PDA

View Full Version : Triều Đại Vua Chúa Việt Nam


quanthoigian
27-05-2012, 08:31 AM
<!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro-->NƯỚC VIỆT NAM -QUỐC HIỆU<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />Thời các vua Hùng (2897-258 trước công nguyên) nước ta gọi là Vǎn Lang. Thời Thục An Dương Vương (257-207 trước công nguyên) gọi là Âu Lạc. Thời nhà Đinh (968-980) dẹp xong loạn 12 sứ quân, lập nên một nước độc lập, lấy tên là Đại Cồ Việt. Sang thời Lý đổi là Đại Việt. Đến thời Nguyễn, vua Gia Long Nguyễn Ánh, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, đổi tên là nước Việt Nam. Một chi tiết khá lý thú là từ 500 nǎm trước, ngay trang mở đầu tập &quot;Trình tiên sinh quốc ngữ&quot; của Nguyễn Bình Khiêm có ghi &quot;Việt Nam khởi tố xây nền&quot; khẳng định tên nước ta là Việt Nam. Một sự tiên đoán chính xác.<br /><br />Cư dân cổ xưa ở nước ta là người Lạc Việt. Họ từ bờ biển Phúc Kiến (Trung Quốc) di cư sang. Hàng nǎm, theo gió mùa, họ vượt đến các miền duyên hải ở phương Nam như Hải Nam, vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mã (Việt Nam). Họ thường tự sánh mình với loài chim Lạc mà hàng nǎm, đầu mùa lạnh, chim cũng rời vùng biển Giang Nam (Trung Quốc) mà bay về Nam, rồi đến mùa nắng gió nồm, chim lại trở về Giang Nam. Vì thế, người Việt lấy chim Lạc làm vật tổ. Cái tên của vật tổ ấy đã trở thành tên của thị tộc. Sau nhiều nǎm vượt biển như vậy, người Lạc Việt đã ở lại miền Bắc Việt Nam. Họ lấn lướt và đồng hoá với người Anh-đô-nê-diêng bản địa, phát triển theo dọc các sông lớn và chiếm hầu hết những miền đất trung du Bắc Bộ, như Mê Linh, Tây Vu (Vĩnh Phúc), Liên Lâu (Bắc Ninh) trung du Thanh Hoá, Nghệ An và Đông Sơn (gần Hàm Rồng, Thanh Hoá).<br /><br />Nước Việt Nam ở Đông Nam Châu Á, đông và nam giáp biển, tây giáp Lào, Cam-pu-chia, bắc giáp Trung Quốc. Diện tích Việt nam hiện nay khoảng 329.6000km vuông. Dân số buổi đầu dựng nước chừng 50 vạn người. Đến thời Lý - Trần, chừng hơn 5 triệu và nay hơn 70 triệu dân.<br /><br />Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều dân tộc. Ngoài người Kinh còn có khoảng 60 dân tộc khác nhau cùng sinh sống. Cǎn cứ vào ngôn ngữ, chữ viết ta có thể phân bố các thành phần dân tộc như sau:<br /><br />1. Tiếng Môn - Khơme. Gồm nhiều nhóm người ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Quảng Trị v.v... <br />2. Tiếng Thái gồm người Thái Tây Bắc, Thượng du, Thanh Hoá, Nghệ An, khu Việt Bắc, Quảng Ninh. Ngoài ra còn có nhóm người Giấy, Cao Lan, Lự v.v... <br />3. Tiếng Anh-đô-nê-diêng: Gồm người Chàm, Gia rai, Ê-đê (Tây Nguyên). <br />4. Tiếng Mèo - Dao: Gồm người Mèo, Dao (Việt Bắc, Hoà Bình, Thanh Hoá). <br />5. Tiếng Tạng - Miến: gồm người Lô Lô (Hà Giang) Hà Nhì, La Khụ, Cống, Xi La (Tây Bắc). <br />6. Tiếng Hán: Người Hoa (Quảng Ninh), Sán Dìu (Bắc Giang, Bắc Cạn, Thái Nguyên v.v...) <br />• <br /><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>TRUYỀN THUYẾT KINH AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ HỒNG BÀNG THỊ</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><b>(2879-258 trước Công nguyên)</b><br /><br />Theo truyền thuyết thì thuỷ tổ dân tộc ta là Kinh Dương Vương, hiện còn có mộ tại làng An Lữ , Thuận Thành, Bắc Ninh.<br /><br />Nguyên Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Linh (Hồ Nam, Trung Quốc) đóng lại đó rồi lấy con gái bà Vũ Tiên, sau đó sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương làm vua vào quãng nǎm Nhâm Tuất (2879 trước công nguyên) và lấy con gái Thần Long là vua hồ Động Đình sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân, sau lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh một bọc trǎm trứng, tram trứng ấy nở thành tram con trai. Một ngày Long Quân nói với Âu Cơ rằng: &quot;Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thuỷ hoả khác nhau, không ở cùng nhau được&quot;. Hai người bèn chia con mà ở riêng. Nǎm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha về biển, chia nhau thống trị các xứ đó, đó là thuỷ tổ của các nhóm Bách Việt. Người con trưởng trong số các con theo mẹ lên Phong Sơn, được tôn làm vua gọi là Hùng Vương.