haithanhakatonbo
26-05-2012, 12:23 AM
<!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><!--sizeo:7--><span style="font-size:36pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>XỨ THUẬN HOÁ</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>1. Từ bình minh lịch sử</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Sách ghi chép lịch sử của Việt Nam xuất hiện rất muộn, lại bắt đầu bằng những truyện truyền kỳ, huyền thoại. Người ta thường nhắc đến Đỗ Thiện, làm quan đời Lý Nhân Tông (1072-1128) và Lý Thần Tông (1028-1038) như một sử gia tiên phong, nhưng cả hành trạng lẫn tác phẩm của ông đều thất truyền. Lê Trắc trong An Nam chí lược (viết khoảng đầu thế kỷ XV bên Trung Quốc) cho biết dưới đời Trần Thái Tông (1225-1258) có Trần Tấn, làm chức tả tàng thư, sau thăng hàn trưởng, viết Việt chí; nhưng nay chúng ta cũng không biết gì về con người ấy và cuốn sách ấy. Ngay cả bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu (1229-?) cũng chẳng còn, chỉ để lại dấu vết trong bộ Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên soạn năm 1479.<br />Đời xa người khuất, các sử gia từ thế kỉ XV trở về sau chỉ còn dựa vào truyền thuyết và thư tịch Trung Quốc khi nói về thời thượng cổ Việt Nam... Sách Bắc sử xuất hiện tương đối sớm, nhưng những tác phẩm như Thượng thư, Xuân thu, Tả truyện... đời Chu không có liên quan gì đến Việt Nam. Bộ sử giá trị nhất là Sử kí của Tư Mã Thiên (145-86 TCN) đời Tây Hán (202-2 TCN), rồi đến Tiền Hán thư của Ban Cố (32-92), và một số tác phẩm khác như Giao Châu kí.... có đề cập ít nhiều đến cõi đất phía Nam. Theo đó, tỉnh Thừa Thiên Huế thuộc địa bàn nước Việt Thường cổ đại. Một truyền thuyết kể rằng năm Tân Mão (1109 TCN) đời Chu Thanh vương, nước Việt Thường ở phía Nam châu Giao Chỉ sang cống chim trỉ trắng. Sứ giả nói: "Trời không bão lớn mưa dầm, biển không nổi sóng đã ba năm rồi, biết là Trung Quốc có bậc thánh nhân, cho nên tìm đến vậy". Phải qua ba lần thông ngôn, họ mới hiểu được nhau. Chu công Cơ Đán bén chế ra "xe chỉ nam" để tiễn đoàn sứ giả ấy trở về...<br />Một số tác giả tiên phong như Lí Tế Xuyên, Trần Thế Pháp chép lại truyện này như một huyền tích trong các sách truyền kì, và Ngô Sĩ Liên là người đầu tiên chính thức đưa vào phần Ngoại kỉ của bộ Đại Việt sử kí toàn thư như một hiện thực, rồi cho rằng địa bàn Việt Thường kéo dài ven biển từ Hoành Sơn đến Quảng Ngãi, lại ghép làm một bộ của nước Văn Lang do các vua Hùng khai sáng. Nhưng nếu tin vào truyền thuyết trên thì Việt Thường là một quốc gia độc lập, không liên quan gì với các vua Hùng. Phương chi thời ấy, nhà Chu chỉ làm chủ vùng lưu vực Kinh-Vị, cách nước ta hàng vạn dặm sông rộng núi cao, không thể có một cuộc tiếp xúc ngoại giao như thế....<br />Theo cứ liệu khảo cổ học, nếu vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (Thanh-Nghệ-Tĩnh) đã được đào bới tìm tòi khá lâu, khá kỹ, đem đến những kết quả chắc chắn về sự hình thành và phát triển của các nền văn hoá xa xưa, thì dải đất phía Nam Hoành Sơn còn vắng vẻ. Nói thế không phải là phủ nhận hoàn toàn các công trình phát hiện và khai quật lẻ tẻ của một số nhà khảo cổ học, trong đó có Madeleine Colani, người Pháp (1). Vài di chỉ được đưa ra ánh sáng, quan trọng nhất là Bàu Tró (gần Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình) và Sa Huỳnh (bờ biển tỉnh Quảng Ngãi). Hiện nay, việc thăm dò vẫn được tiến hành, nhưng chưa có một tổ chức quy mộ, phát hiện dăm ba di vật Chàm (mộ chum Cồn Ràng ở xã Hương Chử huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế; môk vò Vạn Xuân, Thành phố Huế), Việt (trống đồng Phù Lưu, tỉnh Quảng Bình, trống đồng Phong Mĩ, tỉnh Thừa Thiên Huế)....<br />Trước kia, các nhà khảo cổ học đã xác định di chỉ Bàu Tró nằm vào hậu kì thời đại đá mới, bắt nguồn từ văn hoá Quỳnh Văn (2) mà phát triển lên, còn di chỉ Sa Huỳnh thì thuộc sơ kì thời đại đồ sắt của cư dân nông nghiệp ven biển, tồn tại từ giữa thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên đến đầu Công nguyên, nhưng khác hẳn văn hoá Đông Sơn. Gần đây, một số địa điểm khác được phát hiện thêm giúp người ta tạm đưa ra giả thuyết:<br />a. Có một thời kì biển tiến, vùng đồng bằng bị chìm ngập dưới đại dương,con người phảo dồn lên cư trú theo chân núi. Họ sống chủ yếu bằng săn bắt và hái lượm, trồng rau đậu với công cụ đá thô sơ. Do môi trường sinh hoạt khó khăn nên nhân số không phát triển, nhưng các điểm cư trú phân bố khá gần nhau. Thời gian tồn tại của họ cách nay khoảng trên mươi nghìn năm... Rồi nước biển rút dần, vào thời điểm cách nay khoảng bảy nghìn năm, con người rời núi non, tràn xuống chiếm lĩnh đồng bằng. Môi trường sống đã dễ chịu hơn trước, thức ăn khá dồi dào, ngoài dã thú và rau đậu, còn có cá tôm, nhất là sò hến nhiều kể xiết. Công cụ đá được hoàn thiện một bước, mài nhưng chưa hết dấu ghè đẽo; đồ gốm làm bằng bàn xoay. Tuy vậy, dấu vết cây lúa vẫn chưa được phát hiện.<br />b. Chủ nhân của vùng đất này là ai? Chưa thể có một kết luận dứt khoát, vì các nhà khảo cổ học không tìm thấy di cốt ở những điểm khai quật. Xét các di vật, người ta nhận thấy vùng Bàu Tró- từ núi đến biển- là một ranh giới của tình hình phân bố khảo cổ học. Từ Bàu Tró trở ra Bắc, các di vật mang sắc thái văn hoá Đông Sơn càng mạnh dần; trái lại, từ Bàu Tró đi vào Nam thì mang di vật mang sắc thái văn hoá Sa Huỳnh càng đậm nét. Nhưng nhìn chung, sắc thái văn hoá Đông Sơn bao giờ cũng chiếm ưu thế, trội hơn và sớm hơn. Hiện tượng ấy có ý nghĩa gì? Phải chăng cư dân ở đây vốn từ bên ngoài Hoành Sơn di chuyển đến, tiếp thu thêm thành tựu của nền văn hoá bên trong Hải Vân? Họ thuộc tộc người Lạc Việt, nên về sau mới trở thành một bộ phận của nước Văn Lang do tổ tiên người Việt Nam làm chủ. Các di tích, di vật Champa nơi đây hầu hết thuộc thời kỳ muộn, thế kỷ IV-XIV.<br />Trở lại với cứ liệu thư tịch học, trong Sử kí, Tư Mã Thiên nói nhà Tần năm thứ 33 (214 TCN) đánh chiếm đất Lục Lương (?), đặt ba quận Quế Lâm, Tượng, Nam Hải. Hoài Nam vương Lưu An kể thêm rằng người Việt đều vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Khi nhà Tần suy yếu, viên uý quận Nam Hải là Triệu Đà kiêm tính cả Quế Lâm và Tượng, dựng nước Nam Việt (206 TCN), mới dùng thủ đoạn nham hiểm xâm chiếm Âu Lạc (180-179 TCN), chia làm hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân, mỗi quận bổ một viên sứ giả trông coi.