PDA

View Full Version : Trên đỉnh núi Trời


utes
26-05-2012, 11:40 AM
<!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><i>Trên đó, nơi chỉ có nắng, những rặng thông ngút tầm mắt, những con người chất phác và hơi thở của núi rừng. Trên đó, những thửa ruộng nấp sau bóng cây từ muôn đời vẫn thế, trên mỗi bước chân du mục đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt mà… vẫn nghèo. </i><br /><br /><b>Ngứa nghề </b><br /><br />Không định trước, một chuyến đi bất thường, tôi mất 2 ngày để loanh quanh các điểm trong thành phố Đà Lạt và khu lân cận. Nào là chùa Tàu, thác Prenn, Thác Đatanla…Lại móc bản đồ ra chấm, đánh dấu và hi vọng tìm cho mình một điểm nào đó khác với những gì bình thường. Bản tính khó đổi, có lẽ là vậy. Tôi muốn mọi thứ nó phải có một cái gì đó khác biệt, lạ lẫm. Đặc biệt là trong các chuyến đi như thế. Phải có một cái gì đó mang về nhà, để kể hoặc chí ít cũng để ghi thêm vào “bảng thành tích” nghèo nàn của mình. Buổi chiều, tôi lượn lờ vào thác Hang Cọp. Thác này cách TP Đà Lạt chừng 10 km. Ít khách tham quan tới. Khi đến nơi thì tôi đã hiểu tại sao nơi này lại như một “khu bảo tồn”. Con đường đầy gạch đá, lởm chởm từ lộ đi vào có thể khiến những người lười đi “oải”. Cách thác Hang Cọp khoảng 1km, một tấm biển lớn chắn ngang đường ghi rõ :”Thác Hang Cọp” và một vài chữ gì đó mà tôi không nhớ. Theo võ đoán của mình thì đây trước là nơi gửi xe của khách. Từ đây đi vào thác phải đi bằng xe chuyên dụng hoặc …xe riêng của khu du lịch giống như tại Langbiang. Tiếp tục đi sâu vào trong, vừa tới chỗ gửi xe người bán vé chạy thẳng đến mời …mua vé. Ở đây có cái khác là không phải tìm chỗ mua vé mà phục vụ…tận nơi. Thác Hang Cọp mùa nước cạn, những dòng chảy màu bazan đỏ như máu lẻ tẻ theo các khe chảy xuống. Thác cao chừng 20m, khá thoải. Chán ngán với ngọn thác, tôi đi lòng vòng trong khu vực du lịch rộng chừng trăm thước. Trong các chòi có vài đồng chí chắc là bảo vệ hoặc bán hàng ở đây đang sát phạt nhau. Tiêu điều và hoang vu là những gì bất kì ai đến đây có thể cảm nhận được. Nhấp bản đồ ra xem, tại khu vực này có khá nhiều biểu tượng của các bản dân tộc. Tôi mạnh dạn hỏi cô bán vé ở đây xem có bản nào có thể đi thăm được không:” Ở đây có bản dân tộc, nhưng xa lắm, phải có người dẫn đi, thi thoảng cũng có vài người Tây đi lên đấy!”. Một ý nghĩ trong đầu chợt loé lên, tôi hỏi tiếp:”Thế hướng dẫn thanh toán tiền thế nào?” – “tuỳ ý chú, trả bao nhiêu thì trả!”. Vốn kinh nghiệm trong những vụ “trả bao nhiêu thì trả”, tôi do dự trong giây lát rồi hỏi tiếp:”Thế có xa đây không chị?, đi mất bao lâu?” – “Cũng xa, đi mất 2,3 tiếng!”. Tiếp sau đó là những lời doạ nạt, nào là “ở các con suối hay có đỉa, mới lần trước có thằng Tây bị đỉa chui vào ..mắt!..”. Thấy có vẻ khó mà khai thác thông tin đường đi cho cái bản này, tôi mới vòng xe ra ngoài trở về lại Đà Lạt. Vừa đi đường, vừa khó chịu. Ghé vào một quán bên đường, tôi gọi cốc nước ra rồi liều mạng hỏi ông chủ quán về cái bản. May mắn lại mỉm cười khi ngay trong quá có một đồng chí sống trên bản. Sự nhiệt tình và chân chất của dân bản đúng thật là cảm động. Tôi ngụ ý muốn đi lên bản một chuyến thì được khuyên:”Em cứ chờ ở đây, có thằng Sâm đèo con đi khám bịnh, lát nó về, đi theo nó là được!”. Tôi vốn nóng lòng, chờ đợi lại không thích nên đánh bạo xin cái chỉ đường. Sau nửa tiếng như “cãi vã” về việc rẽ phải hay rẽ trái, rồi “còn chỗ này nữa..” Tôi đã có một bản đồ sơ bộ cho chuyến đi. Lại quay trở lại thác Hang Cọp, lần này thay vì dừng lại tôi cứ “vê ga” thẳng tắp qua khu du lịch, để lại đằng sau ánh mắt doạ dẫm của mấy đồng chí trong khu du lịch. Bắt đầu đi tìm …đỉa.<br /><br /><br /><b>Những con đường đau khổ</b><br /><br />Vừa qua khu du lịch, đụng ngay một con đường lầy lội đầy đất bazan, tôi lấy những vệt lốp xe tải để qua. Đến một cái ngã 4. Gọi là ngã tư chứ chỉ là 4,5 con đường mòn bởi những vệt cỏ úa có chân người dẫm lên. Phân vân không biết chọn đường nào, tôi đánh liều đi thẳng “đến đâu thì đến”. Được khoảng 100m, mang bản đồ ra xem và nhìn ngó không quanh khi không thấy “dấu hiệu của sự sống” tôi mới quay lại chỗ ngã ba vừa nãy rồi rẽ phải. Tiếp tục đi trên con đường xe tải đi. Qua một vài thửa ruộng lẩn khuất sau mành thông, tôi đoán không nhầm thì đây là đường để xe đi vào lấy rau, và hoa quả. Một con suối nhỏ xíu, trong vắt bắt qua đường đi, đổ xuống dưới làm nơi tới tiêu cho cả mẫu rau quả trên vạt đồi. “Đúng là con suối như trên bản đồ”. Tiếp tục phóng xe máy quan thân suối, đến một khu vực trồng toàn café và những rặng hồng Đà Lạt trĩu quả đan xen với các thửa lay ơn, thược dược. Gặp một người đang làm trong vườn Hồng, tôi hỏi tiếp đường để đi lên núi, cũng là để xác nhận lại độ chính xác của tấm “bản đồ” và ước chừng thời gian đi và về. Con đường lên đỉnh cứ thoải theo sườn núi, không thấm tháp vào đâu so với những con đường tôi đã đi. Càng lên cao tầm nhìn càng rộng hơn. “Đẹp quá!” là tất cả những gì tôi có thể thốt ra trong lúc này. Những vạt thông được cắt tỉa cao vút, thẳng tắp, những giọt nắng hắt qua kẽ lá đầy màu sắc, một không gian mát lạnh và thoáng đãng đến tỉnh người. Đi lên đỉnh tôi dừng lại vì thấy trên thân của rất nhiều cây thông lớn có các vết khắc lớn giống hình cái mặt lạ. Tôi đặt cho nó là “vườn tình yêu” và cũng tranh thủ làm vài tấm hình kỉ niệm với khu vườn riêng của mình. Từ đây, con đường dễ đi hơn rất nhiều, dù nhỏ hơn nhưng phẳng bởi nó được mở trên đỉnh thoải của ngọn núi. Khoảng 10’, tôi có mặt ở trên đỉnh. Trên một khoảng sân rộng, xung quanh là các nếp nhà của người K’Ho, một dân tộc tập trung nhiều nhất ở Đà Lạt. Nhà của người K’ Ho là loại nhà trệt, không đẹp như nhà sàn của người Thái ở Tây Bắc, càng không hoành tráng như ÊĐê ở khu vực Ban Mê Thuột. Tập trung khoảng 20 hộ gia đình trên đỉnh núi, những cô bé tóc vàng màu nắng, những ánh mắt xa lạ vừa thân thiện. Đâu đó trong vài căn nhà có vài cô thiếu nữ thậm thà thậm thụt. Tôi phi thẳng xe đến một ngôi nhà khang trang nhất, hỏi ra thì đó là nhà của trưởng bản. Nhưng ông này hiện không ở nhà mà xuống họp ở Đà Lạt. Vào trong nhà, vừa chuỵện trò tôi vừa hỏi thăm việc ở lại qua đêm trên bản. Bà vợ ông trưởng bản hiền, dễ chịu và khá dễ tính. Qua giới thiệu được biết đây là bản của những người du canh từ Langbiang qua. Bản cũng mới lập. Thi thoảng bà lại quay ra bắt chuyện với bà hàng xóm, còn tôi thì chỉ biết cười trừ vì chẳng hiểu họ nói gì và xin phép tham quan một vòng ở bản. “Dân số” của bản nhỏ, chắc cũng chỉ từ 200 nguời đổ lại. Bản nghèo, không có gì cả. Nhà nào cũng sơ sài, điện không có, tối xuống là như hũ nút. Nhưng…xe máy thì dựng san sát ở ngoài sân. Nhiều người không biết đọc tiếng Kinh. Cũng chỉ vài người biết nói tiếng Việt.