<br /> <br />• <!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro-->NƯỚC VĂN LANG VÀ CÁC VUA HÙNG<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />Theo sử cũ thì nước Văn Lang chia làm 15 bộ:<br /><br />1. Văn Lang (Bạch Hạc, Phú Thọ) <br />2. Châu Diên (Sơn Tây) <br />3. Phúc Lộc (Sơn Tây) <br />4. Tân Hưng (Hưng Hoá - Tuyên Quang) <br />5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng) <br />6. Vũ Ninh (Bắc Ninh) <br />7. Lục Hải (Lạng Sơn <br />8. Ninh Hải (Quảng Ninh) <br />9. Dương Tuyến (Hải Dương) <br />10. Giao Chỉ (Hà Nội - Hưng Yên, Nam Đình, Ninh Bình) <br />11. Cửu Chân (Thanh Hoá) <br />12. Hoài Hoan (Nghệ An) <br />13. Cửu Đức (Hà Tĩnh) <br />14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị) <br />15. Bình Vǎn (?) <br /><br />Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ) đặt tướng văn lang là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quang Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính.<br /><br />Thông qua những truyền thuyết trong 15 bộ lạc trên, bộ lạc Vǎn Lang mạnh nhất. Bộ lạc này có vị thủ lĩnh tài ba, thu phục được các bộ lạc khác và trở thành thủ lĩnh liên minh các bộ lạc rồi chuyển thành người cầm đầu cả 15 bộ lạc. Vĩ thủ lĩnh lỗi lạc ấy gọi là vua Hùng, cha truyền con nối.<br /><br />Cả nước hồi ấy chia ra 15 bộ. Đứng đầu mỗi bộ là Lạc tướng, cũng cha truyền con nối. Dưới bộ là các công xã nông thôn, đứng đầu là Bồ Chính (già làng). Mỗi công xã có một ngôi nhà chung để làm nơi hội họp và sinh hoạt vǎn hoá, tín ngưỡng.<br /><br />Nhà nước Vǎn Lang của các vua Hùng đơn giản, mới hình thành nhưng đã cố kết được lòng người. Từ tình cảm cộng đồng dẫn đến ý thức cộng đồng. Họ bước đầu hiểu được mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người, thấy được sức mạnh của cộng đồng trong việc làm thuỷ lợi, trao đổi sản phẩm, và đấu tranh giữ gìn làng bản, đất nước.<br /><br />Trong thời Hùng Vương có hai truyền thuyết được lưu truyền rộng rãi trong dân gian thể hiện tinh thần này:<br /><br />• Phù Đổng Thiên Vương <br />• Sơn Tinh Thuỷ Tinh <br /><br /> <!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro--><b>NHÀ THỤC VÀ NƯỚC ÂU LẠC </b>(257 - 207 trước Công nguyên)<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />Theo truyền thuyết và sử cũ thì An Dương Vương tên là Thục Phán là chúa vua nước Thục. Nước Thục này không phải là nước Thục ở vùng Tứ Xuyên đời Chiến Quốc (Trung Quốc) mà là một bộ tộc đã tới vùng Bắc Bộ từ lâu, sống xen kẽ với người Lạc Việt và người Thái. Tục gọi là người Âu Việt. <br /><br />Chuyện xưa kể rằng: Vua Hùng Vương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên là Mỵ Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ sang cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc hầu can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mỵ Nương, Thục Vương cơn giận, di chúc cho con cháu đời sau thế nào cũng phải diệt nước văn Lang của Vua Hùng. Đến đời cháu là Thục Phán mấy lần đem quân sang đánh nước văn Lang. Nhưng vua Hùng có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục. Vua Hùng Vương nói: ta có sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo đến đánh nước Vǎn Lang, vua Hùng còn trong cơn say. Quân Thục đến gần, vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy sông tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Vǎn Lang mất.<br /><br />Nǎm Giáp Thìn (257 trước Công nguyên). Thục Phán dẹp yên mọi bề, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, (tên hai nước Âu Việt là Lạc Việt ghép lại) đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ).

