PDA

View Full Version : NGUỒN GỐC CỦA TẾT NGUYÊN ĐÁN - NHỮNG VẤN ĐỀ CHƯA SÁNG TỎ!


minhkhago
27-05-2012, 08:34 AM
<!--coloro:#0000FF--><span style="color:#0000FF"><!--/coloro--><b>DƯỚI ĐÂY LÀ NHỮNG BIỆN LUẬN CỦA TÁC GIẢ VŨ KIM BIÊN ĐĂNG BÁO PHÚ THỌ SỐ 265(4080) &amp; BÁO VĂN HÓA THỂ THAO PHÚ THỌ XUÂN QUÝ MÙI (2003)</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><br /><br />TẾT NGUYÊN ĐÁN là tết lớn và dài ngày nhất, chứa đựng các yếu tố văn hóa, tâm linh và văn hóa đời sống phong phú của dân tộc ta.<br />Đã có nhiều người nêu ý kiến về nguồn gốc của cái tết này. Tôi không tranh luận với các tác giả đó, mà chỉ trình bày nhận thức của mình.<br />Về phong tục tết nhất của dân ta, trên thực tế có một số tiếp thu của các nước gần xa theo con đường tôn giáo tín ngưỡng, như: tết Hàn Thực mồng 3 tháng 3 vốn từ Trung Quốc, tết Vu Lan bồn rằm tháng 7 vốn từ Phật giáo. Còn Tết Nguyên Đán từ mồng 1 đến mồng 3 tháng giêng thì gốc gác bản địa của ta rất rõ ràng. Xin biện giải như sau:<br /><b><br />1. VỀ TỪ NGỮ</b><br /><br />Hai tiếng &quot; Nguyên Đán&quot; của Hán Tự có nghĩa là mở đầu. Nguyên là xếp thứ nhất, đứng đầu như: Hồng Đức Nguyên Niên có nghĩa là năm đầu niên hiệu Hồng Đức; Trạng Nguyên: người đỗ đầu kỳ tiến sĩ... Đán là rất sớm, lúc trời chưa sáng.<br /><br />Vậy tết Nguyên Đán chỉ có nghĩa là Tết vào ngày mở đầu năm mới, chứ hoàn toàn không phải Nguyên Đán là danh xưng một phong tục tập quán xuất phát từ đất nước Trung Hoa. Ví dụ: Tết Nguyên đán của người Khơ me là ngày 25- 26 tháng hai lịch trăng, vì ngày đó mở đầu năm mới của họ (gọi là tết Chan tơ nam thơ mây); Tết Nguyên đán của người Hồi giáo bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 năm 622 - Ngày giáo chủ Mô ha mét thoát hiểm, ra khỏi vòng vây của phái đa thần.<br />Tương tự như vậy, các dân tộc hoặc tôn giáo khác cũng đều có tết Nguyên đán của mình bởi những lý do riêng.<br /><br /><b>2. VỀ ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH</b><br /><br />Do cấu tạo địa hình, khí hậu thủy văn và khả năng nông cụ. Thời Hùng Vương, tổ tiên ta chỉ làm ruộng &quot; chiêm&quot; tức ruộng nước, tiếng cổ phát âm là ruộng &quot;nác&quot;. Người Hán hồi đầu công nguyên cho đó là tên ruộng nên phiên âm là &quot; Lạc điền&quot; ===&gt;( Từ Lạc điền mà họ gọi dân ta là Lạc dân, gọi quan là Lạc tướng, gọi Vua là Lạc Vương...).<br /><br />Làm lúa chiêm rất thuận lợi là suốt mùa lũ nó ngập nước sông, cỏ giả ngấu nát cùng phù sa tạo &quot; làm bỡn ăn thật&quot; là như vậy. Điều quan trọng nhất là phải nắm vững thời tiết và nhu cầu sinh lý của cây lúa chiêm. Kinh nghiệm chỉ rằng: Lúa trỗ tháng 2 là hạt lép, mất mùa. Có câu:<br /><br /><div align='center'><i><b>&quot;Đói thì ăn củ, ăn khoai<br />Đừng thấy lúa trỗ tháng 2 mà mừng&quot;.