View Full Version : Bàn về tên họ của người việt
mxuan
27-05-2012, 08:36 AM
Mình cũng có vài câu hỏi đắn đo từ lâu về tên họ của người việt, có đọc một vài tài liệu nhưng chưa thỏa mãn, lập topic này mong ace trong diễn đàn cùng thảo luận. Câu hỏi là: <br /><br />Tên họ của người việt mình trước thời bắc thuộc như thế nào? <br /><br />những dòn họ nào là dòng họ đặc trưng của người việt nam?<br /><br />Bác nào có thông tin gì thì chia sẻ, không những tên họ của người kinh mà em cũng rất hứng thú với tên họ của những dân tộc anh em còn lại.<br /><br /><br /><br />Trong số tài liệu em cũng có 1 bài viết của 1 tác giả nào đó nói về việc ban họ, đổi tên- dùng tên hiệu tên giả mà suýt quyên đi tên thật mà cha mẹ đặt ra- quyên đi cái họ của mình, nay xin đưa lên cho ace tham khảo( xin lỗi tác giả bài viết khi post chưa xin phép)<br /><br /><br /><br />Người Việt ngày nay ai cũng có giấy khai sinh. Muốn biết gốc gác, họ tên, ngày sinh tháng đẻ của ai thì chỉ cần lật giấy khai sinh ra mà đọc là xong. <br />Vấn đề tìm hiểu lí lịch rất ư là đơn giản. Đơn giản đến mức chả còn gì để nói. <br /><br />Nhưng xưa kia thì khác. <br /><br />Ngày xưa nước ta không có sổ hộ tịch. <br /><br />Tên tuổi phần nhiều được nhớ truyền miệng. Nhà nào có người biết chữ thì ghi chép lập thành gia phả. Thông thường thì gia phả được người trưởng tộc cất giữ. Các chi họ khác muốn có gia phả thì phải sao chép lại. Dòng họ càng đông thì sao chép càng nhiều, khó tránh tình trạng đọc nhầm viết sai. Truyền được vài đời thì đã có khả năng "tam sao thất bản". <br /><br />Ghi chép đúng tên họ, nôm na là tên cúng cơm của người xưa không phải là chuyện dễ ai làm cũng được. Đã vậy, các ông thay trời trị dân của nước ta lâu lâu lại nổi hứng bắt chước mấy vị con trời, xía vào chuyện họ tên của người khác. Một số các công thần, bầy tôi được ban họ vua, được tặng họ Tàu, được giữ tên thật, phải đổi tên mới... <br /><br />Chồng chéo, rối như mớ bòng bong! <br /><br />Thế mới nát chuyện và có chuyện để nói! <br /><br />Trong khi bất cứ dân tộc nào, ở đâu cũng đồng ý công nhận rằng tên của mỗi người được đặt ra cốt để dùng trong lúc xưng hô, giao thiệp thì tục ta - nói vậy cho oai chứ chưa chắc gì ta đã là tác giả - lại quan niệm rằng động đến tên ông bà cha mẹ là điều không nên. <br /><br />Con cháu lỡ miệng động đến tên cúng cơm của các cụ là phạm tội bất kính. Vì thế mà không thiếu gì những đứa bé không hề biết tên tuổi ông bà, cha mẹ. <br /><br />Thậm chí người lớn trước khi tới chơi nhà ai phải hỏi dò tên cha ông của chủ nhà để... tránh trong lúc chuyện trò. <br /><br />"Nhập gia vấn húy" là vậy. <br /><br />Cái tục tránh gọi tên này được vua chúa áp dụng triệt để. Ông nào mới lên ngôi cũng vội ban một lô chữ huý (tên vua, hoàng hậu, cha mẹ, ông bà hai họ...) để cho cả nước né tránh. <br /><br />Mối lo hàng đầu