PDA

View Full Version : Tản mạn về Đạo Phật - Những điều bạn chưa biết.


lagiangfpc
17-05-2013, 09:53 AM
<!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro--><div align='center'><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>ĐẠO PHẬT</b><!--sizec--></span><!--/sizec--></div><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Vào giữa thế kỷ I TCN, ở Ấn Độ đã xuất hiện một số dòng tư tưởng chống đạo Bà La Môn. Đạo Phật là một trong những dòng tư tưởng ấy.<br /><br /><i>Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Phật là Xitdacta Gôtama (Siddharta Gautama), sau khi thành Phật được đệ tử tôn xưng là Xakia Muni( Thích Ca Mâu Ni), con Vua Sutdodana nước Capilavaxtu ở chân núi Hymalaya, miền đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần của Ấn Độ ngày nay.<br /><br /><br />Năm 29 tuổi, Hoàng tử Xitdacta xuất gia đi tu để tìm kiếm con đường cứu vớt những nỗi khổ của loài người. Đến năm 35 tuổi, Xitdacta đã nghĩ ra được cách giải thích bản chất của tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ đau, do đó cho rằng đã tìm được con đường cứu vớt. Từ đó ông được gợi là &quot; Buddha&quot;, ta quen gọi là Phật hoặc Bụt, nghĩa là &quot;người đã giác ngộ&quot;, &quot;người đã hiểu chân lý&quot;.<br /><br />Về niên đại của Phật, hiện nay đang có những ý kiến khác nhayu. Có một số người cho rằng Phật sinh năm 563 và mất năm 483 TCN; một số người khác thì cho rằng Phật sinh năm 642 và mất năm 544 TCN. Tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN làm năm mở đầu cho cho Kỷ nguyên Phật Giáo.</i><br /><br /><b>a) Học thuyết Phật Giáo.</b><br /><br />Nội dung chủ yếu của học thuyết Phật Giáo được tóm tắt trong câu nói sau đây của Phật Thích Ca:&quot; Trước đây và ngày nay ta chỉ lý giải và nêu ra cái chân lý của nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ&quot;. &quot;Cũng như nước đại dương chỉ có một vị là vị mặn, học thuyết của ta chỉ có một vị là cứu vớt&quot;.<br /><br />Cái chân lý về nỗi đau khôt và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ ấy được thể hiện trong thuyết<i> &quot;Tứ Thánh Đế&quot; </i> hoặc còn được gọi là &quot; Tứ Diệu Đế&quot;, &quot;Tứ Chân Đế&quot;, &quot;Tứ Đế&quot;, nghĩa là 4 chân lý thánh. Đó là: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.<br /><br /><u><b>Khổ đế:</b></u> là chân lý về các nỗi khổ. Theo Phật, con người có tám nỗi khổ (bát khổ): sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ mình không ưa, xa người mình yêu, cầu mà không được, giữ lấy 5 uẩn(thủ ngũ uẩn).<br /><br />&quot;Uẩn ( skandha) là tập hợp, tích tụ. Đạo Phật cho rằng con người không có thực thể tự nó (vô ngã) mà chỉ là sự tập hợp 5 thứ: Sắc ( vật chất tạo thành thân thể); Thụ (cảm giác); tưởng ( quan niệm); hành (hành động); thức ( nhận thức). Vì con người chỉ là sự tập hợp của 5 thứ đó, nên đó cũng là một nỗi khổ.<br />Như vậy, đối với con người, ngoài khổ đau vô tận, không có cái gì khác!