</b></i></div><br /><br />Lúa chiêm phải trỗ tháng 3 mới chắc hạt. Nhưng trỗ muộn quá cũng bị mất bởi những cơn lũ tháng 5. Bởi vậy phải tính toán sao cho lúa trỗ vào giữa tháng 3. Muốn thế thì tùy theo giống lúa ngắn ngày hay dài ngày mà cấy trong tháng một và tháng chạp, không được kéo dài sang tháng giêng. hai tháng một chạp làm lụng khẩn trương &quot; một nắng hai sương&quot; để hoàn thành vụ cấy chiêm. Sang tháng giêng người nông dân nghỉ ngơi, chơi bời xả hơi, thỏa thích. Tuy cuối tháng có đi làm cỏ, nhưng cũng chẳng nhọc nhằn gì, chủ yếu khỏa cho sục bùn tốt lúa. Bài ca:<br /><br /><b><div align='center'><i><br />&quot;Tháng giêng là tháng ăn chơi<br />Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè,<br />Tháng tư trồng đậu nấu chè<br />Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng năm,<br />Tháng sáu buôn nhãn bán trăm<br />Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân<br />Tháng tám chơi đèn kéo quân<br />Bước sang tháng chín chung thân buôn hồng.<br />Tháng mười buôn bấc bán bông<br />Tháng một, tháng chạp nên công hoàn toàn&quot;.</i></div></b><br /><br />Bài ca của dân đồng chiêm vùng đất tổ cho thấy từ tháng giêng đến tháng mười chỉ toàn ăn chơi và làm việc nhàn nhã. Sự dốc sức để tạo ra thành quả là tháng một, tháng chạp.<br />&quot; Tháng một tháng chạp nên công hoàn toàn&quot;.<br />Căn cứ vào nếp làm ăn sinh hoạt của cư dân đồng chiêm, ta thấy rõ 2 điều:<br />- Họ phải xác định được lịch cây lúa trỗ đòng đòng là thảng. Từ đó tính lùi lại lịch cấy là tháng một tháng chạp (tùy theo giống lúa ngắn ngày, dài ngày).<br />- Cấy xong là bước vào năm mới, chơi bời xả láng cả tháng giêng.<br />Đã hàng ngàn năm nay, nông dân ta không chỉ làm vụ lúa chiêm, mà còn cấy cả lúa mùa. Nhưng tục chơi tết kéo dài ngày trong tháng giêng vẫn duy trì theo truyền thống.<br /><b><br />3. VỀ LỊCH PHÁP</b><br /><br />Tổ tiên ta đã quan sát bầu trời và phát hiện ra chòm sao Thần Nông ở phía Tây Nam có ảnh hưởng đến vụ lúa chiêm, nên lập đàn cầu cúng bên bờ ruộng. Điều đó chứng tỏ, tổ tiên ta cũng biết quan sát độ số của các vì sao để tính chu kỳ một năm 12 tháng. Sự đặt lịch 12 tháng được hình tượng hóa bằng 12 tia mặt trời trên mặt trống đồng loại cổ xưa nhất, cách nay ngót 3.000 năm. Người thời Hùng Vương còn biết chiêm nghiệm thời tiết nóng lạnh, nắng mưa, gió bão và sự tiêu trưởng của thảo mộc, sự phát dục của động thực vật, mà chia mỗi năm ra thành 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Còn tính mỗi tháng có 30 ngày hay 29 ngày thì, đơn giản là họ theo dõi mặt trăng tròn khuyết. Lịch nông nghiệp của ta lấy tháng mở đầu mùa Xuân là tháng Giêng, tháng kết thúc của mùa Đông là tháng Chạp. Tên của 12 tháng là: Giêng, hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, một, chạp.<br /><br />Lịch của người Trung Hoa cũng giống như lịch ta, tức là năm theo chu kỳ tiết khí, tháng theo chu kỳ mặt trăng tròn khuyết. Họ đặt tên tháng theo can chi( Can: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý. Chi là: tý, sửu dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi). Hàng can của tháng phụ thuộc theo can năm; can năm luân chuyển vòng tròn chu kỳ 60 năm. Hàng Chi của tháng là cố định: Tháng 1 là tháng Dần, tháng 2 là Mão; tháng 3 là Thìn; tháng 4 là Tỵ, tháng 5 là Ngõ, tháng 6 là Mùi; tháng 7 là Thân; tháng 8 là Dậu; tháng 9 là Tuất; tháng 10 là Hợi; tháng 11 là Tý, tháng 12 là Sửu.