ngọn núi thiêng, tọa lạc ở phía Bắc thị trấn, nơi được chọn để đặt tượng Phật Bà Quan Âm rất uy nghi. Từ trên đỉnh Cao Cát, du khách có thể phóng tầm mắt suốt cả vùng không gian rộng lớn quanh đảo, những vôi cát trắng trải dài nằm phơi mình bên làn nước xanh màu ngọc bích, xa xa những cánh buồn màu trắng hình tam giác đang căng mình đón gió ra sức đưa thuyền của người dân chài ra khơi cùng với đoàn thuyền đang thả neo nằm im lìm ở kè đá, tạo nên một bức tranh rất hoàn mỹ cho hòn đảo của hai nền văn hóa Sa Huỳnh và Chăm-pa này. Những tảng đá khổng lồ, công cụ hữu hiệu chắn gió của thị trấn, giờ đây dưới sự xâm thực của thiên nhiên
hoabinh
14-05-2013, 10:55 AM
ĐÔI NÉT VỀ LỄ HỘI<br /><br /><br />Là một trong số ít những lễ hội phía Nam được đưa vào từ điển Lễ hội Việt Nam, Lễ hội Dinh Thầy Thím với khung cảnh thiên nhiên hữu tình và nét đặc sắc của riêng mình, đã mỗi ngày thêm thu hút đông đảo du khách gần xa. <br /><br />Từ thị trấn Lagi-Hàm Tân-Bình Thuận về hướng Đông Bắc 12km, bằng nhiều phương tiện, bạn sẽ đến dốc Ông Bằng. Con đường nhỏ dẫn vào Dinh Thầy Thím xuyên qua rừng tràm, trên những xe bò đôi ngộ nghĩnh, bạn sẽ nghe nhiều huyền thoại về Thầy Thím. Đó là truyền thuyết về vợ chồng đạo sĩ giàu tài đức, vì bị kết tội oan, phải dùng lụa vẽ rồng bay về phía Nam lánh nạn. Dừng chân tại làng Tam Tân, họ sống bằng nghề đóng thuyền, chữa bệnh cứu người, tài đức nổi tiếng xa gần. Vào năm Thành Thái 18, nhà vua đã xóa án và sắc phong Thầy Thím: CHÍ ĐỨC TIÊN SINH, CHÍ ĐỨC NƯƠNG NƯƠNG, TÔN THẦN.Có nhiều câu chuyện xoay quanh phép thuật của Thầy, nhưng bên trong lớp vỏ của những huyền thoại ấy là tấm lòng nhân nghĩa, không chỉ với con người mà như từ điển đã ghi "Làm bạn và cảm hóa được cả muông thú..." Làng Tam Tân xem Thầy Thím như Thành hoàng của mình, lập Dinh thờ vào năm 1879. Đây là di tích có giá trị về nhiều mặt. Các công trình kiến trúc với nghệ thuật điêu khắc chạm trỗ, các trang trí nội thất thể hiện rõ nét kiểu cách kiến trúc cung đình. Các tượng đá, bạch hổ, hắc hổ, các phù điêu tứ linh... được bố trí hài hòa, tạo nên sự linh thiên và thiên nhiên thật gần gũi.Thường nhật, có nhiều du khách vãn cảnh Dinh Thầy Thím, nhưng lễ Tế Thu mới thực sự là ngày hội không chỉ của người địa phương mà thu hút hàng vạn khách hành hương từ Thành Phố Hồ Chí Minh, miền Đông, Tây Nam Bộ. <br /><br />Lễ hội kéo dài 3 ngày (từ 14 - 16/9 Âm lịch). Khói hương nghi ngút, tiếng chuông trầm mặc như đưa du khách vào sâu thẳm của thế giới tâm linh. Lễ hội có nhiều trò vui cuốn hút mọi người như: Chèo bả trạo, diễn xướng tích Thầy, biểu diễn võ thuật, lân múa thi tài... tạo nên một tâm thế hội thật vô cùng sôi động. Xin "lộc" Thầy, phóng sanh thả chim về rừng..., âu cũng là cách thế tạo dựng niềm tin, tìm sự thanh thản cho tâm hồn. Đến với lễ hội, ngoài giải tỏa tâm linh còn là dịp giao tiếp với cộng đồng.. Trong thời gian diễn ra lễ hội, khu rừng quanh Dinh tràn ngập tiếng nói cười, đó là thế giới riêng của nam thanh nữ tú từ các nơi tìm về với lòng ngưỡng mộ sâu sắc. Họ đến đây để giao lưu, kết bạn, cởi mở tấm lòng, đàn hát khoe tài. Trong tiếng lá xào xạc, dưới ánh trăng ảo huyền, nhiều tình yêu đã được bắt đầu từ đây. <br /><br />Không gian bao la với bãi biển thơ mộng phía trước, sau là rừng già tĩnh mịch, bữa ăn dân dã với vài đặc sản biển, giữa khung cảnh sơn thủy hữu tình, khiến cho tân hồ ta như được chấp thêm đôi cánh. <br /><br />Từ những truyền thuyết về lòng nhân ái, những tình cảm tốt đẹp của con người đã được thăng hoa. Niềm thành kính, thiên nhiên, những cuộc vui đã trở thành nét riêng ở lễ hội Dinh Thầy. Du khách đã đến một lần sẽ thầm hẹn trở về với mùa hội năm sau<br /><br /><br /> <br /> <br /> <br /><br /> <br /> <br /> <br /><br />Hàng năm, vào ngày 15-16 tháng 9 âm lịch, tại đền Dinh Thày, Hàm Tân, Bình Thuận diễn ra lễ hội lớn nhân dịp giỗ Thầy Thím. Tích xưa kể rằng, vào thế kỷ XIX có hai vợ chồng quê ở Quảng Nam thường chữa bệnh giúp dân lành bằng pháp thuật. Sau khi qua đời, nhớ công hai vị: nhân dân trong vùng bèn lập đền thờ.<br /><br />Ngày nay, trong lễ hội, người dân địa phương thường đến Dinh để câu nguyện, xin xăm, xin lá số rất đông, thành một nét văn hoá đặc sắc thu hút nhiều người ở những nơi khác tham gia.<br /><br /> <br /> <br /><br /> <br />Đây được Xem là lễ hội quan trọng và có quy mô lớn nhất của người Chăm theo đạo Bàlamôn, tổ chức vào tháng 8- 9 âm lịch tại các lăng tẩm, đền miếu và các gia đình đồng bào Chăm ở Bình Thuận.<br /><br /> <br /><br />MBăng Katê là lễ tết tưởng nhớ thần linh, các anh hùng, tổ tiên, các vị vua có công với nước đã được thần thánh hoá như: PoKlong, Ga rai, Pôrômê.... Đây cũng là dịp ác nhân dân hành hương, tổ chức gặp mặt, thăm viếng và thờ phụng tổ tiên. Trong lễ hội thường có các nghi thức như lễ dâng cúng và rước thần, đội mũ, mặc áo và tắm cho tượng. Cuối buổi lễ là lúc mọi người ngâm thơ, chơi nhạc hưởng lộc và tham gia nhiều trò chơi giải trí khác.<br /><br />Một vài hình ảnh về ngày hội văn hóa dân tộc Chăm <br /><br /><br /> <br /> <br />Biểu diễn dệt thổ cẩm.<br /> Giới thiệu các sản phẩm từ thổ cẩm Chăm.<br /> <br /><br /> <br />Giới thiệu một số nhạc cụ truyền thống của người Chăm.<br /> <br />Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm tỉnh Bình Thuận diễn ra từ 25 - 28/9 tại huyện Bắc Bình. Ngày hội đã thu hút sự tham gia của các nghệ nhân làng nghề truyền thống, những hạt nhân trong phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng ở huyện Bắc Bình, Tuy Phong và Hàm Thuận Bắc. Thông qua những hoạt động trưng bày triển lãm văn hóa truyền thống và sưu tập cổ vật, liên hoan văn nghệ quần chúng, trình diễn trang phục dân tộc... góp phần gìn giữ nét văn hóa nghệ thuật của đồng bào Chăm ở Bình Thuận.<br /><br /> <br /><br /> <br /> <br /><br /> <br /><br />Là lễ hội truyền thống của người Chăm diễn ra tại các làng xóm vùng dân tộc Chăm Bà Nị .