của sĩ tử đi thi là phải thuộc lòng danh sách những chữ húy để tránh dùng. Phạm húy thì trời cũng không cứu được tội. Bị sổ toẹt là cái chắc. Không may gặp năm quan trường nghiêm khắc thì khó thoát gông cùm tù tội. <br /><br />Có khi chỉ vì một chữ húy mà suốt đời không ngóc đầu lên được. <br /><br />"Trong cái rủi có cái may", nhờ có kị huý mà ngôn ngữ miễn cưỡng... giàu hơn lên. Bên cạnh Hoàng có thêm Huỳnh, Mệnh thêm Mạng, Phúc thêm Phước v.v... <br /><br />Ngày nay nước ta không còn tục kị huý như thời phong kiến. <br /><br />Học trò thi trượt là vì lí do nào khác chứ không phải vì đụng đến tên ông A, cụ B. <br /><br />Chỉ có bọn phản động, bất mãn, tiêu cực, xấu mồm xấu miệng, mới lén lút rỉ tai nhau rằng tục kị huý vẫn còn. Kín đáo, khôn khéo, nên khó thấy hơn xưa. <br /><br />Kị huý bị xóa bỏ thì lập tức "hoa tự do" nở rộ như nấm gặp mưa. <br /><br />Một số gia đình không ngần ngại làm ngược lại người xưa, lấy tên huý đặt cho con cái. Đi xa hơn nữa, có nhà đặt cho tất cả con gái cùng một tên, con trai cùng một tên. Bên cạnh cái tên chính giống nhau này, mỗi cô mỗi cậu có thêm một chữ đệm khác nhau để phân biệt. Bắt buộc phải gọi nhau bằng tên kép. Nhiều cậu mang tên yểu điệu, mĩ miều, nghe thật là quyến rũ, dễ thương! Mong rằng sau này không có chuyện nhầm lẫn người trong cùng một gia đình. <br /><br />Họ của người Việt Nam tương đối ít, rất ít so với các dân tộc Âu Mỹ. Tra tìm trong các sổ đinh và danh sách các người thi đỗ từ đời Nguyễn, Nhất Thanh (Đất lề quê thói, Đại Nam, Hoa Kỳ) làm được một bảng thống kê các họ của người Việt Nam. Sang đầu thế kỷ 19 trở đi, số (họ) ấy dần dà tăng mãi lên ngày nay đến trên 130. <br /><br />Dân số Việt Nam hiện nay được hơn 80 triệu người. Tạm cho là số họ có khoảng 500. Tính trung bình mỗi họ có hơn một trăm ngàn người. Một vài họ lớn như Nguyễn, Trần, Lê có thể có cả triệu người. <br /><br />Người Pháp, người Mỹ rất ngạc nhiên thấy đi đâu cũng gặp họ hàng nhà Nguyễn, Trần, Lê... Sao mà đông thế! Lấy lẫn nhau nhiều thế! <br /><br />Số họ ít có lẽ vì người xưa hay lấy những tên có sẵn của các triều đại. Nhưng tên của người Việt Nam, tuy được tự do chọn, cũng không nhiều lắm. Phải chăng vì khả năng tạo từ của tiếng Việt, một thứ tiếng độc âm, rất bị giới hạn. Chữ dài nhất (chữ nghiêng) cũng chỉ có 7 con chữ. Trong số những chữ được tạo thành lại còn phải loại trừ những chữ có nghĩa xấu, tầm thường, thành thử số tên được chọn chả còn là bao. <br /><br />Nhiều nhất vẫn là những tên hay, đẹp như Hùng, Cường, Tuấn, Thịnh... Tuyết, Ngọc, Đào, Hoa... Phú, Quý, Khang, An... Xuân, Thu, Vân, Thủy... <br /><br />Họ ít, tên cũng không nhiều, cho nên có nhiều người trùng cả họ lẫn tên. <br /><br />Nhớ lại năm nào tại giảng đường đại học bên Pháp, ông thầy gọi trống không Nguyễn! Lố nhố năm sáu sinh viên Việt Nam đứng lên. Ông thầy