<br />Năm 111 TCN, nhà Hán chinh phục Nam Việt, hai sứ giả Cửu Chân, Giao Chỉ đem trâu bò, rượu và số hộ khẩu đến Hợp Phố dâng nộp, Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức bèn cho họ làm thái thú hai quận ấy, các Lạc tướng vẫn cai quản dân như cũ... Vậy, vùng phía Nam Hoành Sơn vẫn nằm ngoài sự kiểm soát của nhà Triệu, nhà Hán. Không biết đích xác thời điểm xuất hiện cái tên quận Nhật Nam, mặc dù học giả Aurosseau dẫn Thuý kinh chú của Lệ Đạo Nguyên nói năm Nguyên Đỉnh 6 (110 TCN) đời Hán Vũ Đế đặt quận Nhật Nam, quận trị là Tây Quyển (3), vì mãi đến khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (39-43), Mã Viện cũng chỉ tiến vào đến huyện Cư Phong (Thanh Hoá) là chặng cuối; tì tướng của y có thể vượt xa hơn chút ít (4), nhưng chắc cũng chưa vào đến sông Gianh.<br />Chúng ta có thể nghĩ rằng trong một thời gian dài, vùng này nằm trong tình trạng tự do, không thuộc chính quyền nào quản lý. Nhân dân Giao Chỉ và Cửu Chân khốn khổ vì bọn thống trị bóc lột, nhiều người bỏ quê nhà, dần dà tìm vào đây sinh nhai lập nghiệp cùng dân bản địa. Đến một lúc nào đó, bọn đô hộ thấy ra, bèn với tay tới, thế là quận Nhật Nam ra đời. Sách sử nhà Hán ghi quận này gồm 15400 hộ, 69485 khẩu, chưa bằng nửa Cửu Chân (35743 hộ, 166013 khẩu) và chỉ bằng một phần sáu Giao Chỉ (92440 hộ, 746237 khẩu). Toàn quận chia làm năm huyện: Tây Quyển (Bắc Quảng Bình, lưu vực sông Gianh), Tỉ Ảnh (Nam Quảng Bình, lưu vực sông Nhật Lệ, Đại Giang), Chu Ngô (Quảng Trị, lưu vực sông Thạch Hãn), Lô Dung (Thừa Thiên Huế, lưu vực sông Bồ và sông Hương), Tượng Lâm (Quảng Nam- Quảng Ngãi, lưu vực sông Thu Bồn- Trà Khúc, sau là nước Lâm Ấp)<br /><i>Chú thích</i><b></b><br />* Tạp chí Huế xưa và nay, số 18/1996<br />** Bảo tàng Văn hoá Dân gian Huế<br />(1) M.Colani sinh ngày 13/8/1866 tại Strasbourg, Pháp, sang Đông Dương năm 1898, giảng dạy và laà việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ, hoạt động khảo cổ học nhiều nơi, có nhiều phát hiện và công trình giá trị. Bà mất tại Hà Nội ngày 2/6/1943.<br />(2) Quỳnh Văn (Nghệ An) là nơi có di chỉ của nền văn hoá sớm thuộc hệ Đông Sơn, cách nay độ 4730+75 năm (đặc điểm: biết cưa đá trước khi ghè đẽo và mài nhẵn toàn thân; biết khoan đá, làm đồ gốm bằng bàn xoay, dệt vải, trồng lú, sống chủ yếu ngoài trời, dùng sò hến làm thức ăn; chôn người chết gần nơi cư trú).<br />(3) Đào Duy Anh, đất nước Việt Nam qua các đời, Thuận Hoá, Huế, 1994, tr.59<br />(4) Nguyễn Vĩnh Phúc, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Hà Nội, 1983, tr.158-168. Đàn áp xong cuộc khởi nghĩa này, Mã Viện sai dựng cột đồng để định mốc giới. Trong bài Lescolonnes de bronze Mã Viện (B.A.V.H số 4, tháng 10-11, năm 1943), Đào Duy Anh đã chứng minh cột đồng ấy ở tại núi Thành, xưa có tên Đồng Trụ sơn, cách Vinh chừng 10 km về phía Tây Nam.<br /><br /><br /><br /><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>2.Kỷ nguyên Champa</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Tuy được Tiền Hán thư và Hậu Hán thư liệt kê vào danh sách chín quận hoặc bảy quận của miền Nam Trung Quốc, nhưng thư tịch không ghi chép gì nhiều về Nhật Nam như hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Cứ theo lời sử gia Ban Cố (32-92), thì thuyền buôn qua lại giữa Hợp Phố, Giao Châu và Ấn Độ đều ghé lại Tượng Lâm, huyện cuối cùng của Nhật Nam. Bến cảng chắc ở chỗ mà về sau là Hội An hoặc Đà Nẵng hay Chân Mây, những nơi thuận lợi cho việc ẩn tránh gió bão và trao đổi hàng hoá, vì đàng sau vùng này rất giàu của cải như vàng bạc, sừng tê, ngà voi... nhưng cư dân không nhiều, mật độ chỉ chừng 2 người/km2/. Do đó, việc tổ chức của chính quyền đô hộ lúc đầu cũng đơn giản, ít vấp phải sự chống đối của địa phương. Sau cuộc khởi nghĩa thất bại của Hai Bà Trưng, bọn quan lại Hán thi hành một chính sách ràng buộc khắt khe hơn, nhằm vơ vét, bốc lột thật nhiều. Bởi thế, nhân dân Nhật Nam thường xuyên nổi dậy, nhất là tại huyện Tượng Lâm, vùng cư trú của các bộ tộc Champa.<br />Dựa vào tài liệu ghi chép trong Bắc sử và những bi kí cổ tìm được từ Huế đến Nha Trang, người ta biết rằng trên địa bàn của văn hoá Sa Huỳnh có hai bộ lạc. "Bộ lạc Cau (chữ Phạn trong bi ký: Kramuka vams'a) cư trú trên vùng Phú Khánh- Thuận Hải ngày nay, và bộ lạc Dừa (Narikela vams'a) trên vùng Quảng Nam- Nghĩa Bình ngày nay. Chắc chắn họ đã có những quan hệ với các bộ phận cư dân ven biển phía bắc- ở Bình Trị Thiên- và phía nam - ở đông bằng Nam Bộ" (5). Bộ lạc Cau đã thành lập một tiểu quốc, lấy tên Paran (chữ Chàm cổ) hay Panduranga (chữ Phạn). Giữa lúc ấy thì bộ lạc Dừa rơi vào ách đô hộ của nhà Hán với cái tên huyện Tượng Lâm. Về chủng tộc, họ là một bộ phận của nhóm Mã Lai- Đa Đảo cư trú vào ách đô hộ của nhà Hán với cái tên huyện Tượng Lâm. Về chủng tộc, họ là một bộ phận rộng phía Nam và Đông Nam châu Á. Ta quen gọi họ là Chàm theo tên nước về sau chứ thực ra không có một tộc Chàm riêng.<br /> ( Theo tìm hiểu sau này, tôi hiểu được: Chàm/Chăm là tên gọi để chỉ 1 tộc người, còn Chămpa là tên nước – Cham = Native; Champa = Nation ) <br /><br />Cổ sử Trung Quốc ghi chép nhiều cuộc "nổi loạn" của nhân dân huyện Tượng Lâm vào thế kỷ II, lắm phen làm cho quan binh nhà Hán phải thất điên bát đảo. Phong trào ngày càng phát triển mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành độc lập của Khu Liên năm 190 niên hiệu Sơ Bình (190-193). Chúng ta không biết gì nhiều về nhân vật này. Có người cho rằng Khu Liên là từ phiên âm bản ngữ "kurung", nghĩa là vị cầm đầu, như ta nói "vua", "vương", "trưởng" vậy, chứ không phải là tên riêng. Khu Liên tiêu diệt bộ máy đô hộ, xây dựng một quốc gia trên địa bàn của bộ lạc Dừa từ Hải Vân đến Đại Lãnh. Tên nước này Bắc sử ghi Lâm Ấp Nam sử chép theo, không rõ nguyên tiếng Chàm như thế nào và thủ đô đóng ở đâu. Sách Thuỷ kinh chú giải thích là "Tượng Lâm ấp "bỏ chữ "tượng", còn "ấp" thì cũng như "quốc". R.A.Stein trong cuốn Le Lin-Yi cho là phiên âm theo tên tộc "Krom", "Prum" hay "Côn Lôn" và thủ đô là Phật Thệ đóng tại Văn Xá, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng đấy chỉ là suy đoán, thiếu bằng chứng....<br />Suốt một thời gian dài, Lâm Ấp lo củng cố thực lực, không chú ý mấy đến phương Bắc, hoặc nếu có thì chỉ là đề phòng bọn xâm lược. Giữa thế kỉ IV, Lâm Ấp đã tổ chức được chính quyền hoàn bị, một quân lực hùng hậu, lại hợp nhất với tiểu quốc Panràn, hình thành một nền văn hoá phát triển rực rỡ, dựng bia đá nhiều nơi (6). Năm 349, quốc vương Phạm Văn (336-349) đem quân ra đánh quận Nhật Nam, bắt giết thái thú Hạ Hầu Lãm, lấy thây làm lễ tế trời, rồi đuổi hết bọn quan lại Trung Quốc, lấy Hoành Sơn làm cương giới phía Bắc, xây thành Khu Túc để phòng ngự (7). Vùng đất mới chiếm được này chia làm năm châu theo tên gọi của cổ sử Việt Nam (không rõ nguyên tiếng Chàm): Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Ô, Lý (hay Rí); trên đó, người Chàm và người Việt sống xen kẽ và đồng hoá lẫn nhau. Từ đây, Nhật Nam vĩnh viễn thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc...<br />Tuy nhiên, thỉnh thoảng tai hoạ chiến tranh vẫn đổ xuống đầu nhân dân, do bọn quan lại ở Giao Châu muốn thu hồi vùng đất đã mất. Lâm Ấp cũng nhiều lần "trả đũa", tấn công ra cướp phá dọc bờ biển Giao Châu. Cuối thế kỷ VI, bi kí cho biết tên của vương quốc là Champa và thủ đô là Sinhapura (8), thuộc vương triều Gangaraja. Sau đó, tình hình tạm yên một thời gian; các mặt văn hoá, kinh tế, xã hội đều phát triển; vua Kandarpadharma (640-645) đã có thể lập đến và dựng bia ở vùng Huế... Giữa thế kỉ IX, lại xuất hiện một địa điểm mới, ở làng Đồng Dương, cách Trà Kiệu 15 km về phía Đông Nam. Bi kí cho biết đó là Indrapura, thủ đô của vương triều cũng mang tên ấy.<br />Sử Trung Quốc nói rằng nhà Tuỳ (581-617) bình định được Lâm Ấp, chia làm ba châu Đảng, Nông, Xung, sau đổi gọi Tỉ Cảnh, Hải Âm, Lâm Ấp, thuộc bắc bộ quận Nhật Nam cũ. Nếu điều ghi chép này là có thực, thì chắc đã xảy ra trong lần xâm lược cảu tướng Lưu Phương năm 605. Nhưng Lưu Phương chỉ chiếm đóng trong một thời gian rất ngắn, rồi lại bị vua Phạm Phàn Chí, tức Sambhuvarman (595-629) đánh đuổi, phải cướp 18 tượng thần chủ bằng vàng chạy về được nửa đường thì chết. Thành thử việc chia đặt quận huyện ấy chỉ có trên giấy tờ!<br />Nhà Đường kế tiếp, lấy nước ta làm Giao Châu đô hộ phủ (662), sau đổi An Nam đô hộ phủ (679), gồm 12 châu, 59 huyện, biên giới cực nam vẫn là Hoành Sơn, và cũng chỉ kiểm soát được 56878 hộ.... Nhà Đường suy yếu, Champa còn thường xuyên đánh thốc ra phủ An Nam, như các trận lớn năm 802, 809,861, 862, 865... Đầu thế kỉ X, một sự kiện lớn xảy ra, nước Việt Nam giành được độc lập (939). Cục diện thay đổi, Champa không còn đối đầu với chính quyền đô hộ nữa, mà giao tiếp với một quốc gia bình đẳng. Dải đất Hoành Sơn- Hải Vân trở thành "vùng tranh chấp" và sự tình cờ của lịch sử sẽ quyết định số phận của năm châu này...<br /><i>Chú thích</i><br />(5) Nhiều tác giả, Lịch sử Việt Nam, tập I, Đại học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1983, tr.286<br />(6) Hiện nay, người ta đã tìm thấy nhiều bia, như bia Mỹ Sơn I chữ Phạn (ở Quảng Nam), bia Chợ Dinh I chữ Phạn (ở Tuy Hoà), bia Hòn Cụt chữ Phạn (ở Quảng Nam), bia Đông Yên Châu chữ Chàm cổ.<br />(7) Hiện nay chưa ai xác định được vị trí thành Khu Túc, có mấy giả thuyết: 1. Ở giữa đèo Ngang và sông Gianh (Ba Đồn); 2. Ở bờ nam sông Hương (thành Lồi); 3. Ở cửa sông Bồ (thành Hoá Châu)...<br />(8) Tuy sử Trung Quốc và sử ta theo đó chép nước này mỗi thời một khác (Hồ Tôn, Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành, Chiêm Ba, Chiêm Phù Lao, Chiêm Bất Lao), nhưng có lẽ trước sau vẫn là Chămpa, tên một loài cây có hoa ở xứ này (tên khoa học là michelia champacca linnae), ta thường gọi hoa đại hay hoa sứ. Thủ đô Sinhapura (thành phố sư tử) nay ở địa điểm xã Trà Kiệu, gần bờ nam sông Thu Bồn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng)....<br /><br /><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>3. Vùng đất tranh chấp </b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Việc bang giao giữa hai quốc gia trên dải đất dựa núi giáp biển không phải luôn luôn "thuận buồm xuôi gió". Những ông vua Đại Việt buổi đầu thực ra không hề có tham vọng gì về đất đai. Khốn nỗi tầng lớp thống trị Champa đã tập quen tinh thần hiếu chiến từ trước thời chống chính quyền đô hộ, gây thành mối ngoại hoạ thường xuyên đối với dân tộc Đại Việt. Vì thế, khói lửa thỉnh thoảng lại bùng lên, vùng "năm châu" không khỏi bị càn đi quét lại bao nhiêu phen, nằm trong tình trạng bất ổn...<br /><br />Khi nhà Ngô suy yếu, các võ tướng cát cứ gây nên cái hoạ mười hai sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh với sự giúp sức của các bạn Nguyễn Bặc, Lê Hoàn, Phạm Hạp, Lưu Cơ, Trịnh Tú... dẹp được hết. Ngô Nhật Khánh, sứ quân ở Đường Lâm (Phú Thọ, Sơn Tây), tuy phải về hàng, nhưng vẫn nuôi lòng bất mãn dù được trọng đãi. Năm 979, Nhật Khánh trốn vào Champa xin viện binh để trả thù. Vua Champa- không rõ nguyên tên Chàm, sử ta ghi là Ma Mĩ Thuế, Tì Mi Thuế hay Phê Mị Thuế (972-982)- muôn nhân cơ hội xâm chiếm đất đai, bèn tự cầm quân đem hơn nghìn binh thuyền ra đánh Hoa Lư. Chẳng may khi vào cửa Đại Ác (sau đổi Đại An, ở Hà Nam Ninh) gặp sóng gió, thuyền chìm gần chết. Nhật Khánh chết đuối, Ba Mĩ Thuế thoát nạn, thu vét tàn quân trở về!<br />Lê Hoàn lên ngôi, đánh bại giặc Tống xâm lược, rồi năm 982, sai hai sứ giả Từ Mục, Ngô Tư Bảo sang giao hảo với Champa, nhưng Ba Mĩ Thuế không hưởng ứng, bắt sứ giả giam lại. Lê Hoàn tức giận thân chinh, phá thành trì, huỷ tông miếu, giết quốc vương, chấm dứt vương triều Indrapura, rồi bắt nhân dân, thu vàng bạc và của quý đem về. Đây là cuộc nam chinh đầu tiên của triều đình phong kiến nước ta, nhưng sau khi đại thắng thì rút lui, bỏ mặc đất đai cho họ. Vua Champa kế tục sinh lòng kính sợ, chịu thần phục, hàng năm nộp cống đầy đủ. Vương triều mới bỏ Indrapura đã bị tàn phá, dời đô vào tận Vijaya (sử ta thường gọi là Chà Bàn, Đồ Bàn, ở Bình Định) (9).<br /><br />Thế nhưng chỉ được ít lâu, Champa cứ theo nếp cũ, thỉnh thoảng bỏ lệ cống, hoặc kéo ra cướp phá ven biển từ Nghệ An đến Thanh Hoá. Triều đình Đại Việt không thể chỉ phòng ngự thụ động, cho nên tiến công để giải quyết dứt điểm. Nhà Lí đã hai lần làm theo kiểu Lê Hoàn (năm 1020 và 1044). Sau đó, vua Champa, sử ta ghi tên Chế Củ, tức Yan Cri Rudravarman hay Rudravarman III, nuôi chí phục thù (?), luyện tập voi ngựa, thao diễn sĩ tốt, sửa soạn khí giới thuyền bè, lại sai sứ sang Tống cống phương vật để dựa thế cắt đứt ngoại giao với Đại Việt từ năm 1065. Áp dụng chiến thuật "tấn công để phòng ngự" và "ngồi im đợi giặc, không đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc" (như về sau vận dụng đối phó với Tống), vua Lí Thành Tông thân chinh, cử Lí Thường Kiệt làm đại tướng, năm 1069 đem năm vạn quân đi đường biển, đổ bộ Thi Nại (hay Thi Lị Bì Nại, ở Quy Nhơn) đánh thẳng vào Vijaya.<br /><br />Chế Củ bỏ thành, đem vợ con chạy trốn, bị Lý Thường Kiệt đuổi theo bắt được. Sau khi đốt phá hết 2500 khu nhà, vua Thánh Tông ban sư, giải theo Chế Củ và năm vạn nhân dân Champa. Đến Thăng Long, Chế Củ xin dâng ba châu Bố Chinh, Địa Lí, Ma Linh để chuộc mạng. Vua Lí nhận rồi tha cho Chế Củ về nước, nhưng cũng không quan tâm mấy đến đất đai "trên trời rơi xuống" như thế!