<br /><br /><br /><b>Và ngày trở lại</b><br /><br />Chuyến đi biến thành điểm đến cho những kẻ ngoại đạo. Tôi đi theo đoàn làm phim của chương trình “Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩn”. Theo chân những người bạn mới quen, đường thuộc làm lòng. Mấy đồng chí quay phim ì ạch vác theo đồ nghề, mồ hôi nhễ nhại lết từng bước. Thi thoảng lại dừng lại, tìm tìm, kiếm kiếm, có vẻ như đã thấy “Việt Nam - tiềm ẩn” đâu đó. Lần này đi, tôi mang theo nhiều đồ hơn, chuẩn bị cũng kĩ hơn với hi vọng sẽ trở lại với 1 đêm trên đỉnh. Vốn xuất thân từ dân thể thao và du lịch mạo hiểm, sức khỏe của tôi có thể gọi là tốt để xách theo cả đống đồ cho dân bản. Nào là cá khô, tôm khô, đồ ăn, xà bông giặt…và lỉnh kỉnh đồ chuyên dụng, nước. Lên tới đỉnh, người nào việc nấy. Tôi làm “ngoại giao” để được một bữa cơm trên bản. Lè nhè chai rượu, pha với thứ tiếng lai dân tộc đặc sệt, nặng trịch. Ông lão trên bản ngoắc chúng tôi lại ngồi…tám chuyện. Nào là chuyện đất bị bạc màu, nào là chuyện chuyển từ Langbiang qua đây ra sao, rồi đến chuyện nghèo lắm, nghèo lắm. Đến giờ cơm khi trời đã tói như bưng, chúng tôi được “chiêu đãi” bằng 4 tô cơm trắng còn nồng mùi khê, một tô su su nửa xào, nửa canh. 4 người nhìn nhau an ủi:” Ở đây nghèo, chỉ có vậy thôi. Có là tốt rồi!”. Tôi thì quá quen với những cảnh thế này, chỉ tội các đồng chí quay phim mới hôm qua còn bù khú ở thành phố. Nào rưọu vang, nào thịt rừng, nào pizza…. Tôi chợt nhớ ra những đồ mình mang theo vẫn còn khá nhiều. Lôi ra từ trong balô một gói giò và một ít pho ma. Bằng bộ vật dụng mang theo, tôi thái ra từng lát mỏng, xin thêm ít muối trắng trộn đều lên. Pho ma pha với cơm, đây là lần đầu tiên tôi ăn món này. Cũng ngon không kém gì món “chè cám”. Cả 4 người “đánh” một trận cũng hết. Kẻ đi ra, kẻ đi vào, người nằm, đứa ngồi, hứa hẹn một đêm thú vị. <br /><br />Khoảng 7h tối, thấy các đồng chí quay phim có vẻ mệt, tôi dò hỏi:”Muốn ở lại hay quay về?”. Khuôn mặt tươi tỉnh của các đồng chí lúc này khác hẳn khi ăn cơm. Vậy là lại ba lô, lại đồ đạc đã vơi đi nhiều, chúng tôi băng rừng trong đêm để về lại Đà Lạt. Những bước chân đi nhanh hơn, hừng hực khí thế …Tây Sơn thần tốc. Đến đoạn suối bắc ngang qua đường, lúc này nước đã lênh láng và chuyển thành mấy dòng ngang đường đi. Kẻ đi sau soi cho người đi trước, người đi trước lại đỡ người đi sau, chỉ hơn nửa tiếng chúng tôi đã đã nghe thấy tiếng thác Hang Cọp. Lần này quay lại đúng vào mùa nước nên thác lớn hơn, khác hẳn với lần trước tôi đi. Muốn rút ngắn thời gian lại, tôi đành liều đi xuống triền, men theo đuờng mòn đến đường tắt. Đây là con đường dẫn đến cây cầu treo bằng dây nhợ, cây cầu đặc trưng của miền sơn cước. Cầu bắc ngang qua thác nước bạc đầu nhận ánh đèn pin. Nhìn xuống thác dễ khiến người ta bị chóng mặt hoặc quáng gà trong đêm tối. Đang đi trên cầu thì từ đằng sau:”Oạch!”, Hóa ra 1 đồng chí quay phim bị trượt chân khi dẫm đúng phải ván gỗ bị thủng. May phước không vấn đề gì xảy ra. Chúng tôi quay trở lại bãi xe, lại trên con xế quay về nơi ánh hào quang từ các ngọn đèn cao áp hất lên trời, hồng rực. Đà Lạt đêm lạnh và êm ả lạ thường. Ai cũng nôn nao, không phải vì sự vất vả của chuyến đi, sự nguy hiểm của rừng trong đêm tối hay dòng thác dữ mà chính là những ánh mắt cuối cùng của những người dân nghèo khi chúng tôi đi. Có một cái gì đó tiếc nuối, mong chờ và thất vọng. Tôi sẽ quay lại Núi Trời, sẽ đem theo một thứ khác để có thể làm ấm thêm cuộc sống khi đêm xuống, và những bữa cơm đều đặn, no đủ.<!--sizec--></span><!--/sizec--> <!--sizec--></span><!--/sizec--><!--sizec--></span><!--/sizec-->