<br /><br />Lúc trời vừa tối thì cũng là lúc dân làng làm lễ cầu yên, tống tiễn những điều không may của năm cũ, nguyện cầu những điều tốt lành sẽ đến trong năm mới. Sau phần nghi lễ là các tiết mục văn nghệ và các trò chơi dân gian của người Chăm. Bên cạnh lễ Cầu Yên, lễ Cầu Đảo, lễ Rija-nu-ga, lễ Đắp Đập, lễ Cấm Phòng... cũng là những lễ hội của người Chăm thường được tổ chức hàng năm.<br /><br /> <br /><br />LỄ HỘI NGHINH ÔNG<br /><br />Về lễ hội, trước năm 1975 ở Phan Thiết có lễ hội dân gian lớn nhất là lễ hội "Nghinh Ông" ở chùa Ông. Năm 1996 lễ hội này được tổ chức lại, đã thu hút hàng chục ngàn người từ khắp nơi. Lễ hội Nghinh Ông được coi là di sản văn hóa phi vật thể của Quốc gia, do quy mô và các giá trị lịch sử văn hóa của nó và do sự ngưỡng mộ rộng lớn của cả người Hoa và người Việt. Từ bao đời nay, chùa Ông là nơi mà những ngày Tết cổ truyền của dân tộc, nhân dân lại tụ tập ở đây để cầu cho một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, làm ăn may mắn của mọi người, mọi nhà.<br /><br /><br /> <br />Lễ hội Nghinh Ông<br /> <br /><br /> <br /><br /> <br /><br />"Dưới sông sắp đặt ghe đua<br /><br />Trên bờ sửa soạn miếu chùa Trạo ca "<br /><br /> <br /><br /> <br /><br />Chèo Đưa Linh hay Chèo Bá(Bả) Trạo ra đời từ việc tín ngưỡng thờ cá Ông( cá Voi ) của người Chăm. Đây là hình thức nghi lễ được tổ chức ở trên bờ với đội hình xếp thành hình chiếc ghe, vừa chèo, vừa hát xướng những lời cầu nguyện mong cá Ông ban cho quốc thái dân an, thuận buồm xuôi gió, mùa màng làng vạn no đầy. Càng về cuối, lễ hội càng trở nên sôi động và cuốn hút với nhiều tích trò diễn tả cảnh lao động và sinh hoạt của ngư dân trên biển. Hơn 3 thế kỷ qua, Chèo Bá Trạo đã trở thành một hoạt động văn hoá truyền thống không thể thiếu trong cuộc sống của người dân Bình Thuận<br /> <br /><br /> <br /> <br /> <br /><br /> <br />Hàng năm cứ vào mùng 2 tết Nguyên Đáng, trên sông Cà Ty thành phố Thiết lại diễn ra hội đua thuyền. Cùng với chèo bá Trạo, hội đua thuyền trở thành một nét văn hóa đặc sắc của người dân khi xuân về trên mảnh đất này.<br /><br />Từ trên bờ sông nhìn xuống, những đội thuyền đua được trang trí bằng cớ hoa và biểu ngữ rực rỡ muôn sắc màu hòa lẫn trong tiếng trống, tiếng nhạc cùng tiếng reo hò cổ vũ của người xem tạo nên một không khí rộn ràng sôi động mang đậm nét văn hoá truyền thống của địa phương.<br /> <br /><br /><br /><br /><br />Là người yêu cảnh đẹp và thích phiêu du, bạn hãy một lần chinh phục đồi cát Mũi Né. Càng đi ra xa bạn càng cảm nhận được nét kỳ vĩ cùng với sự bao la vô tận của đất trời, tạo vật. Tất cả chỉ có nắng gió và cát với nhiều màu sắc và hình hài độc đáo. Đây quả là một nơi lý tường để bạn tìm thấy cho mình niềm hứng khởi và sự thư thái<br /><br /> <br /><br /> <br /><br /><br />Đây là phương tiện không dành cho người yếu tim! Với đường kính từ 3 - 4 m thuyền thúng có thể chở được từ 4 đến 10 người ! Phải là người dũng cảm và có kinh nghiệm thì bạn mới điều khiển được thuyền đi theo ý mình. Những khu vực biển lặng là nới lý tưởng nhất cho những ai muốn tập chèo loại thuyền này. <br /><br /> <br /><br /> <br /><br />Phước Lộc là vạn chài được hình thành khá sớm ở Hàm