<br /><br />Nhưng có lẽ tiếc đất, Chế Củ và quốc vương kế vị nấn ná không chịu giao, lại còn tiếp tục đem quân ra quấy nhiễu ven biển Thanh-Nghệ. Muốn yên mặt Nam để rảnh tay đối phó với nhà Tống, năm 1075, vua Lí Nhân Tông lại sai Lí Thường Kiệt vào đánh dẹp, vẽ bản đồ dâng lên, đổi tên ba châu là Bố Chính, Lâm Bình và Minh Linh (10), đặt quan cai trị, chiêu mộ nhân dân đến khai thác. Năm 1103, Lí Giác làm loạn ở Diễn Châu (Nghệ An), bị Lý Thường Kiệt đánh đuổi, chạy sang Champa, khuyên quốc vương Chế Ma Na, tức Jaya Indravarman II, nên ra đánh Đại Việt. Chế Ma Na thua chạy, trả đất và xin triều cống hàng năm. Từ đó, trong một thời gian dài ngót thế kỉ, hai nước hoà hảo, nhân dân yên ổn làm ăn.<br /><br />Năm 1225, nhà Trần thay nhà Lí. Lợi dụng thời gian ban đầu của triều đại mới gặp khó khăn nội bộ, Champa lại ra quấy nhiễu và đòi lại ba châu đã cắt nhượng. Đến năm 1252, vua Trần Thái Tông phải thân chinh, bắt được vương phi Bố Da La, nhiều thần thiếp và quan lại, quân dân đem về. Sau đó, vua Champa sai sứ sang cống, hai bên trở nên hoà hảo. Vua Champa bây giờ có lẽ là Jaya Indravarman VI (?-1257), và kế tiếp là Jaya Shimhavarman, tức Indravarman V (1257-1284). Ông này cùng với con, thái tử Harijit, đã kiên quyết chống lại cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông, góp phần với nhân dân Đại Việt giữ vững nền độc lập (11). Câu chuyện tiếp theo thuộc triều vua Nhân Tông và Anh Tông nhà Trần phần cuối của bài viết này...<br /><br />Chú thích<br /><br />(9) Học giả L.Cadière có lẽ dựa vào Khâm định Việt sử thông giám cương mục gọi là thành Phật Thệ, và xác định ở làng Nguyệt Biều, tức Thành Lồi, nay còn di tích. Không, vì thủ đô của nước nào thường ở vùng đất cơ bản của nước ấy, chứ không thể nằm nơi địa đầu thường xuyên bị áp lực bên ngoài đe doạ. Vả lại, sử cũ cho biết hành trình vua Lí đi từ cửa Tư Dung (cực nam Thừa Thiên Huế) đến cửa Thi Nại (Quy Nhơn) để đánh Phật Thệ mất đến 6 ngày, thì Phật Thệ phải là Vijaya. Phải chăng "Phật Thệ" phiên âm từ một tiếng Champa nào đó chỉ thành luỹ?<br /><br />(10) Bố Chính: Trấn Bình thời thuộc Minh; nội và ngoại Bố Chính (hay Bắc và Nam Bố Chính) thời Lê; các huyện Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch thời Nguyễn; nay là phần Bắc tỉnh Quảng Bình, lưu vực sông Gianh. Lâm Bình: Tân Bình thời Trần; Tây Bình thời thuộc Minh; Tân Bình rồi Tiên Bình thời Lê; các huyện Khang Lộc (đổi Phong Lộc), Quảng Ninh, Lệ Thuỷ thời Nguyễn, nay là phần Nam tỉnh Quảng Bình, lưu vực sông Nhật Lệ. Minh Linh: Nam Linh thời thuộc Minh; Minh Linh thời Lê; các huyện Vĩnh Linh, Do Linh đời Nguyễn; nay là phần Bắc tỉnh Quảng Trị.<br /><br />(11) Ông này nguyên tên Harideva, lên ngôi lấy hiệu Jaya Shimhavarman, đến năm 1266 đổi là Indravarman V. Còn Thái tử Harijit (sử ta ghi Bổ Đích) sau lên ngôi lấy hiệu Shimhavarman III, sử ta gọi là Chế Mân.<br /> <br /><br /><!--sizeo:6--><span style="font-size:24pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->4. Châu đi rồi châu lại về<!--sizec--></span><!--/sizec--><b></b><br /><br />Vua Trần Nhân Tông có tên huý là Khâm, sinh ngày 11 tháng Mười năm Mậu Ngọ (7/11/1258) (12), có công tham gia, tổ chức đánh tan 2 cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông (1285 và 1288). Ông tốn vị năm 1293, rồi lên ẩn tu tại am Ngoạ Vân núi Yên Tử năm 1299, pháp hiệu Hương Vân đại đầu đà, khai sáng thiền phái Trúc Lâm, được tôn xưng Điều Ngự Giác Hoàng, tịch ngày mồng 3 tháng Mười Một năm Mậu Thân (6/12/1308), để lại nhiều tác phẩm, trong đó Khoá hư lục nổi tiếng nhất. Con trưởng ông là Trần Thuyên, tức Anh Tông, sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tí (25/10/1276), lên ngôi ngày mồng 9 tháng Ba năm Quý Tị (16/4/1293) và tốn vị ngày 18 tháng Ba năm Canh Thân (24/4/1320).<br />Bấy giờ, đế quốc Nguyên Mông đang bành trướng thế lực ra khắp châu Á, châu Âu, đánh bại nhà Tống xuống miền đông nam Trung Quốc. Hốt Tất Liệt muốn sử dụng Đại Việt làm gọng kềm thứ hai, sai sứ sang vừa đe doạ vừa dỗ dành. Nhà Trần khôn khéo dùng biện pháp ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên quyết để kéo dài thời gian chuẩn bị lực lượng và nghiên cứu tình hình địch. Giữa lúc ấy, Hốt Tất Liệt tổ chức một đạo thủy quân, sai Toa Đô chỉ huy, vượt biển vào đánh Champa để tạo áp lực và hình thành một mũi tấn công ra Đại Việt. Toa Đô xuất phát từ Quảng Châu (12/1282), đổ bộ ra cửa Thi Nại (Cri Vinaya), chiếm Vijaya. Quốc vương Indravarman V cùng thái tử Harijit và tể tướng Bảo Thoát Thốc Hoa (G.Maspéro đoán là Bhadradeva) rút vào rừng, tổ chức cuộc kháng chiến (2/1283)...<br />Sách Nguyên sử, An Nam truyện dẫn lời Trịnh Thiên Hựu báo cáo: "Giao Chỉ thông mưu Chiêm Thành, sai hai vạn quân và năm trăm thuyền ứng viện". Chuyện ấy có hay không chưa rõ, nhưng Toa Đô đại bại khi đánh vào mật khu Champa (19/3/1283). Thấy quân ở lâu, gặp khó khăn về lương thực, Hốt Tất Liệt sai sứ sang Đại Việt mượn đường đi đánh Champa. Nhà Trần trả lời: "Từ nước tôi đến Chiêm Thành, đường bộ và đường thuỷ đều không tiện". Lại sai chở thóc gạo vào tiếp tế cho Toa Đô, nhà Trần đáp: "Lần trước bị đại quân tàn phá, nhân dân nước tôi chưa sản xuất kịp" (13). Toa Đô chờ lâu, phần thì hao binh tổn tướng, phần thì lương thực cạn dần, phải quyết định rút quân ra Bắc (24/3/1284), đóng ở vùng hồ Đại Lãng (có lẽ là phá Cầu Hai hay Lăng Cô ngày nay), cướp bóc vùng Ô Lệ, Việt Lí để kiếm ăn! (14)<br />Đến đầu năm 1285, khi Thoát Hoan xâm lược Đại Việt, Toa Đô lại kéo quân ra, định làm một gọng kềm từ phía nam. Nhưng vua tôi và quân dân nhà Trần đã phản công, giáng cho chúng những đòn sấm sét. Kết cục, Thoát Hoan bại tẩu về nước, chắc "tởn đến già", còn Toa Đô thì bỏ mạng trên sông Cầu (24/6/1285). Cái mộng làm bá chủ cả phương Nam của Hốt Tất Liệt tan thành mây khói! Chiến thắng to lớn lần này chính là nhờ sự đoàn kết đồng tâm giữa hai dân tộc Việt- Chàm vậy.<br />Sau chiến tranh, năm 1293, Nhân Tông tốn vị nhàn du và tu thiền. Năm 1301, nghĩ tình hoà hảo, Ngài giao hẳn việc nước cho con (Anh Tông), cùng tả hữu tuỳ tùng sang dạo thăm đất nước Champa. Quốc vương Chế Mân (Jaya Shimhavarman III, tức thái tử Harijit thời chống Nguyên) ân cần đón tiếp. Thấy Chế Mân phong thái anh hùng, ngài hứa gả công chúa út Huyền Trân cho, mặc dù quốc vương đã có bà hoàng hậu người Java. Nhân Tông trở về, gác bỏ hẳn việc đời, lên núi Yên Tử tu hành. Nhưng Chế Mân thì vẫn nhớ lời hẹn ước, sai sứ giả đem vàng ngọc, sản vật sang cống và xin cưới. Vua Anh Tông và triều thần bàn bạc mãi, không quyết. Chế Mân chưa nản lòng, bèn xin dâng đất hai châu Ô, Lí làm sính lễ. Bấy giờ, không ai bàn bạc gì nữa, mà công chúa Huyền Trân cũng bằng lòng vì nước ra đi.