thanhlong_company
27-05-2012, 08:31 AM
<b>Tôn giáo và Tín ngưỡng</b><br /><br /><div align='center'>Ngoài tín ngưỡng dân gian, Việt Nam còn có một số tôn giáo lớn như: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Ðài và đạo Hòa Hảo... </div> <br /><br /><b>Ðạo Phật </b> <br /><br />Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 2, đến đời Lý (thế kỷ thứ 11) Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh và được coi là hệ tư tưởng chính thống. Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội, để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hoá, kiến trúc. Nhiều chùa, tháp được xây dựng trong thời kỳ này.Cuối thế kỷ thứ 14, Phật giáo phần nào bị lu mờ, nhưng những tư tưởng của Phật giáo còn ảnh hưởng lâu dài trong đời sống xã hội và sinh hoạt của Việt Nam. Hiện nay, số người theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật khoảng trên 70% số dân cả nước. Công giáo <br /><br />Ðược du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 17, nơi tập trung nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam hiện nay là vùng Bùi Chu - Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình) và vùng Hố Nai - Biên Hoà (tỉnh Ðồng Nai). Số lượng tín đồ theo đạo Kitô chiếm khoảng trên 5 triệu người.Ðạo Tin LànhÐược du nhập vào Việt Nam vào năm 1911 nhưng ít được phổ biến. Hiện nay, các tín đồ theo đạo Tin Lành sống chủ yếu ở vùng Tây Nguyên. <br /><br />Tại Hà Nội cũng có nhà thờ đạo Tin Lành tại phố Hàng Da. Số tín đồ theo đạo Tin Lành khoảng trên 400 nghìn người.Ðạo HồiÐạo Hồi du nhập vào Việt Nam khá sớm, tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người Chăm ở miền Trung Trung bộ, có khoảng hơn 60 nghìn ngườiÐạo Cao ÐàiXuất hiện ở Việt Nam từ năm 1926. Toà thánh Tây Ninh là trung tâm hội tụ những người theo đạo Cao Ðài ở miền Nam. <br /><br />Số tín đồ theo đạo này khoảng hơn 2 triệu người. Ðạo Hoà HảoXuất hiện ở Việt Nam năm 1939. Số tín đồ theo đạo này khoảng trên 1 triệu người, chủ yếu ở miền Tây Nam bộ.Tín ngưỡng dân gian thờ MẫuTrong đời sống tâm linh của người Việt Nam đã từng tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Người Việt có tục thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Phật, thờ các thần linh, thờ các anh hùng có công với nước, với dân..., đặc biệt thờ Mẫu (Mẹ). <br /><br />Thờ Mẫu có nguồn gốc của tục thờ thần thời cổ đại, thờ các nữ thần núi, rừng, sông, nước. Sau này, Mẫu được thờ ở các đền, phủ, và Mẫu luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc, vào đến miền Nam, &quot;Ðạo&quot; này đã hoà nhập &quot;Mẫu&quot; với các nữ thần trong tín ngưỡng địa phương: Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh)Trong thực tế việc thờ cúng của &quot;Ðạo&quot; Mẫu có sự hội nhập các hình thức của nhiều tôn giáo khác. Ngày nay, tín ngưỡng dân gian được coi trọng nên nhiều đền, phủ đã và đang được phục hồi và hoạt động sôi nổi. <br /><br />(Theo tài liệu)

bich_pham
27-05-2012, 08:31 AM
Nếu các bạn muốn biết thêm nhiều thông tin thì có thể vào địa chỉ: vi.wikipedia.com<br />đây là địa chỉ bạn có thể thấy nhiều điều, cả về phật giáo hay Đạo Giáo .....<br />chúc các bạn lấy được nhiều điều bổ ích cho bản thân

vietgate
27-05-2012, 08:31 AM
<!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro--> <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/biggrin.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":D" border="0" alt="biggrin.gif" /> Giai Đọan 2 <!--colorc--></span><!--/colorc--> <br /><br /> <!--coloro:#FF6600--><span style="color:#FF6600"><!