phulyfap
17-05-2013, 09:48 AM
<!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro--><div align='center'><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>ĐẠO PHẬT</b><!--sizec--></span><!--/sizec--></div><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Vào giữa thế kỷ I TCN, ở Ấn Độ đã xuất hiện một số dòng tư tưởng chống đạo Bà La Môn. Đạo Phật là một trong những dòng tư tưởng ấy.<br /><br /><i>Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Phật là Xitdacta Gôtama (Siddharta Gautama), sau khi thành Phật được đệ tử tôn xưng là Xakia Muni( Thích Ca Mâu Ni), con Vua Sutdodana nước Capilavaxtu ở chân núi Hymalaya, miền đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần của Ấn Độ ngày nay.<br /><br /><br />Năm 29 tuổi, Hoàng tử Xitdacta xuất gia đi tu để tìm kiếm con đường cứu vớt những nỗi khổ của loài người. Đến năm 35 tuổi, Xitdacta đã nghĩ ra được cách giải thích bản chất của tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ đau, do đó cho rằng đã tìm được con đường cứu vớt. Từ đó ông được gợi là " Buddha", ta quen gọi là Phật hoặc Bụt, nghĩa là "người đã giác ngộ", "người đã hiểu chân lý".<br /><br />Về niên đại của Phật, hiện nay đang có những ý kiến khác nhayu. Có một số người cho rằng Phật sinh năm 563 và mất năm 483 TCN; một số người khác thì cho rằng Phật sinh năm 642 và mất năm 544 TCN. Tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN làm năm mở đầu cho cho Kỷ nguyên Phật Giáo.</i><br /><br /><b>a) Học thuyết Phật Giáo.</b><br /><br />Nội dung chủ yếu của học thuyết Phật Giáo được tóm tắt trong câu nói sau đây của Phật Thích Ca:" Trước đây và ngày nay ta chỉ lý giải và nêu ra cái chân lý của nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ". "Cũng như nước đại dương chỉ có một vị là vị mặn, học thuyết của ta chỉ có một vị là cứu vớt".<br /><br />Cái chân lý về nỗi đau khôt và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ ấy được thể hiện trong thuyết<i> "Tứ Thánh Đế" </i> hoặc còn được gọi là " Tứ Diệu Đế", "Tứ Chân Đế", "Tứ Đế", nghĩa là 4 chân lý thánh. Đó là: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.<br /><br /><u><b>Khổ đế:</b></u> là chân lý về các nỗi khổ. Theo Phật, con người có tám nỗi khổ (bát khổ): sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ mình không ưa, xa người mình yêu, cầu mà không được, giữ lấy 5 uẩn(thủ ngũ uẩn).<br /><br />"Uẩn ( skandha) là tập hợp, tích tụ. Đạo Phật cho rằng con người không có thực thể tự nó (vô ngã) mà chỉ là sự tập hợp 5 thứ: Sắc ( vật chất tạo thành thân thể); Thụ (cảm giác); tưởng ( quan niệm); hành (hành động); thức ( nhận thức). Vì con người chỉ là sự tập hợp của 5 thứ đó, nên đó cũng là một nỗi khổ.<br />Như vậy, đối với con người, ngoài khổ đau vô tận, không có cái gì khác!<br /><u><br /><b> Tập đế:</b></u> là chân lý về nguyên nhân của các nỗi khổ, nguyên nhân chủ yế là luân hồi, mà nguyên nhân của luân hồi là nghiệp, sở dĩ có nghiệp là do lòng ham muốn như ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang... ham muốn không dứt thì nghiệp không dứt, mà nghiệp không dứt thì luân hồi mãi mãi.<br /><br /><u><b>Diệt đế:</b></u> là nguyên lý về sự chấm dứt các nỗi khổ. Nguyên nhân của khổ đau là luân hồi, vì vậy muốn diệt khổ thì phải chấm dứt luân hồi. Muốn chấm dứt luân hồi thì phải chấm dứt nghiệp. Đó là món nợ truyền từ kiếp này sang kiếp khác do lòng ham muốn tạo nên, do đó nói vắn tắt, muốn chấm dứt luân hồi thì phải trừ bỏ hết mọi ham muốn. Một khi đã chấm dứt được luân hồi thì sẽ được yên tĩnh, thanh thản, sáng suốt và như vậy đã đạt tới cảnh giới Niết Bàn( Nirvana).