<br />Tháng Sáu năm Bính Ngọ (khoảng từ giữa tháng 7 đến giữa tháng 8 năm 1306), Anh Tông cử một phái đoàn đưa em gái sang làm dâu Champa, tiếp nhận đất đai. Tương truyền chính vua thân hành, khi nghỉ lại ở cửa Ô Long, mới cho đổi tên Tư Dung (dáng vẻ nết na của người con gái) để kỉ niệm. Qua tháng Giêng năm sau, vì nhân dân các thôn La Thuỷ, Tác Hồng, Đà Bồng (hẳn là người Champa) chống đối, vua sai hành khiển Đoàn Nhữ Hài vào hiểu dụ "tuyên bố đức y", đổi tên châu Ô ra châu Thuận, châu Lí ra châu Hoá, cùng thuộc phủ Lâm Bình vơi ba châu cũ, chọn người bản thổ đặt quan cai trị, cấp ruộng đất và miễn tô thuế ba năm cho nhân dân. ( Lý giải tên gọi này, có ý kiến cho rằng : Thuận Hoá có nghĩa là chấp thuận sự hoá đổi, chấp thuận sự trao đổi văn hoá giữa người Chàm và người Việt…)<br /><br />Huyền Trân rất được quốc vương Chế Mân sũng ái; nhưng chẳng may, cuộc tình duyên quá ngắn ngủi! Tháng Năm năm Đinh Mùi (1307), Chế Mân qua đời. Sợ em mình bị đưa lên dàn hoả thiêu theo tục lệ Champa, đến tháng Mười, Anh Tông sai Tả bộc xạ Hành khiển Trần Khắc Chung và An phủ sứ Đặng Văn sang dùng mưu đón công chúa về nước... Mối giao hảo thế là tan vỡ hẳn. Champa thường xuyên ra lấn cướp, đòi lại hai châu; quân Trần cũng nhiều lần vào tấn công, khi thắng khi bại. Nhân dân ở đây phải chịu nạn chiến tranh chà đi xát lại bao nhiêu phen, không an tâm khai canh sản xuất, cho đến lúc vua Lê Thánh Tông đẩy biên giới sâu về phía Nam năm 1470-1471. Vùng đất cũ của nước Văn Lang thời các vua Hùng xưa kia đã trở về trọn vẹn với gia đình Đại Việt, mà bộ phận cuối cùng ở "đầu sóng ngọn gió" là tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay (15)...<br />Chung quanh câu chuyện này, thư tịch cổ ghi chép rất sơ sài, lại mang giọng điệu mỉa mai châm biếm của nhà nho với quan niệm luân lí khắt khe va tinh thần phân biệt chủng tộc, như sách Toàn thư nói: "Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Trước đây, Thượng hoàng đi chơi các địa phương sang nước Chiêm Thành, đã trót hứa gả con gái cho. Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn điển vua nhà Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô làm lời thơ bằng quốc ngữ để chê cười" (16). Sử thần còn trách: "Khi đi chơi mà trót hứa gả, sợ thất tín, thì sao mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi mệnh thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi cho đúng lời hẹn trước..."<br />Thật ra, Vương Tường truyện chép trong Hồng Đức quốc âm thi tập chưa chắc là tác phẩm đời Trần; trường hợp Chiêu Quân cũng khác hẳn trường hợp Huyền Trân. Chiêu Quân là con gái nhà dân, bị tuyển vào làm cung nữ, chưa từng một lần gặp vua; còn Huyền Trân là một nàng công chúa, hiển nhiên "lá ngọc cành vàng". Vả lại, nhà Trần gả công chúa cho quốc vương Champa khi ở thế "thượng phong" vì lợi ích của Tổ Quốc, quyết không phải do khiếp nhược như vua tôi triều Hán trước sức mạnh Hung Nô:<br />Vật chi muông cỏ dám lăng loàn<br />Âu hẳn trong triều ít kẻ ngoan<br />Mắt thấy thư Hồ văn vỡ mật<br />Tai nghe nhạc Bắc võ run gan...<br />(Vương Tường truyện)<br />Hơn nữa, cái tinh thần kì thị chủng tộc, "phân biệt hoa di" thời Trần trở về trước hoặc chưa có, hoặc mờ nhạt. Các vua Lí cũng đã từng gả công chúa cho tù trưởng các bộ tộc miền núi phía Bắc (17). Hôn nhân là biện pháp tốt nhất thời bấy giờ để thắt chặt tình đoàn kết thân ái giữa các dân tộc, huống chi với Huyền Trân, nước Đại Việt thu hồi hai châu vốn là đất cũ đã mất vào tay Champa suốt 867 năm mà không gây ra cảnh binh đao, và Chế Mân lại là một vị anh hùng chống Nguyên Mông, xứng đáng làm rễ nước Đại Việt lắm chứ!<br />Tóm lại, Trần Nhân Tông là một vị vua anh hùng, Trần Nhân Tông là một vị vua sáng suốt, đã sẵn sàng đón lấy cơ hội hợp lí, tốt nhất để khôi phục, mở mang lãnh thổ bằng giải pháp hoà bình. Các sử gia thời phong kiến quên rằng nàng công chúa đời Trần khảng khái chấp nhận lời đề nghị của cha anh, khước từ hạnh phúc thanh xuân, đem về lại cho Tổ Quốc "nước non ngàn dặm" không tốn một mũi tên, không đổ một giọt máu. Đã hơn bảy trăm năm, ngày nay chúng ta không thể không thông cảm, yêu mến và ca ngợi, biết ơn những con người đã để lại cho chúng ta một tài sản vô giá. ( Bài chi tiết về Vua Trần Nhân Tông và Huyền Trân công chúa sẽ được viết riêng, về điểm du lịch: “Đền thờ vua Trần Nhân Tông và Huyền Trân Công chúa trên núi Ngũ Phong”. Sẽ có chi tiết về chuyện tình lãng mạn của nàng Huyền Trân… Các bạn chú ý theo dõi nhé! *_+)<br /><br /><i>Chú thích</i><b></b><br />(12) Đại Việt sử kí toàn thư ghi ngày 11 tháng 11 năm Giáp Ngọ, Nguyên Phong 8, nhưng xét ra phải là năm Mậu Ngọ (vì Giáp Ngọ là 1234 hay 1294, đều không phù hợp). Trong chính văn lại nói: "Mùa đông, tháng 10, lấy ngày sinh nhật làm tiết Thọ thiên". Vì vậy, chúng tôi ghi ngày 11 tháng Mười năm Mậu Ngọ.<br />(13) Trên đây dẫn theo: Hà Văn Tấn, Trần Thị Tâm, cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỉ XIII, Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1972, từ tr.149.<br />(14) Đây là theo Nguyên sử. Bi kí Champa có nói đến hai châu Ulik và Vuyar, áng chừng ở phía Bắc "cựu châu" Amuravati (Quảng Nam- Quảng Ngãi). Hà Văn Tấn và Trần Thị Tâm cho rằng Ulik và Vuyar cũng là Ô, Lí chép trong sử ta và Ô Lệ, Việt Lí chép trong sử Nguyên.<br />(15) Châu Thuận đời Trần gồm các huyện Lợi Điều, Thạch Lan, Ba Lãng, An Nhân; thời Lê đổi làm hai huyện Vũ Xương, Hải Lăng và hai châu Thuận Bình, Sa Bôi thuộc phủ Triệu Phong, nay là phần Nam tỉnh Quảng Trị, lưu vực sông Thạch Hãn. Châu Hoá thời Trần gồm các huyện Lợi Bồng, Tư Dung, Thế Vinh (thời thuộc Minh gộp làm một huyện Đan Điền (Sa Lệnh, Bồ Đài, Bồ Lãng, Trà Kệ; nhà Lê chia làm ba huyện Đan Điền (Sa Lệnh, Bồ Đài cũ), Kim Trà (Bồ Lãng, Trà Kệ cũ) và Tư Vinh (Sĩ Vinh cũ); Nguyễn Hoàng chỉ đổi tên năm 1570: Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vinh (không rõ đọc thành Phú Vang từ bao giờ và vì sao), cũng thuộc phủ Triệu Phong. Vua Gia Long tách ba huyện này đặt làm dinh Quảng Đức, vua Minh Mạng gọi là phủ Thừa Thiên từ năm 1822, rồi năm 1835 chia đặt thêm ba huyện Phong Điền, Hương Thuỷ, Phú Lộc. Bây giờ ta vẫn giữ như thế, chỉ thêm thành phố Huế và hai huyện miền núi Nam Đông, A Lưới.<br />(16) Ngô Sĩ Liên (khởi thảo), Đại Việt sử kí toàn thư, bản dịch: Cao Huy Giu, tập II, Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1967, tr. 92.<br />(17) Hoàng Xuân Hãn, Lí Thường Kiệt, Ban tu thư Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1966, tr.108-110.