--/coloro-->NHÀ TRIỆU VÀ NƯỚC NAM VIỆT<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />(Năm 207-111 trước Công nguyên)<br /><br />Nhà Triệu được lập từ năm 207, đến nǎm 111 trước Công nguyên thì bị nhà Tây Hán thôn tính, trải qua 5 đời vua:<br /><br />- Triệu Vũ Vương (207-137 trước Công nguyên)<br />- Triệu VĂn Vương (137-125 trước Công nguyên)<br />- Triệu Minh Vương (125-113 trước Công nguyên)<br />- Triệu Ai Vương (113-112 trước Công nguyên)<br />- Triệu Dương Vương (112-111 trước Công nguyên)<br /><br />Năm 111 trước Công nguyên nhà Triệu mới mất nhưng từ năm 113 nội tình nhà Triệu đã rất rối ren. Lúc đó, vua nhà Hán cho An quốc Thiếu Quý sang dụ Nam Việt về chầu. Thiếu Quý nguyên là tình nhân của Cù Thị (Hoàng hậu của vua Minh Vương) nên họ tư thông với nhau và dụ dỗ Triệu Ai Vương dâng nước Nam Việt cho nhà Hán. Việc làm đó bị tể tướng Lữ Gia phát hiện. Lữ Gia đã truyền hịch đi mọi nơi nói rõ sự thật rồi cùng một số đại thần đem quân cấm binh vào giết chết sứ nhà Hán, Cù Thị và vua Ai Vương, tôn Kiến Đức, con trưởng của Minh Vương lên làm vua, hiệu là Triệu Dương Vương. Dương Vương làm vua được một nǎm thì bị vua Vũ Đế nhà Hán sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức và Dương Bộc đem 5 đạo binh sang đánh lấy Nam Việt. Tể tướng Lữ Gia chống không nổi bèn đem vua Dương Vương chạy trốn. Quân Hán đuổi theo bắt được, vua tôi đều bị hại. Nhà Hán thôn tính nước Nam Việt, đổi là Giao Chỉ bộ.<br /><br /><!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro-->NHÀ NƯỚC SAU CÔNG NGUYÊN BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT <!--colorc--></span><!--/colorc--> <br /><br />Giao Chỉ và nhà Tây Hán (Năm 111 trước Công nguyên năm 39 sau Công nguyên)<br />Đấu tranh giành độc lập - Hai Bà Trưng khởi nghiệp (40-43)<br />Nhà Đông Hán (25 - 220)<br />Lý Tiến và Lý Cầm phá lệ<br />Nhà Đông Ngô (222 - 280)<br />Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh (248)<br /><br />Giao Chỉ và nhà Tây Hán (Năm 111 trước Công nguyên năm 39 sau Công nguyên)<br />Sau khi xâm lược Nam việt, nhà Hán đổi thành Giao Chỉ bộ và chia ra làm 9 quận:<br /><br />Nam Hải (Quảng Đông)<br />Thượng Ngô (Quảng Tây)<br />Uất Lâm (Quảng Tây)<br />Hợp Phố (Quảng Đông)<br />Giao Chỉ (Bắc Bộ)<br />Cửu Chân (Thanh Hoá)<br />Nhật Nam (Nghệ Tĩnh)<br />Châu Nhai (Đảo Hải Nam)<br />Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam)<br /><br />Nhà Hán đặt mỗi quận một viên thái thú trông coi mọi việc trong quận và viên thứ sử giám sát các quận. ở Giao Chỉ các lạc tướng, lạc hầu vẫn được giữ nguyên và được cha truyền con nối như trước.<br />Đấu tranh giành độc lập - Hai Bà Trưng khởi nghiệp (40-43)<br /><br />Những nǎm đầu Công nguyên từ miền đất Mê Linh đã xuất hiện hai người con gái kiệt xuất Trưng Trắc, Trưng Nhị và ở Chu Diên là chàng trai Thi Sách dũng mãnh. Bởi thế, mùa xuân nǎm ấy, khi mùa sǎn ở Mê Linh bắt đầu, quan lạc tướng Chu Diễn đã cho con trai là Thi Sách dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân với họ Trưng. Y' quan lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu Diên liên kết được với nhau thì chẳng phải chỉ tốt lành cho chuyện nhân duyên của đôi trẻ Thi Sách - Trưng Trách mà sức mạnh của người Việt sẽ được nhân lên. Sức mạnh ấy có thể xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán, khôi phục lại nước cũ của người Việt. I't lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng Trắc đã cùng thi Sách kết nghĩa vợ chồng.<br /><br />Giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với con trai lạc tướng Chu Diên, Tô Định hoảng hốt tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh đột ngột kéo về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem như đòn trấn áp phủ đầu của hắn.<br /><br />Tin dữ từ Chu Diên đưa tới khiến Trưng Trắc đau đớn,. Rồi ngay sau đó, Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đo uý trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh luỹ giặc tiến xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân trẩy đi phá quận trị Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương nổi cuộc công phá của một biển người ào ào xung sát, dũng mãnh theo hiệu trống đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhị. Tô Định kinh hoàng cao chạy xa bay về Nam Hải chịu tội với vua hán. Tin thắng trận dồn dập bay đi.