ngạc nhiên nhưng nhanh trí gọi Nguyễn Văn, chỉ còn lại hai người. Ông lắc đầu dõng dạc gọi Nguyễn Văn Đức, hai anh sinh viên nhìn nhau, đứng im! <br /><br />Tuy nhiên ở nước ta ít khi xẩy ra chuyện những người đỗ đạt cao, có chức tước lớn, lại trùng cả họ lẫn tên. Nếu có thì cũng dễ phân biệt. <br /><br />Trước đây, vào những năm 1960, miền Nam có tướng Nguyễn Khánh làm thủ tướng. Ít năm sau, nước Việt Nam thống nhất có phó thủ tướng Nguyễn Khánh. Chức tước khác nhau, thời đại khác nhau, chúng ta có thể phân biệt dễ dàng hai ông. <br /><br />Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (tập 2, Miền Nam, Hoa Kỳ, tr. 62) chép: năm ất vị (1775) đời Cảnh Hưng,Trịnh Sâm sai Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Sĩ, Nguyễn Du soạn quốc sử... <br /><br />Sử quan Phạm Nguyễn Du sống cùng thời với Nguyễn Du tác giả truyện Kiều. Trần Trọng Kim chép thiếu họ Phạm của sử quan, có thể gây ra ngộ nhận.<br /><br /><br />Mập mờ và li kì nhất có lẽ là tên Lê Lai. <br />Mấy bộ sử của ta chép rằng trong thời kì Khởi nghĩa Lam Sơn có một ông Lê Lai cứu chúa năm 1419 và một ông Lê Lai bị chúa giết năm 1427. <br /><br />Điều oái oăm là sử không nói rõ hai ông là một hay là hai người khác nhau. <br /><br />Ai muốn tìm hiểu vấn đề thì chỉ còn nước tra tìm trong dã sử, gia phả. Nhưng dã sử của ta lại có nhiều màu sắc thần bí, hoang đường. Gia phả thì lúc nào cũng ca tụng tổ tiên, chứ không bao giờ lại đi bới sự thực không hay của tổ tiên ra mà kể! <br /><br />Vì vậy mà chúng ta chưa được thấy gia phả nào nói tới ông tư mã Lê Lai bị Lê Lợi giết. Âu cũng là điều dễ hiểu. <br /><br />Ngược lại, ông Lê Lai có công đổi áo (dịch bào thế quốc sự, chữ dùng trong Lam Sơn thực lục của Lê Lợi), được phong tặng chức tước, thì được nhiều người nói tới. <br /><br />Nhiều quá hóa...lung tung. <br /><br />Có một bản Lam Sơn thực lục chép: Giặc liền vây và bắt trói (Lê Lai) đem vào trong thành (Tây Đô) xử bằng cực hình khác hẳn các hình phạt thường dùng (Nguyễn Trãi toàn tập, KHXH, 1976, tr. 51). Nếu cho rằng bị xử bằng cực hình là bị giết chết thì Lê Lai bị giết trong thành Tây Đô. <br /><br />Một bản Lam Sơn thực lục tục biên khác (Phan Huy Lê - Phan Đại Doãn, Khởi nghĩa Lam Sơn, KHXH, 1977, tr. 154-158) lại chép Lê Lai bị giết tại thành ở xã Dựng Tú. <br /><br />Đáng chú ý hơn là đoạn chú nằm trong bản Lam Sơn thực lục do chính Lê Lợi viết (Nguyễn Diên Niên, Lam Sơn thực lục, Ty Văn Hóa Thanh Hóa, 1976, tr. 241): <br /><br />(...) Vua (Lê Lợi) khấn xong, Lê Lai cưỡi ngựa phi ra, thay Vua cứu nước, tự xưng là vua Lê. Giặc Minh tưởng là thật, trói bắt về tâu lên vua nhà Minh. Do đó tình thế hòa hoãn, Vua được tạm yên. <br /><br />Theo văn bản này thì Lê Lai không bị giết tại thành Tây Đô. Thậm chí không có chữ nào nói rằng Lê Lai bị quân Minh giết. <br /><br />Lê Quý Đôn (Đại Việt thông sử, KHXH, 1978) chép rằng Lê Lai bị quân Minh giết tại thành Đông Quan (tr. 35). Nhưng ở phần Chư thần truyện của cùng cuốn sách thì Lê Quý Đôn lại chép Lê Lai đánh nhau với quân Minh tại thành Tây Đô, khi đã kiệt sức ông bị địch bắt, xử cực hình. Sau đó giặc lui quân về thành Tây Đô...