<br /><br />Sau này hai châu Thuận, Hoá được gom lại thành phủ Thuận Hóa dưới thời nội thuộc nhà Minh. Năm 1466, Lê Thánh Tông phân chia địa giới hành chính cả nước Đại Việt thành 12 đạo thừa tuyên và chính thức đặt Thuận Hóa làm thừa tuyên Thuận Hóa. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất này và cùng con cháu các đời xây dựng Thuận Hóa thành một vương quốc Nguyễn ở xứ Đàng Trong kéo dài xuống tận mũi Cà Mau. Đến đời nhà Hậu Lê, Thuận Hóa là một đơn vị hành chính cấp tỉnh. Năm 1604, Nguyễn Hoàng đã cắt huyện Điện Bàn thuộc trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, sáp nhập vào trấn Quảng Nam. Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn (thế kỷ 17- 18) là vùng đất trải dài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân...<br />Có ý kiến cho rằng, theo cách gọi tắt của dân gian, từ Huế là do Thuận Hóa thành Hóa rồi đọc trại thành Huế như ngày nay. Vào thế kỷ thứ 17, người châu Âu thường gọi Thuận Hóa là Singoa, Sinoa hay Senna<br /><br /><br />Bài tiếp theo:<br /><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><b>" Đô thành Phú Xuân" </b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Shilly - a roamer...
anhthaiscg
26-05-2012, 12:23 AM
Chiến dịch " Huế - Zdum cận cảnh " phần Kinh thành Huế mở màn bằng "trận đánh" vào <b>Kỳ Đài</b> - hình ảnh cao nhất, dễ đập vào mắt nhất khi áp sát Kinh thành Huế theo hướng trực diện. <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/wink.gif" style="vertical-align:middle" emoid=";)" border="0" alt="wink.gif" /> <br /><br />Kỳ Đài - rõ ràng là cái đài cờ, và nhiệm vụ chính là...treo cờ trên đài ấy! Biết là biết vậy nhưng có phải ai cũng biết đây là cái đài treo cờ cao nhất thế giới kô? <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/cool.gif" style="vertical-align:middle" emoid="B)" border="0" alt="cool.gif" /> <br /><br />Có thể bạn đã nhìn thấy cờ treo trên nóc tháp truyền hình hay trên đỉnh các tòa nhà cao tầng, cao dễ đến vài trăm mét...Nhưng, nóc tháp truyền hình ấy rõ ràng không phải xây lên để treo cờ rồi, các tòa nhà cao tầng thì lại càng không. Kỳ Đài ở Huế, từ mặt đất đến đỉnh chỉ có 54.5m nhưng lại là Cột Cờ cao nhất trên thế giới nếu tính theo mục đích để xây cái đài ấy, một cái đài để treo cờ, trước đây là treo cờ Triều đình!<br /><br />Kỳ Đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807), cùng thời gian xây dựng Kinh thành. Đến thời vua Minh Mạng, Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829, 1831 và 1840. <br />Kỳ Đài gồm hai phần: đài cờ và cột cờ.<br /><br />• Đài cờ gồm ba tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau. Tầng thứ nhất cao hơn 5,5 m, tầng giữa cao khoảng 6 m, tầng trên cùng cao hơn 6 m. Tổng cộng của ba tầng đài cao khoảng 17,5m. Từ mặt đất lên tầng dưới bằng một lối đi nhỏ ở phía trái Kỳ Ðài, tầng dưới thông với tầng giữa bằng một cửa vòm rộng 4 m, tầng giữa thông với tầng trên cùng cũng bằng một cửa vòm rộng 2 m. Ðỉnh mỗi tầng có xây một hệ thống lan can cao 1 m được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng. Nền ba tầng lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa xuống dưới. Trước đây còn có hai chòi canh và tám khẩu đại bác.<br />• Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm hai tầng, cao gần 30 m. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài hơn 32 m. Đến năm Thành Thái thứ 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn quật gãy( bão năm Thìn đó, cầu Trường Tiền còn bị thổi bay về tận cồn Hến mà!), nên sau phải đổi làm bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa. Năm 1948, cột cờ bằng bê tông cốt sắt với tổng chiều cao 37 m như hiện nay mới được xây dựng. <br /><br />Thời Nguyễn, trong tất cả các dịp lễ tiết, chầu mừng, tuần du cho đến việc cấp báo đều có hiệu cờ. Cờ của Triều đình là Long Tinh Kỳ. Kỳ là cờ. Long là Rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng. Râu tua màu xanh dương chung quanh tượng trưng cho Tiên và cũng là màu đại dương, nơi Rồng cư ngụ. Tinh có nghĩa là ngôi sao trên trời, mà cũng có nghĩa là màu đỏ. Màu đỏ còn biểu tượng cho phương Nam và cho lòng nhiệt thành. Long Tinh Kỳ là Cờ Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu hiệu cho một dân tộc có nguồn gốc Rồng Tiên ở phương Nam vùng nhiệt đới.<br /><br /><img src="http://gi89.photobucket.com/groups/k212/F9UXLVSG31/LongTinhKy.gif" border="0" class="linked-image" /><br /><br />* Nền vàng biểu hiệu Hoàng đế và sắc tộc dân Việt<br />* Chấm đỏ biểu hiệu phương Nam<br />* Tua xanh biểu hiệu đại dương, vẩy rồng <br /><br />Vào các dịp quan trọng, như Lễ đăng quang hay Sinh nhật vua...ở giữa Long Tinh Kỳ còn được thêu hình 1 con Rồng cho thêm phần long trọng.<br /><br />Cờ Long Tinh đã có từ thời vua Gia Long khi mới thống nhất sơn hà và lên ngôi Hoàng đế vào năm 1802. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn chưa có bang giao quốc tế với các nước Tây phương, nên Long Tinh Kỳ được xem là "Đế Kỳ". Đế kỳ khác quốc kỳ ở chỗ:<br /><br />- Đế kỳ là cờ của nhà vua, vua ở đâu thì đế kỳ treo hay dựng nơi đó. <br />- Quốc kỳ là biểu tượng của quốc gia, treo tại các nơi có cơ quan công quyền chứ không chỉ ở chốn hoàng triều.<br /><br />Năm 1863, sau khi Kinh Lược Sứ Phan Thanh Giản thụ mệnh vua Tự Đức đi sứ sang Pháp trở về, thấy Pháp chào quốc kỳ Tam Tài trong các buổi lễ, nên ý niệm dùng Long Tinh Kỳ làm "quốc kỳ" mới khởi đầu.<br /><br />Kỳ Đài năm 1875 - lúc chưa có cầu Trường Tiền<br /><img src="http://gi89.photobucket.com/groups/k212/F9UXLVSG31/KydaiHue-1875.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br /><img src="http://gi89.photobucket.com/groups/k212/F9UXLVSG31/KyDaiHue.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Năm 1885, trước âm mưu đô hộ của thực dân Pháp đã lộ liễu quá rõ, triều đình nhà Nguyễn không còn chịu nổi áp lực ngoại xâm, Phụ Chính Đại Thần Tôn Thất Thuyết ra lệnh tấn công quân Pháp. Cuộc tấn công bị thất bại, thủ đô Huế bị thất thủ. Ông phò vua Hàm Nghi trốn chạy khỏi hoàng thành, ra Quảng Trị, rồi sau đó lên căn cứ Tân Sở, miền núi Trường Sơn, giáp biên giới Lào-Việt, để tiếp tục chống Pháp. Triều đình mang theo lá cờ Long Tinh để thể hiện sự hiện diện của vua Hàm Nghi và cũng để hiệu triệu quốc dân hưởng ứng phong trào "Cần Vương" (Cần Vương nghĩa là cứu viện vua). Nhiều nhà ái quốc đã hưởng ứng phong trào Cần Vương, và nổi lên chống Pháp khắp nơi từ nam chí bắc, mà lịch sử cận đại còn ghi rõ như các cuộc khởi nghĩa của các anh hùng Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật, v.v... Họ dựng lên những lá "Long Tinh Kỳ" tại bộ chỉ huy cũng như tiền đồn, để xác quyết sự hưởng ứng của họ đối với hịch Cần Vương. Chính vì vậy mà sử sách thế giới mới ghi nhận sự hiện hữu của lá Cờ Long Tinh vào năm 1885, mặc dù nó đã được dùng làm đế kỳ từ đầu thế kỷ 19.