<br /><br />Đất nước sạch bóng quân thù. Hai Bà Trưng được cả nước tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh.<br />Nǎm Tân Sửu (41), vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem 20 vạn tinh binh kéo sang đánh Trưng Vương. Chỉ trong mấy trận đánh, hơn 4 vạn người Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn để sống mái với bọn lang sói theo ý chí của Trưng Vương. Trong một trận đánh, sau khi phóng những ngọn lao và bắn những mũi tên cuối cùng, Trưng Trắc, Trưng Nhị đã gieo mình xuống dòng sông Hát Giang. Đó là ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43)<br /><br /><b>Nhà Đông Hán (25 - 220) </b><br /><br />(Bắc thuộc lần thứ hai)<br />Mã Viện đánh được Trưng Vương đem đất Giao Chỉ sáp nhập vào nhà Đông Hán rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp luỹ đến đó.<br /><br />Cũng như nhà Tây Hán, nhà Đông Hán gộp miền đất Âu Lạc cũ thành Châu Giao gồm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, khoảng 50 huyện. Đứng đầu châu vẫn là thứ sử từ Trung Quốc cử sang. Chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt là những tên huyện lệnh người Hán. Luật cũ của người Việt bị bãi bỏ. Dân Việt buộc phải theo luật Hán. Chính quyền đô hộ đặc biệt đẩy mạnh việc di dân Hán đến ở lẫn với dân Việt, bắt dân Việt phải theo phong tục tập quán sống như người Hán. Chúng bắt dân ta học chữ Hán và tiếng Hán, truyền bá các tư tưởng &quot;thần phục thiên tử&quot;, &quot;quy phục thiên triều&quot;.<br /><br /><b>Lý Tiến và Lý Cầm phá lệ</b><br /><br />Nhìn chung, các triều đại phong kiến Trung Quốc tự xem mình là &quot;Thiên tử&quot; coi dân Việt là &quot;man dợ&quot; nên người Việt dẫu có học hành thông thái cũng không được trọng dụng. Ngoài trường hợp Trương Trọng nói trên, mãi đến đời vua Linh Đế (168-189) cuối nhà Đông Hán, mới lại có người Việt, nhờ học giỏi, được cất nhắc làm thái thú quận Giao Chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin cho người Giao Chỉ được bổ đi làm quân bất kỳ quận nào, kể cả ở Trung Nguyên. Nhưng vua Hán chỉ cho những người đỗ Mậu Tài hoặc Hiếu Liêm được làm quan trong xứ mà thôi. Lúc đó có người Giao Chỉ tên là Lý Cầm, làm lính túc vệ trong cung, khẩn thiết xin vua Hán bãi lệnh đó. Nói mãi, vua Hán mới cử một người Giao Chỉ đỗ Mậu Tài đi làm quân lệnh ở Hạ Dương và một người đỗ Hiếu Liêm làm quan lệnh ở Lục Hợp.<br /><br />Thực tế đất Âu Lạc từng có những người đỗ Mậu Tài, Hiếu Liêm, làm quan nhà Hán, bác bỏ luận điểm của các nhà sử học Trung Quốc cho rằng đất Giao Chỉ từ khi Sĩ Nhiếp (187-226) sang làm thái thú, vǎn hoá mới phát triển, nền giáo dục mới được mở mang là không đúng. <br /><br /><!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro-->Nhà Đông Ngô (222 - 280) <!--colorc--></span><!--/colorc--> <br /><br />Nhà Đông Hán mất, nước Trung Quốc phân làm 3 nước: Bắc Nguỵ, Tây Thục và Đông Ngô. Nhà Đông Ngô vẫn cho Sĩ Nhiếp làm thái thú.<br /><br />Nǎm Bính Ngọ (226), Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự xưng làm thái thú: Ngô chủ là Tôn Quyền chia Giao Châu từ Hợp Phố về Bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố về Nam gọi là Giao Châu. Sai Lữ Đại làm thứ sử Quảng Châu, Đài Lương làm thứ sử Giao Châu và Trần Thì sang thay Sĩ Huy làm thái thú quận Giao Chỉ. Bọn Đài Lương và Trần Thì sang đến Hợp Phố thì bị Sĩ Huy đem quân ra chống giữ. Thứ sử Quảng Châu là Lữ Đại một mặt đem binh sang đánh dẹp, mặt khác cho người dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng liền bị Lữ Đại bắt giết. Tôn Quyền lại hợp Quảng Châu và Giao Châu làm một và phong cho Lữ Đại làm thứ sử.<br /><!--coloro:#3366FF--><span style="color:#3366FF"><!