<br /><u><br /><b> Tập đế:</b></u> là chân lý về nguyên nhân của các nỗi khổ, nguyên nhân chủ yế là luân hồi, mà nguyên nhân của luân hồi là nghiệp, sở dĩ có nghiệp là do lòng ham muốn như ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang... ham muốn không dứt thì nghiệp không dứt, mà nghiệp không dứt thì luân hồi mãi mãi.<br /><br /><u><b>Diệt đế:</b></u> là nguyên lý về sự chấm dứt các nỗi khổ. Nguyên nhân của khổ đau là luân hồi, vì vậy muốn diệt khổ thì phải chấm dứt luân hồi. Muốn chấm dứt luân hồi thì phải chấm dứt nghiệp. Đó là món nợ truyền từ kiếp này sang kiếp khác do lòng ham muốn tạo nên, do đó nói vắn tắt, muốn chấm dứt luân hồi thì phải trừ bỏ hết mọi ham muốn. Một khi đã chấm dứt được luân hồi thì sẽ được yên tĩnh, thanh thản, sáng suốt và như vậy đã đạt tới cảnh giới Niết Bàn( Nirvana).<br /><br /><u><b>Đạo đế: </b></u>là chân lý về con đường diệt khổ tức là phương pháp thực hiện việc diệt khổ. Con đường đó gọi là &quot; Bát Chính Đạo&quot; ( 8 con đường đúng đắn), gồm: <br /><br />+. Chính kiến: Tín ngưỡng đúng đắn.<br />+. Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn.<br />+. Chính ngữ: Nói văn đúng đắn.<br />+. Chính nghiệp: Hành động đúng đắn.<br />+. Chính mệnh: Sống đúng đắn.<br />+. Chính tịnh tiến: Mơ tưởng những cái đúng đắn.<br />+. Chính niệm: Tưởng nhớ những cái đúng đắn.<br />+. Chính định: Tập trung tư tưởng ngẫm nghĩ đúng đắn. <br /><br />Chung quy &quot; bát chính đạo&quot; là suy nghĩ, nói năng và hành động đúng đắn.<br /><br />Về giới Luật, tín đồ Phật giáo chủ yếu phải kiêng 5 thứ (ngũ giới):<br /><br />- Không sát sinh.<br />- Không trộm cắp.<br />- Không tà đâm.<br />- Không nói dối.<br />- Không uống rượu.<br /><br />Trong số đó, luật &quot; không sát sinh&quot; là không được giết người, còn giết các động vật thì luật cấm không khắt khe lắm. Phật giáo ban đầu không cấm tín đồ ăn thịt.<br /><br />Tục tín đồ, nhất là các tăng ni phải ăn chay, không được ăn thịt động vật là do Lương Vũ Đế (502 549) của Trung Quốc đặt ra vào thời kỳ đạo Phật thịnh hành ở nước này.<br /><br />Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của thuyết Phật giáo là thuyết Duyên khởi. Duyên Khởi là chữ nói tắt của câu &quot; chư pháp do nhân duyên chi khởi&quot; nghĩa là &quot;các pháp đều do nhân duyên mà có&quot;.<br /><br />&quot;Pháp&quot; (dharma) là tất cả mọi sự vật, bao gồm cả vật chất và tinh thần. Giáo lý của Phật cũng là sự vật nên cũng gọi là &quot; Pháp&quot;.<br />Còn nhân duyên là nguyên nhân, nhưng trong đó nhân là nguyên nhân chủ yếu, duyên là nguyên nhân phụ. Ví dụ : Sở dĩ một cái cây có thể nảy mầm và phát triển được là nhờ có hạt giống, đất, nước, khí trời, ánh sáng. Trong đó, hạt giống là nhân, đất, nước, khí trời, ánh sáng là duyên.<br /><br />Như vậy, mọi vật đều do nguyên nhân hòa hợp mà thành. Nhưng Duyên do khởi đâu mà có? Học thuyết Phật Giáo giải thích rằng duyên khởi do tâm mà ra. Tâm là gốc của duyên khởi thì cũng là nguồn gốc của vạn vật.<br /><br />Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương &quot; vô tạo giả&quot;, đạo Phật còn nêu ra các thuyết &quot; vô ngã&quot;, &quot; vô thường&quot;.