Tân. Nơi đây quy tụ hơn 500 chủ thuyền và hàng ngàn lao động biển. Người dân Phước Lộc rất thông thạo nghề đánh bắt hải sản. Họ xuôi ngược gần như không sót ngư trường rộng lớn , xa xôi nào trong cả nước. Nhưng dù đi đâu, làm gì, vẫn không bao giờ họ bỏ qua ngày hội của mình-lễ hội Cầu Ngư. Tạ ơn biển cả, cầu xin thần Nam Hải cho vụ mùa này may mắn, vui chơi và chúc nhau những điều tốt lành. Lễ hội Cầu Ngư vào Trung tuần tháng âm lịch, là lễ hội tưng bừng nhất của Ngư dân và những người có cuộc sống gắn liền với biển. <br /><br />Trung tâm lễ hội là vạn chài Phước Lộc, nằm hữu ngạn nơi con sông Dinh đỗ ra biển, giúp cho các hoạt động trên biển, bờ, sông nước đều thuận lợi. Lễ hội kéo dài từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 06(âm lịch), nhưng nhiều ngày trước đó, không khí đã nhộn nhịp hẳn lên. Những đội thuyền đua được sơn, sửa, tập dợt.Làng Phước Lộc sau nhiều đời tạo dựng di cốt Thần Nam Hải đã chất đầy một gian của chánh điện và được xem là tài sản thiêng liêng nhất của ngư dân. Tập tục chịu tang, thờ cúng lưu giữ hài cốt cá Voi (Thần Nam Hải) là tín ngưỡng dân gian thể hiện nghĩa cử của ngư dân. Bởi vì cá Voi là vật có nghĩa, cứu người gặp nạn trong những lúc sóng to gió dữ, được tôn thờ và là biểu hiện của sự may mắn. <br /><br />Lễ hội Cầu Ngư bắt đầu bằng nghi thức Nghinh Thần. Hàng chục chiếc thuyền trong đoàn nghinh khởi hành ngay tại trước cổng vạn mang theo kiệu, lễ vật, cờ lộng ra khơi trước Ngài. Đoàn chèo Bả Trạo diễn xướng cảnh đánh bắt. Thuyền lớn, thuyền nhỏ bơi quanh reo hò, như xua đàn cá vào nặng tay lưới. Tiếng trống giục giã. tiếng dô hò “bả trạo này, ráng mà theo nhịp thanh ba” sôi động cả một vùng biển. Sau khi đưa thần nhập điện, mọi người đổ ra sông hào hứng tham gia các cuộc tranh tài truyền thống: lắc thúng, đua thuyền, bơi lội hoặc các bộ môn thể thao như bóng đá, bóng chuyền trên những bãi triều vừa rút. Trong tiếng reo cổ vũ của hàng ngàn người, các chàng trai làng chài như vạm vỡ hơn, khỏe hơn. Các cô gái chẳng còn thẹn, họ có thể bá vai la hét đến khàn giọng khi đội nhà hoặc người mình thương đang về gần đích.<br /><br />Đến lễ hội Cầu Ngư ta còn thưởng thức nghệ thuật hát tuồng đặc sắc của vùng biển miền Trung. Một sân khấu rộng lớn được dựng ngay chính điện thờ Nam Hải để phục vụ cho việc diễn tuồng. Nếu như lễ hội kéo dài 3 ngày thì hát Bộ có thể kéo dài một tuần hoặc lâu hơn. Đây vừa là nghi thức diễn cho Thần Nam Hải, vừa đáp ứng nhu cầu quần chúng nhân dân vốn đa số xuất thân từ vùng Bình-Phú. Lễ hội Cầu Ngư ngoài việc tế lễ khi bước vào vụ mùa còn là sự ghi ơn các vị Tiền hiền và là dịp trao đổi nghề nghiệp.<br /><br />Ta bắt gặp đây đó hình ảnh Ngư Ông cùng các chàng trai bàn về luồng lạch, đường dây cứu nạn trong mưa bão…. Người miền biển thành kính với thần linh và sống rất thật lòng. Điều đó dễ thấy khi họ tế lễ, lúc đánh trống chầu, hay cố níu tay bạn mời về nhà thưởng thức món bánh tráng cuốn cá nục đầu mùa, hay con mực xanh tươi nào đó họ dành cho quý khách.