--/coloro-->Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh (248)<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />Bà Triệu, Triệu Trinh Nương hay Triệu Thị Trinh đều là tên các đời sau gọi người nữ anh hùng dân tộc hồi đầu thế kỷ thứ II. Theo dã sử, Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 nǎm Bính Ngọ (225). Bà là em gái Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng lớn ở miền núi Quan Yên, quận Cửu Chân (Thanh Hoá). ở đó cho đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về thời kỳ bà chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Ngô. Đó là chuyện Bà Triệu thu phục được coi voi trắng một ngà, chuyện &quot;Đá biết nói&quot; rao truyền lời thần nhân mách bảo từ trên núi Quan Yên.<br /><br /><i>Có Bà Triệu tướng<br />Vâng lệnh trời ra<br />Trị voi một ngà<br />Dựng cờ mở nước<br />Lệnh truyền sau trước<br />Theo gót Bà Vương...<br /></i><br />Mỗi lần ra trận, Triệu Thị Trinh thường mặc áo giáp đồng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi dẫn quân xông trận, oai phong lẫm liệt. Quân Ngô kinh hồn, bật vía đã phải thốt lên:<br /><br /><i>Vung giáo chống hổ dễ<br />Giáp mặt vua Bà khó<br /></i><br />Hay tin khởi nghĩa ở Cửu Chân và thứ sử Châu Giao mất tích, vua Ngô hốt hoảng phái ngay Lục Dận, một tướng từng kinh qua trận khai mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm thứ sử. Lục Dận vừa đánh mạnh vừa đem của cải chức tước ra dụ dỗ mua chuộc các thủ lĩnh người Việt. Một số kẻ dao động mắc mưu theo địch. Mặc dầu vậy, Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường đánh nhau với giặc không nao núng. Sau 6 tháng chống chọi vì có kẻ phản bội, bà đã hy sinh trên núi Tùng (Hậu Lộc, Thanh Hoá). Bấy h bà mới 23 tuổi. Còn tiếp...........

vntsinh
27-05-2012, 08:31 AM
<!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HÀ NỘI</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />* Năm 208 TCN, An Dương Vương chọn Cổ Loa làm kinh đô.<br />* Từ thế kỷ 22TCN đến thế kỷ 4 Hà Nội thuộc quận Giao Chỉ.<br />* Năm 454 - 456 Thành lập huyện Tống Bình (bao gồm cả Hà Nội).<br />* Năm 544 Lý Nam Đế đóng đô ở Vạn Xuân, dựng thành ở ven sông Tô Lịch.<br />* Năm 866: Cao Biền xây thành Đại La.<br />* Năm 1010: Lý Thái Tổ rời kinh đô về Đại La lấy tên hiệu là Thăng Long.<br />* Năm 1397: Hồ Quí Ly đổi tên thành Đông Đô.<br />* Năm 1428: Lê Lợi đổi tên thành Đông Kinh.<br />* Năm 1831: Minh Mạng lập thành tỉnh Hà Nội.<br />* Năm 1888: Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Thành phố Hà Nội.<br /><br />* Ngày 6/1/1946 Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội khóa này đã xác định Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.<br /><br /> Sau khi thống nhất đất nước, Quốc hội khóa VI ngày 25/4/1976 đã quyết định Hà Nội là thủ đô của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.<br /><br /> Tên xưa của Hà Nội là Thăng Long (nghĩa là Rồng bay lên) với các tích lịch sử văn hóa của quá trình xây dựng và giữ nước. Đồng thời gắn liền với những truyền thuyết hào hùng của vùng đất ngàn năm văn hiến. <br />Đến với Hà Nội, du khách có thể hiểu sâu sắc về đất nước và con người Việt Nam. Khi thăm thành Cổ Loa, thăm đền Phù Đổng trên núi Sóc Sơn. Du khách sẽ được nghe truyền thuyết Thanh Gióng, sự tích Rùa vàng đã giúp An Dương Vương xây dựng thành Cổ Loa và câu chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thủy.<br /><br />Hà Nội nổi tiếng với Văn Miếu - Trường đại học đầu tiên của Việt Nam được xây dựng năm 1070 với nhiều di tích lịch sử, khác như Chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột, chùa Quán Sứ, đền Quán Thánh....<br /><br />Hà Nội có những di tích gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh vĩ đại và hàng lọat các Bảo tàng Quốc gia.<br /><br />Bên cạnh những khu phố cổ, Hà Nội còn có nhiều thắng cảnh đẹp như Hồ Tây, Hồ Hòan Kiếm đã và đang thu hút khách du lịch trong nước và nước ngoài.<br /><br />Hà Nội là một trung tâm du lịch lớn của cả nước.