<br /><b>Vô ngã: </b>là không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định. Con người cũng chỉ là sự tập hợp của 5 uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức chứ không phải là một thực thể tồn tại lâu dài. Đây là nội dung thứ hai mà ĐẠO Phật đưa ra để chống lại đạo Bà La Môn, vì đạo Bà La Môn chủ trương có bản ngã.<br /><b>Vô thường:</b> là mọi sự vật đều ở trong quá trình sinh ra, biến đổi, tiêu diệt chứ không bao giờ được ổn định.<br /><br />Như vậy, về thế giới quan, tuy đạo Phật ban đầu chủ trương vô thần( vô tạo giả) nhưng chung quy vẫn là duy tâm chủ quan. Về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp, vì đạo phật cho rằng nguồn gốc xuất thân của mỗi người không phải là điều kiện để được cứu vớt. Mọi người, dù thuộc đẳng cấp nào một khi đã tu hành theo học thuyết của Phật thì đều trở thành một thành viên bình đẳng trong một Tăng đoàn. <br /><br />Đồng thời đạo Phật mong muốn có một xã hội trong đó Vua thì có đạo đức và phải dựa vào Pháp Luật để trị nước, không được chuyên quyền độc đoán, còn nhân dân thì được an cư lạc nghiệp.<br /><br />Như vậy, đạo Phật ban đầu là một học thuyết khuyên người ta phải từ bỏ ham muốn, tránh điều ác, làm điều thiện để được cứu vớt chứ không thừa nhận thượng đế và các vị thần bảo hộ, do đó không cần nghi thức cúng bái và cũng không cần có tầng lớp Thầy cúng.<br /><br /><b>B ) Sự phát triển của đạo Phật ở Ấn Độ.</b><br /><br />Sau khi Phật tịch, đạo Phật được truyền bá nhanh chóng ở miền Bắc Ấn Độ. Để soạn thảo giáo lý, quy chế và chấn chỉnh về tổ chức, từ thế kỷ V-III TCN, đạo Phật đã triệu tập 3 cuộc đại hội ở nước Magada, quốc gia lớn nhất ở Ấn Độ lúc bấy giờ. Từ nửa sau thế kỷ III TCN, tức là sau đại hội lần thứ 3, đạo Phật trước tiên được truyền sang Xri Lanca, sau đó truyền đến các nước như Myanma, Thái Lan, Indonexia...<br /><br />Đến khoảng năm 100 sau CN, đạo Phật triệu tập Đại hội lần thứ 4 tại nước Cusan ở Tây Ấn Độ. Đại hội này thông qua giáo lý của đạo Phật cải cách, và phái Phật giáo mới này được gọi là <b>phái Đại Thừa</b> để phân biệt với phái Phật giáo cũ gọi là <b>phái Tiểu Thừa</b>. <br /><br /><b>Sự khác nhau chủ yếu giữa hai phái biểu hiện ở các mặt sau đây:</b><br /><br /><u>- Phái Tiểu thừa ( Hinayana)</u> nghĩa là &quot;cỗ xe nhỏ&quot; hoặc &quot; con đường cứu vớt hẹp&quot; cho rằng chỉ có người xuất gia đi tu mới được cứu vớt.<br /><br /><u>- Phái Đại Thừa ( Mahayana)</u> nghĩa là &quot; cỗ xe lớn&quot; hoặc &quot; con đường cứu vớt rộng&quot; thì cho rằng không phải chỉ những người tu hành mà cả những người trần tục quy y theo Phật cũng được cứu vớt.<br />- Phái Tiểu thừa cho rằng: chỉ có phật Thích Ca là Phật duy nhất. Việc cứu độ chúng sinh chỉ có Phật mới làm được, những người thường không thể thành Phật.<br /><br />- Phái Đại Thừa cho rằng: Phật Thích Ca là Phật cao nhất, nhưng ngoài phật Thích Ca còn có nhiều phật khác như phật A Di Đà, Phật Di Lặc, phật Đại Dược Sư. Phật A Di Đà hiện đang giáo hóa ở cõi cực lạc Phương Tây. Phật Di Lặc là vị Phật tương lai sẽ nối nghiệp Phật Thích Ca đẻ giáo hóa cõi đời này mà sách Phật gọi là cõi Ta Bà (saha) nghĩa là nơi khó chịu đựng. Phật Dược Sư ở cõi Tĩnh Lưu Li ở phía Đông thế giới chúng ta. Phật Dược Sư thường cứu giúp chúng ta tai quan nạn khỏi.