<br /><br />Lễ hội Cầu Ngư làng Phước Lộc là sinh hoạt mang đậm nét vă hoa vùng biển. Những động tác múa, câu hò, nghi lễ đều cần sức trẻ và được giới trẻ tham gia nhiệt tình. Điều đó lý giải tại sao lễ hội có sự lôi cuốn, đoàn kết và sức sống mạnh mẽ đến thế.<br /><br />Quanh năm lao động trên biển miệt mài, vui chơi thư giản trong những ngày lễ hội, để rồi mang theo niềm tin may mắn, thắng lợi vào vụ mùa, lại bắt đầu những chuyến ra khơi. <br /><br /><br /><br />Nằm cách TP. Hồ Chí Minh 3 giờ ôtô theo quốc lộ I về Phía Bắc là ngã Ba 46. Từ đây, con đường xuôi về thị trấn La Gi sẽ đưa chúng ta vào không gian lễ hội. Từ xa, Hòn Bà bềnh bồng như con rùa biển vươn mình trên sông<br /><br />Đảo Thiên Y tục gọi Hòn Bà là Đảo nhỏ cách đặt tên Ihaily, cây cối xanh tươi bao lấy ngôi đền cổ với nhiều tượng thờ : Thiên Y A Na, Chùa Chàng râu, Phật Thích Ca và Phật Quan Âm. Hơn 200 bậc đá dẫn du khách quanh co giữa những tầng cây chen đá , chợt hiện lên trước mắt đỉnh cao của Đảo, nhìn ra từ bể máy nước mênh mông. Từ đỉnh cao Phật Quan Âm, Phật Thích Ca hướng mặt vào bờ , từ bi nhìn dòng người nhỏ bé đang trẩy hội dâng hương Chùa Chàng Râu. Thiên YA Na trầm tư nhìn ra biển cả như nhớ chuyện tình buồn từ bao thế kỷ xa xưa . Có nhiều truyền thuyết vế Thiên Y A Na như ở Tháp Bà, Nha Trang, Hòn Chen (Huế). Nhưng vùng biển này còn lưu một truyền thuyết khác, không thiên về nguồn gốc của Bà , mà như lý giải về sự hình thành vùng đất và mang tính triết lý sâu xa về cuộc sống. Ngày xưa có 02 vợ chồng sống đầm ấm bên nhau. Nhưng hạnh phúc không phải là điều giản đơn hàng ngày. Nghe lời con chim la mách bảo, chàng lặng lẽ mang nó ra đi . Mòn mỏi chờ chồng qua nhiều ngày tháng, sau cơn mê thấy chàng say mê bao tiên nữ, nàng giận kẻ bạc tình, hất văng nồi nước đang sôi trên bếp lữa. Đó là đầm nước nóng ngày nay. Khi nàng dậm chân một phần đất tách ra thành rùa biển đưa nàng ra khơi, đoạn tuyệt với kẻ bạc tình . Đó là Hòn Bà, Người đàn ông sau những cuộc vui, ân hận muộn màng, hóa thành ngọn núi Ông ngậm ngùi nhìn biển mênh mông. <br /><br />Lễ hội Hòn Bà kéo dài từ 22 đến 23.3 (âm lịch). Nhưng nhiều ngày trước đó, khách hành hương đã kéo về chuẩn bị cho ngày hội chính. Mặc dù thờ nhiều vị thần, nhưng hoạt động chủ yếu vẫn diễn ra ở Điện thờ Bà với những nghi thức chính của lễ hội. Lễ hội gồm có hát múa Bá trạo tế Bà, thả thuyền giấy, đua thuyền và một vài sinh hoạt múa hát của các bóng cô như nhiều nơi thờ Bà trong ca nước. Ngoài ra, còn có nghi thức tế lễ chùa Chàng Râu do người Chăm thực hiện. Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi : “Đảo ấy (chỉ Hòn Bà) chu vi 200trượng, cao 30 trượng , cây cổ thụ xum xuê, trên đỉnh núi cổ ngôi đền có thờ tượng đá A Diễn Ba người Việt ngày nay vẫn thờ A Diễn Ba (Po-Ino-Nogar) và gọi là bà Chúa Ngọc “ <br /><br />Thật đáng yêu : Những nét mặt ngư dân đưa đón du khách viếng Bà, nếu gởi tiền họ sẽ mỉm cười và … lắc đầu. Họ tin rằng làm như thế sẽ được mùa và may mắn cả năm. Trong lúc thong dong trên thuyền máy, du khách sẽ được nghe