(tr. 157). <br /><br />Người đọc hiểu rằng ông Lê Lai bị giết tại trận. Giết Lê Lai rồi, giặc Minh mới rút quân vào trong thành Tây Đô. <br /><br />Hai đoạn văn của Lê Quý Đôn mâu thuẫn nhau. <br /><br />Sử nhà Nguyễn (Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, tập 1, Giáo Dục, 1998) chép giống Đại Việt thông sử ( chư thần truyện), cho Lê Lai chết tại trận. <br /><br />Chỉ có Ngô Sĩ Liên (Đại Việt sử ký toàn thư, KHXH, 1968), người được giao trách nhiệm soạn chính sử đến cuối đời Lê Lợi, mới không chép chuyện "Lê Lai liều mình cứu chúa". Ngô Sĩ Liên chép thiếu hay không chép vì lí do nào khác? <br /><br />Tóm lại, chuyện Lê Lai được sử ghi chép... tùy tiện, kể cả mâu thuẫn nhau. Lê Lai không bị quân Minh giết, hay bị quân Minh giết tại trận, tại Dựng Tú, tại Tây Đô, tại Đông quan? Ai viết đúng, ai viết sai, ai thêm bớt bịa đặt? <br /><br />Đời sau "khoe" có nhiều ông "Lê Lai liều mình cứu chúa". <br /><br />Điều đáng chú ý là có một tấm bia khắc chuyện một ông Lê Lai đã lấy thân thay Thái Tổ trong cơn nguy hiểm, gần chết mà sống lại( Phan Huy Lê-Phan Đại Doãn, sđd). <br /><br />Trong dư luận dân gian, có một ông Lê Lai cứu Lê Lợi và không bị chết! Tấm bia chép đại ý giống Lam Sơn thực lục của Lê Lợi. <br /><br />Hay là ông Lê Lai cứu Lê Lợi không bị quân Minh giết và mấy năm sau ông bị chính Lê Lợi giết? <br /><br />Những người phản đối ý kiến này cho rằng hai ông Lê Lai là hai người trùng tên trùng họ. Bằng cớ là gia phả các dòng họ cho biết ít ra cũng có tới... bốn ông Lê Lai cứu Lê Lợi! (Phan Huy Lê - Phan Đại Doãn, sđd). Một ông họ thật tên thật và ba ông họ tên được tặng, được đổi. <br /><br />Bằng chứng hơi nhiều quá! <br /><br />Nói rằng có bốn ông thường dân Lê Lai sống rải rác ở vài tỉnh khác nhau, trong khoảng vài chục năm, thì cũng chả có gì đáng ngạc nhiên. Họ Lê là họ lớn, tên Lai cũng bình thường. <br /><br />Nhưng vào thời buổi nhân tài lác đác như lá mùa thu, tuấn kiệt lưa thưa như sao buổi sớm (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo) mà có tới bốn ông quan đại thần Lê Lai, cùng tụ về Lam Sơn theo phò Lê Lợi trong khoảng mười năm thì... chẳng khác gì nói rằng có bốn ông đại tướng Võ Nguyên Giáp theo Hồ Chí Minh chống Pháp, hoặc có bốn ông tướng Văn Tiến Dũng thời chống Mỹ v.v...