<br /><br />Vì cờ Long Tinh theo vua Hàm Nghi vào bưng kháng Pháp, nên người Pháp không chấp thuận cho vua Đồng Khánh dùng Long Tinh Kỳ làm quốc kỳ nữa. Triều đình Đồng Khánh phải chế ra lá cờ mới. Lá cờ mới cũng có nền vàng, nhưng màu đỏ thì gồm hai chữ Hán "Đại Nam" mang tên quốc hiệu nước ta lúc bấy giờ, tức là "Đại Nam Kỳ". <br /><br />Vua Đồng Khánh ở ngôi được 3 năm thì băng hà vì bạo bệnh vào ngày 25 tháng 12, 1888, lúc mới 25 tuổi. Vì các con của ông còn nhỏ nên triều đình lập hoàng tử Bửu Lân, con vua Dục Đức lên ngôi năm 1889, lấy hiệu là Thành Thái. <br /><br />Vua Thành Thái là một vị vua thông minh, hiếu học, còn nhỏ tuổi mà sớm có ý chí tự cường dân tộc và có tinh thần canh tân đất nước. Ông thích tìm cơ hội sống gần dân, thường ra khỏi hoàng thành giả dạng đi chơi hay săn bắn, thậm chí về sau còn giả điên, nhưng thật ra là để tiếp xúc với các nhà chí sĩ cách mạng. <br /><br />Trước đó, vào tháng 8 năm 1883 đời vua Hiệp Hòa, Pháp tấn công vào cửa Thuận An, gởi tối hậu thư bắt ép triều đình phải ký hoà ước Quý Mùi 1883, công nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, còn Trung và Bắc Kỳ thuộc quyền bảo hộ của Pháp (có nghĩa là mất tư cách độc lập về ngoại giao và quốc phòng). Từ đó cho đến năm 1945, nước ta không còn là một lãnh thổ nguyên vẹn từ Nam chí Bắc.<br /><br />Cảm thông tâm trạng bất mãn của nhân dân thể hiện qua những tiếp xúc với các sĩ phu ngoài hoàng thành, vua Thành Thái đã không những không thỏa mãn các đòi hỏi của chính quyền bảo hộ, mà còn trọng dụng nhiều nhân tài thanh liêm và đức độ như các ông Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, với hy vọng khôi phục và canh tân đất nước. Năm 1890, nhà vua xuống chiếu thay đổi quốc kỳ chữ Hán bằng quốc kỳ mới. Lá cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ lần đầu tiên được cấu tạo và được dùng làm quốc kỳ. <br /><br /><img src="http://gi89.photobucket.com/groups/k212/F9UXLVSG31/CoQueLy.gif" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Ngày 23/8/1945, sau khi Bảo Đại thoái vị, lá cờ đỏ sao vàng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thay thế cho là cớ hình quẻ ly của triều đình Nguyễn. Trong Sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, 08 giờ sáng ngày 31/1/1968 quân giải phóng miền Nam chiếm được kỳ đài và lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên trong 26 ngày đêm. Đến ngày 24/2/1968, đại đội Hắc Báo, thuộc sư đoàn bộ binh 1 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chiếm lại kỳ đài và xé lá cờ này xuống.<br />Ngày 26/3/1975, sau khi giành thắng lợi trong Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, lá cờ dài 12 m, rộng 8 m của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lại được kéo lên kỳ đài.<br /><br />Xét về chức năng, thì ngoài chức năng chính là dùng để treo cờ Triều đình, Kỳ Đài còn là cái đài quan sát. Trên đỉnh cột cờ còn đặt một trạm quan sát gọi là Vọng Đẩu. Thỉnh thoảng, lính canh phải trèo lên Vọng Đẩu dùng kính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển, nhòm xuống tận cửa Thuận An. <br /><br />Cách đây vài năm, Kỳ đài là nơi vọng nguyệt, nghênh lương ( ngắm trăng, hóng gió mát) của người dân Huế, khách du lịch. Nhưng vì lí do bảo quản những khẩu đại bác còn trên đài cũng như tăng thêm vẻ uy nghiêm của Kỳ đài, chính quyền đã không cho phép người dân cũng như du khách lên "tập trận" trên đó nữa! Âu cũng là điều tốt! <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/cool.gif" style="vertical-align:middle" emoid="B)" border="0" alt="cool.gif" /> <br /><br />Còn một chuyện nữa, mà không phải ai cũng biết... <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/wink.gif" style="vertical-align:middle" emoid=";)" border="0" alt="wink.gif" /> <br /><br />Trước ngày Huế khởi nghĩa 23/8/1945, có một sự kiện khiến cả thành phố náo nức vui mừng: đó là việc lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên kỳ đài Huế ngày 21/8 thay cho cờ quẻ ly.<br /> <br />Người chiến sĩ được đồng chí Trần Hữu Dực trực tiếp giao việc ấy là chàng trai xứ Nghệ 25 tuổi Đặng Văn Việt (ĐVV). <br />Điều thú vị là chàng trai được cấp trên tin cậy ấy lại là một “công tử” con quan. Thân phụ chàng là cụ Đặng Văn Hướng, đỗ Phó bảng năm 1919, từng giữ chức Thị lang Bộ Công, Tham tri Bộ Hình ở Huế...<br />Sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chủ tịch đã mời cụ làm Bộ trưởng không bộ, phụ trách 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.<br />Ông nội chàng là cụ Đặng Văn Thụy đỗ Hoàng Giáp năm 1904, từng giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám Huế (tương tự như Hiệu trưởng Đại học quốc gia ngày nay).<br />Cụ Thụy xuất thân từ một gia đình nông dân kiêm nghề thợ rèn, đỗ đại khoa, làm quan to, khi cáo quan về quê Nho Lâm lại sống cuộc đời dân dã như một người lao động bình thường nên dân chúng trong vùng truyền tụng rất nhiều giai thoại tôn vinh cụ.<br />Ví như chuyện cụ Hoàng (tức cụ Đặng Văn Thuỵ) ăn khoai cả vỏ hay chuyện quan phủ Diễn Châu mới về nhậm chức, khi đến ra mắt cụ, gặp mương nước, đã nhờ một “lão nông” cõng qua, sau mới biết “lão nông” đó chính là cụ Hoàng, vội sụp lạy xin lỗi!<br />Cụ Hoàng cười, bảo: “Không sao! Ta chỉ nhắc lần sau nếu nhờ người cõng thì nên nhờ trai trẻ. Nhờ ông già cõng, không phải đạo, ông ạ!”…<br />Chàng trai xuất thân từ một gia đình như thế đã có vinh dự được treo lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên lên cột cờ trước Ngọ Môn.<br />Chàng từng là học sinh trường Quốc học Huế; sau khi đỗ tú tài toàn phần, ra Hà Nội học “trường thuốc”, nhưng chưa thành bác sĩ thì Nhật đảo chính Pháp, “trường thuốc” phải đóng cửa, chàng lại trở vào Huế dự lớp học “Thanh niên tiền tuyến” của Phan Anh, tham gia tổ Việt Minh bí mật trong lớp học.<br />Sáng 20/8/1945, ĐVV được mời đến một điểm hẹn gặp đồng chí Trần Hữu Dực, lúc đó là Thường vụ Tỉnh ủy:<br />- Tôi giao cho đồng chí lá cờ đỏ sao vàng. Đồng chí có nhiệm vụ treo nó lên cột cờ trước cửa Ngọ Môn.<br />- Xin cho biết bao giờ xong?<br />- Nội trong ngày mai, 21/8.<br />Người lính trẻ ĐVV theo tác phong quen thuộc chỉ biết tìm cách để hoàn thành nhiệm vụ.<br />Nhận lá cờ to bằng cả gian nhà từ tay đồng chí Trần Hữu Dực trao cho, ĐVV cuộn lại cho vào một bao tải, buộc vào sau xe đạp rồi chở về Trường “Thanh niên tiền tuyến”.