nhiều huyền thoại. Những ngềnh đá quanh Hòn Bà tạo cho du khách một cảm giác của biển Nha Trang. Nếu không vội lắm du khách có thể ghé Đồi Dương với những đồi thơ mộng tiếp nối đôi, nhâm nhi một chút gì đó với vài đặc sản hoặc đùa với con sóng nhỏ để quên đi những muộn phiền. <br /><br />Lễ hội Hòn Bà đi vào lòng du khách theo cách riêng của mình. Một tính cácg biển, một cuộc sống làm thăng hoa và lung linh huyền thoại, một không khí trong lành, một bữa ăn dân dã và những nụ cười sẽ để lại những ấn tượng ngọt ngào khó quên. <br />Lễ hội Ramưwan<br /><br /> <br />Cầu nguyện đón mặt trời lặn trong lễ hội Ramưwan. <br />Lễ hội Ramưwan có những nét riêng biệt, mang đậm tín ngưỡng riêng của người chăm Hồi giáo, không hề theo “nguyên” bản của người Hồi giáo ở các nước Ảrập. Do vậy, quan niệm về lễ hội Ramưwan như một truyền thống văn hóa lâu đời của người Chăm là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển chung của nền văn hóa Việt Nam “thống nhất trong đa dạng”, như Nghị quyết Trung ương 5 (khóa 8) đã nêu. Cứ vào dịp giữa tháng 8, về các làng Chăm ở Phan Hòa, huyện Bắc Bình (xã thuần Chăm Hồi giáo) hoặc các thôn Cảnh Diễn, Thanh Kiết, Châu Hanh ta gặp một không khí lễ hội Ramưwan tràn ngập khắp Plây Chăm. Bắt đầu thôn Bình Hòa – xã Phan Hòa cuối cùng là diễn ra ở Plây Chăm Châu Hanh, nơi có thánh đường do Tổng sư cả Thanh Tàu làm tổng lễ. Tất cả diễn ra lần lượt vào các ngày thứ sáu trong suốt 6 tuần ở 6 thánh đường. Lễ hội này còn gọi “Kinh hội xoay vòng” tiếng Chăm gọi là “Sút Yâng”. Đây là một trong 5 lễ hội có ý nghĩa quan trọng nhất của chuỗi lễ hội Ramưwan. Lễ hội Sút Yâng có ý nghĩa quan trọng bởi nó là dịp để đồng bào Chăm Hồi giáo thể hiện lòng tôn kính đối với các bậc tổ tiên, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Lễ hội diễn ra ở thánh đường nào thì tất cả các tu sĩ trong vùng đều tập trung ở đó. Bà con dòng họ các nơi cũng nhân dịp này mà thăm viếng, chúc nhau. Sau đợt lễ Sút Yâng, có hai vị tu sĩ được thụ phong là ông Char được lên chức Khotíp, còn một ông Khotíp khác thì lên chức Mưm. Chính hai vị mới được tấu chức này sẽ chủ trì tất cả các buổi lễ cho đến mùa lễ hội Ramưwan.<br /><br /> <br />Đi tảo mộ. (ảnh: Ngọc Lân) <br />Trong thánh đường là vậy, nhưng khắp các đường làng không khí vui tươi nhộn nhịp hơn ngày thường. Các bà, các chị, các em gái nhỏ xúng xính trong những bộ trang phục truyền thống rực rỡ sắc màu. Nhà nhà vui vẻ tiếp khách từ các làng xóm lân cận đến thăm viếng, buổi tối thứ sáu, bất kể ở thánh đường nào có lễ hội, đều có một đêm văn nghệ của các trai thanh gái tú Plây Chăm tự biên tự diễn. Sau mùa lễ hội xoay vòng, nhiều đôi uyên ương trở thành chồng vợ. Không khí lễ hội ở làng Chăm nhộn nhịp vui tươi nhưng yên bình và ấm cúng. Với mỗi người chăm Hồi giáo, lễ hội Ramưwan là một phần máu thịt đã thấm sâu vào trong tiềm thức của đồng bào.<br /><br /><br /><a href="http://www.binhthuantoday.com/hinhanh.htm" target="_blank">My Webpage</a>
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.