<br /><br />Vàng thau lẫn lộn... <br /><br />Tin hay không tin là quyền của mỗi người! <br /><br />Chuyện họ tên ở nước ta bắt đầu lộn xộn từ bao giờ? Nói khác đi, tục ban họ vua ở nước ta có từ bao giờ? <br /><br />Năm 1128, vua Lý Thần Tông (12 tuổi) cho thái úy Lê Bá Ngọc làm thái sư, đổi họ làm Trương. Ngô Thời Sĩ ( Đại Việt sử ký tiền biên, KHXH, 1997) phê bình việc làm này: <br /><br />Họ của trời cho, không thể người ta lại đổi được. Yêu một vị bầy tôi mà cho cải sang quốc tính, người ta còn chê là cưỡng ép, nay Bá Ngọc là đại thần cho cải họ Lê sang họ Trương là nghĩa gì? đó cũng là việc làm càn của người còn tính trẻ con đấy. <br /><br />Năm 1232, Trần Thái Tông ban những chữ quốc húy và miếu húy. Vì cha tên là Lý nên bắt tất cả những người họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn. Nguyên nhân sâu xa là để tuyệt lòng mong nhớ của dân đối với nhà Lý. <br /><br />Không hiểu lòng dân mong nhớ ra sao mà đến nỗi để xảy ra một thảm họa. <br /><br />Khi ấy Trần Thủ Độ chuyên chính, giết Huệ Tông, khiến tôn thất nhà Lý bùi ngùi thất vọng. Mùa đông năm 1232, nhân dịp người họ Lý làm lễ cúng các vua Lý đời trước ở thôn Thái Dương xã Hoa Lâm, Thủ Độ sai người ngầm đào hố sâu, làm nhà lên trên, đợi khi người ta uống rượu say, giật máy chôn sống hết. <br /><br />Bị tàn sát chỉ vì mang họ Lý! <br /><br />Tội ác vượt quá sức tưởng tượng khiến Ngô Sĩ Liên phải hoài nghi: <br /><br />Xét thời Trần Anh Tông còn có người họ Lý làm tướng, vả lại sử của Phan Phu Tiên không thấy chép, việc này chưa chắc đã có thực, hãy tạm ghi lại. <br /><br />Ngô Thời Sĩ cũng bàn về biến cố này. Ông nhận định rằng: <br /><br />Thủ Độ là người bày mưu cho nhà Trần, không việc gì là không làm. Huệ Tông còn bị giết thì còn nghĩ gì đến những người họ Lý nữa. Sĩ Liên cho là Phu Tiên không chép, chưa chắc đã có việc ấy. Lại lấy việc thời Anh Tông còn có tướng người họ Lý làm chứng. Kể ra Phu Tiên không chép có lẽ là nhà viết sử chỉ chép đại khái đấy thôi. Những người tôn thất nhà Lý không may vùi dưới hố sâu, nòi giống còn sót lại có lẽ chưa hết đấy, còn ngờ gì nữa. Sử cũ chia dòng chú thích biện luận, là muốn giảm bớt tội ác của Thủ Độ chăng? <br /><br />Đời Trần Nhân Tông (1282), có con cá sấu đến sông Lô, vua sai hình bộ thượng thư là Nguyễn Thuyên làm bài văn tế ném xuống sông. Cá sấu tự nhiên bỏ đi. Vua cho việc này giống việc của Hàn Dũ, bèn cho Nguyễn Thuyên đổi họ thành Hàn Thuyên. <br /><br />Hồ Quý Ly vốn họ Hồ, được Lê Huấn nhận làm con nuôi và cho đổi sang họ Lê. Đến khi cướp được ngôi nhà Trần, lại bỏ họ Lê lấy lại họ Hồ. <br /><br />Sử chép rằng năm 1400, Trần Vấn và Trần Tùng được Hồ Quý Ly ban họ Hồ. Rất có thể Hồ Quý Ly là người đầu tiên nhập cảng trò ban họ vua vào nước ta. <br /><br />Sau khi toàn thắng quân Minh, năm 1428 Lê Lợi lên làm vua, ban thưởng, ban họ vua cho 221 công thần. Vua Tự Đức phê rằng: <br /><br />Bầy tôi có công được ban quốc tính là Hán Cao tổ ban cho Lâu Kính trước tiên. Việc làm ấy tuy cốt để tỏ ý thân mật trung hậu đối với công thần, nhưng đã mang tiếng là làm rối cả họ hàng nhà vua, không đủ để