tongyu_vn
27-05-2012, 08:31 AM
<!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>THỦ ĐÔ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />Theo <b>&quot;Đại Việt Sử ký tòan thư&quot;</b> lịch sử Việt Nam khởi phát từ họ Hồng Bàng (2879 - 258 TCN). Giai đọan này bao gồm các triều đại Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương. Các triều đại Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân tới nay chưa có đủ cứ liệu để xác định tên nước và kinh đô.<br /><br /><b>1. Hùng Vương (? - 258 TCN)</b> - Thủ đô là Phong Châu (Phú Thọ) là nhà nước độc lập đầu tiên của dân tộc VN là nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng. Đó là thời kỳ chuyển biến mạnh mẽ về nhiều mặt kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa dẫn đến sự sinh thành nhà nước phôi thai đầu tiên trong lịch sử Viện Nam.<br /><br /><b>2. Thời An Dương Vương (257 - 208 TCN), </b> thủ đô là Cổ Loa (Hà Nội). Tới năm 257 TCN, Thục phán thay thế Hùng Vương 18 trở thành An Dương Vương. Từ đây đã là chính sử. Ông đặt tên nước là Âu Lạc và đóng đô ở Cổ Loa nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội.<br /><br /><b>3. Thời Trưng Vương (40 - 43), </b> thủ đô là Mê Linh - Vĩnh Phúc. Năm 208TCN nước Âu Lạc rơi vào tay Triệu Đà, một tướng của Nhà Hán. Triệu Đà ghép khu vực mà ông đã căn cứ twf lâu đã tương ứng với một vùng này là tỉnh Quảng Đông (TQ), lập một nước riêng gọi là Nam Việt và kinh đô là Phiên Ngùng.<br /><br /><b>4. Thời Tiền Lý (544 - 602),</b> Thủ đô là Long Biên (?). Đến năm 542, Lý Bí khởi nghĩa chống lại bọn đô hộ nhà Lương và giành được độc lập. Ông đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (địa chỉ chưa rõ ràng) chỉ biết là nó ở vào vùng quanh thị xã Long Biên. Nhưng có thể nói chính Lý Bí là người đầu tiên nhận ra vj trí trung tâm đất nước Ngã ba sông Tô - sông Hồng tức là Hà Nội. Nên ông đã cho dựng một tòa thành bằng gỗ nơi này. Sau thành Cổ Loa thì thành phố bên sông Tô là tòa thành thứ 2 được sử cũ ghi nhắc đến một cách chính thức.<br /><br /><b>5. Thời Bố Cái Đại Vương, họ Khúc và họ Dương (TK3 - TK10)</b> - Thủ đô là Đại La (Hà Nội). Sau đó, thế kỷ 8 Phùng Hưng giành lại đất nước từ tay nhà Đường, ông xưng vương và đóng đô ở ngay tại Trị sở An Nam đô hộ phủ là thành Đại La (Hà Nội ngày nay). Từ năm 802, đất nước lại rơi vào tau nhà Đường, tới năm 905 Khúc Thừa Dụ nổi lên chống lại nhà Đường vào sau này (931) Dương Đình Nghệ nổi lên chống lại nhà Nam Hán. Cả cha con ông cháu họ Khúc và Dương Đình Nghệ khi dựng quyền tự chủ đều đóng đô ở Đại La.<br /><br /><b>6. Thời Ngô Vương (938 - 967)</b> - Thủ đô là Cổ Loa (Hà Nội). Năm 938 sau chiến thắng vang dội tiêu diệt quân Nam Han trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã chấm dứt ngàn năm Bắc Thuộc. Ông lên làm vua và đóng đô tại Cổ Loa, với ý nguyện kết tiếp truyền thống của cha ông.