<br /><br /><u><b>Đạo đế: </b></u>là chân lý về con đường diệt khổ tức là phương pháp thực hiện việc diệt khổ. Con đường đó gọi là " Bát Chính Đạo" ( 8 con đường đúng đắn), gồm: <br /><br />+. Chính kiến: Tín ngưỡng đúng đắn.<br />+. Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn.<br />+. Chính ngữ: Nói văn đúng đắn.<br />+. Chính nghiệp: Hành động đúng đắn.<br />+. Chính mệnh: Sống đúng đắn.<br />+. Chính tịnh tiến: Mơ tưởng những cái đúng đắn.<br />+. Chính niệm: Tưởng nhớ những cái đúng đắn.<br />+. Chính định: Tập trung tư tưởng ngẫm nghĩ đúng đắn. <br /><br />Chung quy " bát chính đạo" là suy nghĩ, nói năng và hành động đúng đắn.<br /><br />Về giới Luật, tín đồ Phật giáo chủ yếu phải kiêng 5 thứ (ngũ giới):<br /><br />- Không sát sinh.<br />- Không trộm cắp.<br />- Không tà đâm.<br />- Không nói dối.<br />- Không uống rượu.<br /><br />Trong số đó, luật " không sát sinh" là không được giết người, còn giết các động vật thì luật cấm không khắt khe lắm. Phật giáo ban đầu không cấm tín đồ ăn thịt.<br /><br />Tục tín đồ, nhất là các tăng ni phải ăn chay, không được ăn thịt động vật là do Lương Vũ Đế (502 549) của Trung Quốc đặt ra vào thời kỳ đạo Phật thịnh hành ở nước này.<br /><br />Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của thuyết Phật giáo là thuyết Duyên khởi. Duyên Khởi là chữ nói tắt của câu " chư pháp do nhân duyên chi khởi" nghĩa là "các pháp đều do nhân duyên mà có".<br /><br />"Pháp" (dharma) là tất cả mọi sự vật, bao gồm cả vật chất và tinh thần. Giáo lý của Phật cũng là sự vật nên cũng gọi là " Pháp".<br />Còn nhân duyên là nguyên nhân, nhưng trong đó nhân là nguyên nhân chủ yếu, duyên là nguyên nhân phụ. Ví dụ : Sở dĩ một cái cây có thể nảy mầm và phát triển được là nhờ có hạt giống, đất, nước, khí trời, ánh sáng. Trong đó, hạt giống là nhân, đất, nước, khí trời, ánh sáng là duyên.<br /><br />Như vậy, mọi vật đều do nguyên nhân hòa hợp mà thành. Nhưng Duyên do khởi đâu mà có? Học thuyết Phật Giáo giải thích rằng duyên khởi do tâm mà ra. Tâm là gốc của duyên khởi thì cũng là nguồn gốc của vạn vật.<br /><br />Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương " vô tạo giả", đạo Phật còn nêu ra các thuyết " vô ngã", " vô thường".<br /><b>Vô ngã: </b>là không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định. Con người cũng chỉ là sự tập hợp của 5 uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức chứ không phải là một thực thể tồn tại lâu dài. Đây là nội dung thứ hai mà ĐẠO Phật đưa ra để chống lại đạo Bà La Môn, vì đạo Bà La Môn chủ trương có bản ngã.<br /><b>Vô thường:</b> là mọi sự vật đều ở trong quá trình sinh ra, biến đổi, tiêu diệt chứ không bao giờ được ổn định.<br /><br />Như vậy, về thế giới quan, tuy đạo Phật ban đầu chủ trương vô thần( vô tạo giả) nhưng chung quy vẫn là duy tâm chủ quan. Về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp, vì đạo phật cho rằng nguồn gốc xuất thân của mỗi người không phải là điều kiện để được cứu vớt. Mọi người, dù thuộc đẳng cấp nào một khi đã tu hành theo học thuyết của Phật thì đều trở thành một thành viên bình đẳng trong một Tăng đoàn. <br /><br />Đồng thời đạo Phật mong muốn có một xã hội trong đó Vua thì có đạo đức và phải dựa vào Pháp Luật để trị nước, không được chuyên quyền độc đoán, còn nhân dân thì được an cư lạc nghiệp.<br /><br />Như vậy, đạo Phật ban đầu là một học thuyết khuyên người ta phải từ bỏ ham muốn, tránh điều ác, làm điều thiện để được cứu vớt chứ không thừa nhận thượng đế và các vị thần bảo hộ, do đó không cần nghi thức cúng bái và cũng không cần có tầng lớp Thầy cúng.<br /><br /><b>B ) Sự phát triển của đạo Phật ở Ấn Độ.