<br /><br />Hơn nữa, phái Đại Thừa cho rằng ai cũng có thể thành Phật và thực tế đã có nhiều người đã đạt đến cõi Phật. Đó là các Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng... Tuy đã thành Phật, nhưng các bồ tát không lên cõi Niết Bàn mà tự nguyện ở lại cõi trần để cứu độ chúng sinh.<br /> <br />- Phái Tiểu Thừa quan niệm: Niết Bàn là cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt, không còn phiền não khổ đau. Phật Thích Ca đã đạt đến cảnh giới Niết Bàn vào năm 35 tuổi, sau đó Phật vẫn tiếp tục sống và hoạt động 45 năm nữa.<br />- Phái Đại Thừa thì quan niệm Niết Bàn là thế giới của các Phật giống như thiên đường của các tôn giáo khác. Đồng thời với quan niệm đó, Phái ĐẠi Thừa còn tạo ra địa ngục, nơi đày đọa những kẻ tội lỗi.<br /><br />Phái Đại Thừa còn đề cao vai trò của tầng lớp tăng ni, coi họ là kẻ trung gian giữa tín đồ và Bồ tát.<br /><br />Từ đó, tượng Phật được tạc đúc rất nhiều, nghi thức cúng bái càng phức tạp hơn, hương hoa cũng được sử dụng trong khi cúng Phật.<br /><br />Sau Đại hội Phật giáo lần thứ 4, các nhà sư càng được khuyến khích ra nước ngoài truyền đạo; do đó đạo Phật càng đượch truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và Trung Quốc. Những thế kỷ tiếp sau đó, Đạp Phật suy dần ở Ấn Độ, nhưng lại được phát triển phần lớn ở Châu Á và đã trở thành Quốc Giáo của một số nước như Xri Lanca, Myanma, Thái Lan, Campuchia, Lào...<br />(st)<!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><u><i><b>P/s: Con đường du nhập của Đạo Phật vào Việt Nam như thế nào? Và điểm đến đầu tiên có phải chính xác là ở Miền Dâu - Bắc Ninh? Còn rất nhiều câu hỏi xung quanh chủ đề này. Các bạn có thể hỏi và có thể trả lời theo hiểu biết của mình tại ĐÂY! <br />Tri thức là của bạn... </b></i></u><!--sizec--></span><!--/sizec-->

bavico
17-05-2013, 09:53 AM
<div align='center'><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>TÔN GIÁO VIỆT NAM</b><!--sizec--></span><!--/sizec--></div><br /><br /><br />Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã tạo dựng được một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, xuyên suốt chiều dài lịch sử, văn hóa Việt Nam luôn có sự giao lưu với văn hóa của nhiều quốc gia khác.<br /><br />Tôn giáo là một hiện tượng xã hội - văn hóa nên nó cũng tuân theo những quy luật vận hành của văn hóa nói chung. Có những tôn giáo ra đời và phát triển trong lòng dân tộc (nội sinh), có những tôn giáo từ các dân tộc khác du nhập vào (ngoại nhập). Đó là tình hình chung về tôn giáo ở hầu hết các nước trên thế giới. Tuy nhiên mỗi nước có những đặc thù riêng của mình. Nhìn một cách tổng quát, tôn giáo Việt Nam có một số điểm cơ bản sau đây: <br /><br />1. Tôn giáo Việt Nam chủ yếu thuộc về lĩnh vực tình cảm. Nhiều tín đồ tôn giáo tuy khá sùng đạo nhưng hiểu giáo lý rất ít, thậm chí ra nhập hàng ngũ tín đồ chỉ là do lan truyền tâm lý, hoặc do một sự vẫn động nào đó. Đối với phần lớn người dân, khi cuộc sống có khó khăn, trắc trở họ mất lòng tin ở thực tại thì thường tìm đến một tôn giáo để cầu mong một chốn nương tựa về tinh thần, một sự giải thoát và một niềm hi vọng. Vì vậy người Việt Nam không khắt khe trong việc tiếp nhận các tôn giáo.