<br /><br />Các triều đại phong kiến Trung Quốc đặt lịch lấy tháng đầu năm khác nhau. Nhà Thương lấy tháng Sửu(12); Nhà Chu lấy tháng Tý (11); Nhà Tần lấy tháng Hợi(10). Do đó tết Nguyên đán của họ Nhật kỳ thay đổi, Nhà Thương là mùng 1 tháng 12 lịch trăng, Nhà Chu lấy ngày mùng 1 tháng 11, nhà Tần là mùng 1 tháng 10. Còn tết Nguyên đán của dân tộc Việt Nam ta luôn luôn cố định là ngày mồng 1 đến mồng 3 tháng giêng, sau vụ cấy chiêm. Đến triều nhà Hán lấy tháng Dần( tức tháng giêng ta) làm thành đầu năm, từ đó Tết Nguyenw đán của người Trung Hoa mới trùng với tết Nguyên đán của người Việt Nam.<br /><br /><b>===&gt;&gt;&gt; TÓM LẠI: </b>Tết mở đầu mùa xuân mới của dân tộc ta có nguồn gốc từ nghề làm ruộng Lạc thời Hùng Vương ( trồng lúa chiêm). Truyền thuyết &quot; Bánh Chưng. Bánh Dầy phản ánh một sự thật lịch sử là : Mấy ngàn năm trước, Tổ tiên ta đã lựa chọn món ăn cho ngày Tết, lấy bánh Dầy bánh Chưng đặc sản từ cây lúa làm lễ phẩm dâng cúng và ăn tết. Mãi sau này các nhà nho gọi ngày đầu năm mới là ngày &quot;Nguyên Đán&quot;, mà tết mở đầu năm mới của dân ta cũng được gọi là TẾT NGUYÊN ĐÁN.<br /><br /><br /><u><b>VÀ ĐÂY LÀ MỘT CÁCH GIẢI THÍCH KHÁC VỀ NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN.</b></u><br />( Bình chọn: 4 -- Thảo luận: 2 -- Số lần đọc: 896)<br /><br /><br />Tết Nguyên Đán hay còn gọi là tết cổ truyền của dân tộc luôn mang một ý nghĩa rất sâu sắc. Nhưng đã bao giờ bạn tự hỏi: nguồn gốc của tết nguyên đán là như thế nào chưa?<br /><br />Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ tạo thiên lập địa như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau.. Đời nhà Đông Chu, Khổng Phu Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Cho đến khi nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa. Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy tháng giêng (8 ngày).<br /><br />Ngày nay, Việt Nam quy định viên chức và công nhân lao động được nghỉ Tết vào ngày 29 hoặc ngày 30 trước Tết và từ mùng Một đến mùng Ba (tổng cộng 4 ngày). <br /><br />Nguyên nghĩa của Tết chính là &quot;tiết&quot;. Văn hóa Việt – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã &quot;phân chia&quot; thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc &quot;giao thời&quot;) trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.<br /><br />Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của gia đình. Chiều 30 Tết, nhà nhà làm lễ cúng&quot; rước&quot; gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn. Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại 1 nhà. Thứ nhất là cuộc gặp gỡ giữa các gia thần : Tiên sư hay Nghệ sư - vị tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công - thần giữ đất nơi mình ở và Táo quân - thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà.<br /><br />Thứ hai là cuộc gặp gỡ tổ tiên, ông bà.. những người đã khuất. Nhân dân quan niệm hương hồn người đã khuất cũng về với con cháu vào dịp Tết.<br /><br />Thứ ba là cuộc gặp gỡ của nhưng người trong nhà. Như một thói quen linh thiên và bềnh vững nhất, mỗi năm Tết đến, dù đang ở đâu làm gì.. hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đinh.<br /><br />(Sưu tầm và Tổng hợp trên báo saga.vn)