</b><br /><br />Sau khi Phật tịch, đạo Phật được truyền bá nhanh chóng ở miền Bắc Ấn Độ. Để soạn thảo giáo lý, quy chế và chấn chỉnh về tổ chức, từ thế kỷ V-III TCN, đạo Phật đã triệu tập 3 cuộc đại hội ở nước Magada, quốc gia lớn nhất ở Ấn Độ lúc bấy giờ. Từ nửa sau thế kỷ III TCN, tức là sau đại hội lần thứ 3, đạo Phật trước tiên được truyền sang Xri Lanca, sau đó truyền đến các nước như Myanma, Thái Lan, Indonexia...<br /><br />Đến khoảng năm 100 sau CN, đạo Phật triệu tập Đại hội lần thứ 4 tại nước Cusan ở Tây Ấn Độ. Đại hội này thông qua giáo lý của đạo Phật cải cách, và phái Phật giáo mới này được gọi là <b>phái Đại Thừa</b> để phân biệt với phái Phật giáo cũ gọi là <b>phái Tiểu Thừa</b>. <br /><br /><b>Sự khác nhau chủ yếu giữa hai phái biểu hiện ở các mặt sau đây:</b><br /><br /><u>- Phái Tiểu thừa ( Hinayana)</u> nghĩa là "cỗ xe nhỏ" hoặc " con đường cứu vớt hẹp" cho rằng chỉ có người xuất gia đi tu mới được cứu vớt.<br /><br /><u>- Phái Đại Thừa ( Mahayana)</u> nghĩa là " cỗ xe lớn" hoặc " con đường cứu vớt rộng" thì cho rằng không phải chỉ những người tu hành mà cả những người trần tục quy y theo Phật cũng được cứu vớt.<br />- Phái Tiểu thừa cho rằng: chỉ có phật Thích Ca là Phật duy nhất. Việc cứu độ chúng sinh chỉ có Phật mới làm được, những người thường không thể thành Phật.<br /><br />- Phái Đại Thừa cho rằng: Phật Thích Ca là Phật cao nhất, nhưng ngoài phật Thích Ca còn có nhiều phật khác như phật A Di Đà, Phật Di Lặc, phật Đại Dược Sư. Phật A Di Đà hiện đang giáo hóa ở cõi cực lạc Phương Tây. Phật Di Lặc là vị Phật tương lai sẽ nối nghiệp Phật Thích Ca đẻ giáo hóa cõi đời này mà sách Phật gọi là cõi Ta Bà (saha) nghĩa là nơi khó chịu đựng. Phật Dược Sư ở cõi Tĩnh Lưu Li ở phía Đông thế giới chúng ta. Phật Dược Sư thường cứu giúp chúng ta tai quan nạn khỏi.<br /><br />Hơn nữa, phái Đại Thừa cho rằng ai cũng có thể thành Phật và thực tế đã có nhiều người đã đạt đến cõi Phật. Đó là các Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng... Tuy đã thành Phật, nhưng các bồ tát không lên cõi Niết Bàn mà tự nguyện ở lại cõi trần để cứu độ chúng sinh.<br /> <br />- Phái Tiểu Thừa quan niệm: Niết Bàn là cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt, không còn phiền não khổ đau. Phật Thích Ca đã đạt đến cảnh giới Niết Bàn vào năm 35 tuổi, sau đó Phật vẫn tiếp tục sống và hoạt động 45 năm nữa.<br />- Phái Đại Thừa thì quan niệm Niết Bàn là thế giới của các Phật giống như thiên đường của các tôn giáo khác. Đồng thời với quan niệm đó, Phái ĐẠi Thừa còn tạo ra địa ngục, nơi đày đọa những kẻ tội lỗi.<br /><br />Phái Đại Thừa còn đề cao vai trò của tầng lớp tăng ni, coi họ là kẻ trung gian giữa tín đồ và Bồ tát.<br /><br />Từ đó, tượng Phật được tạc đúc rất nhiều, nghi thức cúng bái càng phức tạp hơn, hương hoa cũng được sử dụng trong khi cúng Phật.<br /><br />Sau Đại hội Phật giáo lần thứ 4, các nhà sư càng được khuyến khích ra nước ngoài truyền đạo; do đó đạo Phật càng đượch truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và Trung Quốc. Những thế kỷ tiếp sau đó, Đạp Phật suy dần ở Ấn Độ, nhưng lại được phát triển phần lớn ở Châu Á và đã trở thành Quốc Giáo của một số nước như Xri Lanca, Myanma, Thái Lan, Campuchia, Lào...<br />(st)<!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><u><i><b>P/s: Con đường du nhập của Đạo Phật vào Việt Nam như thế nào? Và điểm đến đầu tiên có phải chính xác là ở Miền Dâu - Bắc Ninh? Còn rất nhiều câu hỏi xung quanh chủ đề này. Các bạn có thể hỏi và có thể trả lời theo hiểu biết của mình tại ĐÂY! <br />Tri thức là của bạn... </b></i></u><!--sizec--></span><!--/sizec-->