<br /><br />2. Các tôn giáo có ảnh hưởng lớn trong xã hội Việt Nam đều từ ngoài vào và ít nhiều được Việt Nam hóa.<br /><br />Ngoài tín ngưỡng truyền thống và những tàn dư của tôn giáo nguyên thủy như một nền tảng vững chắc tồn tại trong đời sống tâm linh của người Việt Nam theo chiều dài lịch sử thì Nho Giáo, Đạo Giáo, Phật Giáo đến Công Giáo là các tôn giáo đều từ ngoài vào, đã có ảnh hưởng rộng lớn. Các tôn giáo bản địa thì hoặc chưa được điển chế hóa ( như tục thờ Mẫu) hoặc ra đời muộn và phạm vi ảnh hưởng của nó rất hẹp.<br /><br />3. Quá trình giao lưu, gặp gỡ của các dòng văn hóa thường tạo ra những tiếp biến. Nghĩa là giữa chúng có sự tồn tại thâm nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, cải biến lẫn nhau. Quy luật chung này của văn hóa đã được thể hiện ở quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo. Các tôn giáo ngoại nhập khi vào Việt Nam hoặc ít hoặc nhiều đã bị ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam (thường gọi là Việt Nam hóa). Mặt khác, trong tín ngưỡng dân gian truyền thống của người Việt Nam có những nét trùng hợp với tôn giáo du nhập. Như vậy, tôn giáo nói chung đã trở thành một bộ phận hữu cơ, có những đóng góp to lớn trên các lĩnh vực tư tưởng, triết học, đạo đức, nghệ thuật... của nền văn hóa Việt Nam. Nhiều di tích lịch sử là những sản phẩm văn hóa mang màu sắc tôn giáo( hoặc có liên quan đến Tôn giáo). Đó là những cống hiến rất quan trọng trong kho tàng văn hóa Việt Nam.<br /><br />4. Về cơ bản, người Việt Nam giàu tính khoan dung nên có sự hòa hợp giữa các tôn giáo. Đây là một biểu hiện của đoàn kết dân tộc trong tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam. Trong khi đó, nhiều nơi trên thế giới đã và đang có mâu thuẫn, thậm chí là gay gắt giữa các tôn giáo khác nhau. <br /><br />Hàng nghìn năm qua, Việt Nam có nhiều tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào ( Phật giáo từ Ấn Độ; Nho giáo, Lão giáo từ Trung Quốc; Công giáo, Tin lành từ Phương Tây...). Bên cạnh đó có những tôn giáo nảy sinh từ một bộ phận trong cộng đồng người Việt Nam ( như Cao Đài, Hòa Hảo...). Với nhiều tôn giáo như vậy nhưng ở Việt Nam không có xung đột Tôn giáo. Nhìn toàn cục thì tôn giáo ở Việt Nam có sự hòa hợp, cùng tồn tại, cùng phát triển. Các tín đồ dù thuộc các tôn giáo khác nhau nhưng đều chung một mục đích &quot; Tốt đời đẹp đạo&quot;, cùng phấn đấu cho một đất nước Việt Nam phồn thịnh.<br /><br />Lòng nhân ái, khoan dung vốn là bản chất của người Việt Nam. Hơn nữa khi tiếp xúc với tư tưởng bác ái của Nhà Phật, cùng những điều răn dậy làm việc thiện của Chúa Trời hay Giáo Lý nhân đạo của các tôn giáo khác nhau thì dễ dàng đồng cảm và chấp nhận! (st).