<br />Trên đường phố, xe đạp, xe kéo nhộn nhịp, tiếng guốc gỗ lẹp kẹp kéo lê dọc vỉa hè; một tốp lính Nhật chừng 30 tên, hàng ngũ chỉnh tề đang đi về phía Tòa Khâm, tên chỉ huy đeo lưỡi kiếm dài gần sát đất.<br />ĐVV dừng xe nghỉ lấy sức, ăn một bát chè đậu ván thịt quay cho mát dạ. Trên kỳ đài, cờ “ba que” vẫn bay trước gió...<br />Hơn nửa thế kỷ sau, ĐVV kể lại chuyện cũ một cách bình thản, nhưng ngày đó thì người lính trẻ hẳn là hồi hộp lắm. Về đến trường, anh giấu kín bao tải trong một góc buồng.<br />Hầu hết anh em lớp “Thanh niên tiền tuyến” đã “Việt Minh hóa”, nên chẳng cần phải quá giữ gìn.<br />Sáng hôm sau, ngày 21/8/1945, theo kế hoạch đã thống nhất với đồng chí Lâm Kèn, tổ trưởng Việt Minh, ĐVV cùng với Nguyễn Thế Lương (tức Cao Pha) dùng xe đạp chở lá cờ lớn đến kỳ đài Huế.<br />Hai anh em ăn mặc chỉnh tề với bộ kaki vàng mới toanh, dày cộp và bộ ghệt ôm chặt đôi chân, mũ ca-lô đội đầu, trông chẳng khác gì 2 ngự lâm pháo thủ.<br />ĐVV thì còn khẩu súng ngắn “Barillet” của anh Thế Lương cho mượn đeo bên hông. Lá cờ được cuộn tròn theo chiều ngang, to như một con trăn lớn, buộc chặt và gác lên hai đầu xe đạp.<br />Kỳ đài Huế có 3 tầng, cột cờ cao 29,52m. Dây kéo cờ là một sợi thừng to bằng cổ tay, mỗi lần kéo cờ lên xuống phải dùng sức mạnh của sáu tên lính vạm vỡ.<br />Do đó, nếu không dựa uy thế của cách mạng khuất phục bọn lính bảo vệ ở đây thì hai chàng thanh niên vừa “Việt Minh hóa” không thể kéo cờ lên được.<br />Bảo vệ cột cờ trước Ngọ Môn lúc đó có một tiểu đội lính 12 tên, được trang bị 12 khẩu súng mút-cờ-tông, chỉ huy là một “thầy đội”.<br />Họ còn có nhiệm vụ là đốt pháo lệnh vào lúc 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 6 giờ chiều. Bọn chúng đã nghe tin cách mạng nổ ra ở Hà Nội và nhiều nơi khác nên không dám ngăn cản hai chiến sĩ của ta.<br />Dựng xe đạp dưới chân kỳ đài, Nguyễn Thế Lương chịu trách nhiệm giữ xe và lá cờ, còn ĐVV chạy băng lên nhà lính gác, truyền lệnh cho thầy đội:<br />- Theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa cách mạng, chúng tôi có nhiệm vụ treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ. Các anh cho hạ ngay cờ quẻ ly...<br />Trước uy thế của cách mạng, “thầy đội” không dám phản ứng, miệng rối rít:<br />- Dạ dạ, các ông cứ ra lệnh.<br />- Anh cho hai lính xuống giúp đưa cờ lên đây.<br />5 phút sau, lá cờ đã được đưa đến vị trí cần thiết và lễ treo cờ bắt đầu. Lúc đó vào khoảng hơn 9 giờ sáng. 6 lính bồng súng và thầy đội xếp hàng ngang, Nguyễn Thế Lương đứng đầu hàng.<br />ĐVV ra lệnh: “Hạ cờ”. Sáu người lính liền kéo dây hạ lá cờ quẻ ly xuống rồi buộc thay vào đó lá cờ đỏ sao vàng. Sau khi chỉnh đốn lại hàng ngũ, ĐVV hô lớn: “Chào cờ. Chào!”.<br />Những người lính bảo vệ kỳ đài bồng súng chào, còn hai chiến sĩ Việt Minh đưa ngang tay chào kiểu nhà binh.<br />Lá cờ Tổ quốc hai ngày trước đã tung bay trên bầu trời Hà Nội, nay từ từ được kéo lên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn, trong tiếng reo vui của nhân dân thành phố Huế đang sục sôi khí thế cách mạng.<br />Hai ngày sau (23/8/1945), Cách mạng tháng 8 bùng nổ ở Huế, Ủy ban khởi nghĩa Trung Bộ và Thừa Thiên - Huế ra mắt trước một cuộc mít tinh lớn.<br />Và một tuần sau (ngày 30/8/1945), cuộc mít tinh lớn thứ hai tổ chức trước Ngọ Môn để làm lễ nhận ấn tín của nhà vua và công bố tuyên ngôn thoái vị trước đoàn đại biểu thay mặt Chính phủ trung ương do ông Trần Huy Liệu và nhà thơ Huy Cận đứng đầu…<br />Những chuyện đó nhiều người đã biết. Nhưng có một chi tiết là trước cuộc mít tinh, theo đề nghị của vua Bảo Đại, trước khi giao ấn kiếm, Ban Tổ chức cho phép kéo cờ quẻ ly lên lần cuối và do đó, lần thứ hai, lá cờ đỏ sao vàng lại được kéo lên.<br />ĐVV đang đứng dự mít tinh, bỗng thấy ông lãnh binh đội cận vệ Hoàng gia (lính khố vàng) đến cạnh và nói: “Hôm nọ, khi hai ông ra lệnh hạ cờ nhà vua, tôi đã cho 120 lính khố vàng nằm rạp dọc thành cửa Ngọ Môn, chĩa súng vào hai ông.<br />Xin ý kiến Hoàng đế, ngài thét lên và bảo: “Chớ, chớ! Việt Minh đấy! Các ngươi mà nổ súng thì trẫm là người chết trước đó!”… Hôm ấy mà Hoàng đế ra lệnh bóp cò thì hôm nay hai ông không còn nữa và chắc chắn hôm nay tôi và vợ con tôi cũng không còn nữa…”.<br />ĐVV cười và nói: “Vận nước đã xui các ông không làm một việc bậy bạ. Tránh được một thảm họa cho cả hai bên…”.<br />Câu chuyện nhỏ “đừng bắn” ấy trong ngày Cách mạng Huế tháng 8/1945, ngẫm ra thật có ý nghĩa…<br />Và hầu như toàn bộ lực lượng vũ trang của chính quyền Trần Trọng Kim lúc đó gồm lính khố vàng, lính khố xanh, lính khố đỏ đều răm rắp theo lệnh của cách mạng, hạ vũ khí, bàn giao kho tàng cho Ủy ban khởi nghĩa; nhiều người đã tham gia lực lượng vũ trang của ta.<br />ĐVV được chỉ định làm Phân đội trưởng Phân đội I (gồm 36 người) của Giải phóng quân, trấn giữ cửa Thuận An và tại đây, anh đã chỉ huy trận bao vây chiếc tàu đầu tiên của giặc Pháp định quay lại chiếm Huế, bắt sống một số tên, trong đó có tên quan ba là đại đội trưởng thuộc Trung đoàn do tướng Alessandri chỉ huy…<br />Sau những ngày đầu cách mạng sôi nổi ấy, lớp chiến sĩ trẻ trường “Thanh niên tiền tuyến” của Phan Anh đã tiếp tục có nhiều đóng góp trong hai cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc ta, trong đó có 8 người đã trở thành những tướng lĩnh được nhiều người biết như Cao Văn Khánh, Phan Hàm, Cao Pha, Đoàn Huyên, Lâm Kèn…<br />Riêng người chiến sĩ kéo lá cờ năm ấy, trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp đã lập những chiến công lẫy lừng, xứng đáng với vinh dự được cách mạng tin cậy giao phó ngày đầu cách mạng.<br />ĐVV chính là người trung đoàn trưởng nổi tiếng đã chỉ huy những trận đánh trên “Đường số 4 rực lửa” trong chiến dịch Biên giới (năm 1950), khiến tướng tá giặc khiếp đảm và gọi ông là “Đệ tứ quốc lộ đại vương”!<br /><br />Tháng 8 - 2005, lúc đã bước sang tuổi 85, "chàng Đặng Văn Việt" năm xưa đã trở lại thăm Kỳ đài Huế...<br /><br />Kỳ Đài Huế ngày nay, hình ảnh tự hào không chỉ của riêng người Huế <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/biggrin.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":D" border="0" alt="biggrin.gif" /> <br /><img src="http://gi89.photobucket.com/groups/k212/F9UXLVSG31/Hue-CotCoNgoMon.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Shilly,<br /><br />P.S: Phú Văn Lâu, Phu Vân Lâu, Phủ Vân Lâu....tên nào mới đúng? Bài tiếp theo sẽ giúp bạn giải mã ô chữ thú vị này! <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/cool.gif" style="vertical-align:middle" emoid="B)" border="0" alt="cool.gif" />
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.