<br /><br /><b>8. Thời nhà Đinh và Tiền Lê (968 - 1009) </b> - Thủ đô là Hoa Lư (Ninh Bình). Sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp lọan 12 sứ quân, thống nhất đất nước ông đã lên ngôi vua. Hiệu là Đinh Tiên Hòang và đóng đô ngay trên quê hương ông. Thành Hoa Lư, kinh đô Hoa Lư kéo dài được 42 năm, trải qua 2 triều đại Đinh (968 - 980) và Tiền Lê (980 - 1009).<br /><br /><b>9. Thời nhà Lý (1009 - 1225) Nhà Trần (1226 - 1440) </b> - Thủ đô là Thăng Long Hà Nội.<br />Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, đổi tên nước thành Đại Việt. Năm 1010 ông rời đô về Thăng Long (tên mới cho thành Đại La). Có thể nói đến thời điểm này, Thăng Long - Hà Nội bắt đầu trở thành trung tâm kinh tế, chính trị trái tim của cả nước trong 10 thế kỷ.<br /><br /><b>10. Thời nhà Hồ (1400 - 1407) - Thủ đô là Tây Đô (Thanh hóa). </b> Hồ Quý Ly sau khi đọat ngôi nhà Trần đã xây dựng kinh đô mới ở Thanh Hóa đặt tên là Tây Đô.<br /><br /><b>11. Thời nhà Hậu Trần (1407 - 1414) và Hậu Lê (1428 - 1788)</b> Thủ đô là Thăng Long Hà Nội. Trong thời kỳ Hậu Lê có thời kỳ bị nhà Mạc Cướp ngôi, thủ đô là Đông Đô (Hà Nội). Sau khi nhà Hậu Trần, đất nước trải qua 13 năm dưới ách đô hộ của quân xâm lược nhà Minh, Lê Lợi lãnh đạo cuộc chiến giành độc lập từ tay Nhà Minh và lên ngôi vua năm 1428. Vẫn giữ quốc hiệu Đại Việt và đóng đô ở Thăng Long nhưng đổi thành Đông Đô (Hà Nội).<br /><br /><b>12. Thời Tây Sơn (1788 - 1802) và nhà Nguyễn (1802 - 1945)</b> - Thủ đô là Vạn Xuân (Huế). <br />Cuối năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi vua để có danh nghĩa huy động quân dân chống lại giặc Thanh xâm lược. Mặc dù năm 1789 giải phóng được Thăng Long nhưng ông vẫn đóng đô ở Phú Xuân (Huế) để còn lo đối phó với sự rình rập quấy rối của Nguyễn Ánh trong Gia Định (Nam Bộ).<br />Năm 1802, Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn lên ngôi vua lấy niên hiệu Gia Long, tiếp tục đóng đô ở Phú Xuân. Nhà Nguyễn cáo chung tháng 8/1945.<br /><br /><b>13. Từ CMT8 (1945) đến nay </b> - Thủ đô là Hà Nội. Sau khi CMT8 thành công, Quốc hội khóa I (6/1/1946) đã chọn Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong khỏang thời gian 1954 - 1975, đất nước Việt Nam chia làm hai miền, Sài Gòn là thủ phủ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, đất nước Việt Nam hòan tòan thống nhất. Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 6 (25/04/1976) đã đổi tên nước là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thủ đô là Hà Nội, thành phố Sài Gòn còn được đổi tên là Thành Phố Hồ Chí Minh.

giangnt
27-05-2012, 08:31 AM
Phạm Tuyền đang có trong tay bộ &quot; Đại Việt Sử Ký Tòan Thư&quot; về lịch sử các Triều Đại của Việt nam. Bạn nào quan tâm thì pm hoặc email cho Tuyền. Tuyền sẽ send cho .

vntsinh
27-05-2012, 08:31 AM
đây là mình tự tổng hợp lại về các triều đại Việt Nam, các bạn tham khảo nhé![attachment=4215:attachment]