nhatlinhltd
17-05-2013, 09:53 AM
<div align='center'><b><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><br />CON ĐƯỜNG DU NHẬP VÀ TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM. <!--sizec--></span><!--/sizec--></b></div><br /><br /><br />Việt Nam nằm trên đường giao lưu Ấn Độ - Trung Quốc. Khi Phật giáo từ Ấn Độ truyền ra nước ngoài theo hai đường Nam, Bắc thì Việt Nam tiếp xúc được với cả hai con đường truyền bá đó. Sử sách ghi năm 159 là năm đầu tiên người nước Thiền Trúc(tức Ấn Độ cổ đại) đến miền Trung VIệt Nam. Năm 161 họ trở lại lần nữa. Hiện còn những chứng tích về một nhà tu hành Ấn Độ với tên gọi là Khâu Đà La ( Kaudra hay Ksudra) đến tu hành tại Dâu ( thuộc Thuận Thành - Bắc Ninh) lập nên Sơn Môn Dâu vào khoảng năm 187 đến năm 189. Như vậy, Phật giáo có thể đã du nhập trực tiếp từ Ấn Độ qua đường Biển đến Việt Nam trong khoảng năm 159 đến năm 189 sau Công Nguyên, chủ yếu là dòng Nam Tông.<br /><br />Phật giáo Bắc Tông ở Trung Quốc cũng đến Việt Nam và dưới ảnh hưởng này, tầng lớp Tăng lữ Việt cũng đã đóng góp vào kho tàng lý luận Phật Giáo, với những nhà sư nổi tiếng như Mâu Bác, Khương Tăng Hội...<br /><br />Đặc biệt, một thời gian dài, dưới các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần ( thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIV) Phật giáo đã phát triển cực thịnh, trở thành quốc đạo, đóng góp rất lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhiều nhà sư đã trực tiếp tham gia công việc triều chính như các nhà sư: Khuông Việt đời Đinh và Tiền Lê; nhà sư Pháp Thuật đời Tiền Lê; nhà sư Vạn Hạnh đời Lý... Vua Lý Thái Tổ nguyên cũng chính là một chú tiểu chùa Tiên Sơn.<br /><br />Vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, tuy không xuất gia nhưng tham gia hai phái Thiền Vô Ngông Thông và Thảo Đường. Đời nhà Trần, vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông đều là những nhà Phật Học lỗi lạc. Bản thân vua Trần Nhân Tông, sau khi chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông cũng đã xuất gia quy Phật, sáng lập Phái &quot; THIỀN TRÚC LÂM&quot;<br /><br />Thời kỳ này, chùa trở thành trung tâm văn hóa của làng, xã, nhà sư đồng thời cũng là người hướng dẫn giáo dục về văn hóa, đạo đức.<br /><br />Có thể nói rằng, suốt đời Lý và hầu hết đời Trần, Phật giáo được coi là Quốc giáo nên hoạt động sôi nổi, khắp nơi. Làng nào cũng có chùa, có tháp. Người ta học chữ, học kinh, hội hè, họp chợ ở ngay trước chùa. Hội chùa là một hoạt động văn hóa hơn là hoạt động tôn giáo. Biết bao mối duyên lành đã được se kết trong vườn chùa. Chùa làng quả đã từng một thời đóng vai trò trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã.<br /><br /><br />Đến thế kỷ thứ XV, Nho giáo thay chân Phật giáo trong lĩnh vực thượng tầng xã hội. Phật giáo từ giã cung đình nhưng vẫn vững vàng trong làng xã. Đình xuất hiện trở thành trung tâm hành chính của làng nhưng Chùa vẫn là niềm tin và hi vọng của nhiều cộng đồng dân cư.

haodatco
17-05-2013, 09:53 AM
Viết bằng TA....dài quá....không đủ kiên nhẫn ngồi đọc hết trên Monitor. <br />Lời khuyên cho các bạn quan tâm chủ để này: Vô trang Quảng Đức <a href='index.php?act=findpost&pid=0'>http://www.quangduc.com/</a>, có sẵn rất nhiều loại từ điển Phật Học Anh-Việt, Việt-Anh, Việt-Việt... Khi các bạn cần dùng thường xuyên mà máy không sẵn sàng online được mọi lúc mọi nơi thì tốt nhất bỏ chút công sức làm thành 1 cuốn Ebook rồi lưu vào máy...rần tiện khi cần dùng đến.<br /><br />@ Để tìm hiểu Phật Giáo bằng những bài viêt TA, các bạn hãy tìm cuốn sách or Ebook:<b> &quot;Good Question, Good Answer&quot;</b> - cuốn sách của Đại Đức Shravasti Dhammika, một tu sĩ người Úc đã từng diễn giảng giáo lý Phật Ðà trên đài truyền hình và đại học Úc cũng như nhiều quốc gia khác ở Á châu. (cuốn này có cả bản Tiếng Việt)<br /><br /><!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro-->- Tiếng Việt: hạ tải tại đây <a href='index.php?act=findpost&pid=0'>http://www.thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=13867</a><br /><br />- Bản tiếng Anh: Mời tải file [attachment=9402:gqga2.pdf] <!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />@outdoorwalker: Giúp người giúp cho chót chứ bác:D<br />Không biết có đúng cuốn bác giới thiệu không? Kiểm tra giùm tôi nhé!