làm gương mẫu cho đời sau; huống chi nhà Lê lại cho quốc tính nhiều quá thế này thì nhàm lắm! (Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, sđd, tr. 833). <br /><br />Năm 1460, Lê Thánh Tông bắt người họ Trần phải kiêng huý, đổi thành họ Trình. <br /><br />Ít người trong chúng ta biết ông Dương Bang Bản là ai. Ông chính là sử thần Lê Tung, được vua Lê Thánh Tông cho đổi cả họ lẫn tên. <br /><br />Vua Minh Mạng nhà Nguyễn có 142 người con. Để tránh rắc rối cho đời sau, ông có sáng kiến làm một bài thơ 20 chữ (Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh... Thế Thuỵ Quốc Gia Xương), mỗi chữ sẽ được dùng làm tên đệm cho một thế hệ con trai. Chỉ những người có tên đệm kiểu này mới thuộc dòng chính thống, mới có thể được lên làm vua. <br /><br />Sẵn hứng, ông làm thêm 10 bài thơ khác cho 10 anh em của ông. <br /><br />Được vài đời, có người cách tân, dùng luôn chữ đệm thay cho họ. Từ đây, xảy ra trường hợp cha và con mang họ khác nhau. <br /><br />Thí dụ ông Ưng A, đặt tên con là Bửu B. Con Bửu B sẽ có tên là Vĩnh C v.v... Người Việt có người hiểu, người không hiểu. Nhân viên cơ quan hành chính Âu Mỹ thì nhất loạt giơ tay lên trời than không đủ thì giờ để nghe giải thích, lắc đầu không chịu tìm hiểu đến nơi đến chốn. <br /><br />Vua Duy Tân (tên là Nguyễn Phước Vĩnh San) bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion. Ông lấy vợ người Pháp. Con trai ông là Georges Vĩnh San. Vĩnh San được dùng làm họ. <br /><br />Trường hợp này cũng gặp trong nhiều gia đình Việt Nam có quốc tịch Pháp. Lúc khai lí lịch người ta dùng tất cả tên họ Việt Nam làm họ mới, đặt bên cạnh tên cúng cơm Tây (Georges Nguyễn Văn X?). Con trai của ông Georges là Vincent Nguyễn Văn X, con gái là Marguerite Nguyễn Văn X. Cháu nội sẽ là Léon, Léa Nguyễn Văn X v.v... <br /><br />Lịch sử Việt Nam mới ì ạch được tới chữ Vĩnh của bài thơ của Minh Mạng thì bị đứt đoạn (vua Bảo Đại tên là Nguyễn Phước Vĩnh Thuỵ). <br /><br />Được vua ban họ, đổi tên là một vinh dự. Ngược lại các bầy tôi cũng cố gắng tìm dịp dâng tôn hiệu, làm vui lòng nhà vua. Có đi có lại, vua tôi mới toại lòng nhau! <br /><br /> <br />( bài st)
jgcvnr
27-05-2012, 08:36 AM
hay dà, đọc bài này xong rồi, thắc mắc không bik lá cái họ Trương nhá mình, nó có gốc thế nào, vì má nói nó nghe giống họ bên trời tàu bay qua!!! mà gia phả thì không có, nên chẳng bik được!!!<br />mình thấy có thời gian báo chí đăng loạt bài làng nào đó ở ngoải bắc không có họ, hay là theo họ mẹ gì gì nên khó khăn cho các bé gà làm hồ sơ thi đại học, thêm chuyện lấy họ Bác Hồ của đồng bào dân tộc cho bài viết thêm ... nhìu tư lịu héng?!
dungnguyen
27-05-2012, 08:36 AM
chào bạn họ Trương.<br />thấy bạn có vẻ quan tâm tới những vấn đề này, mình có ít thông tin sưu tầm tư lâu, nay post cho bạn tham khảo.<br />nguồn này mình chắp nhặt nhiều nơi, thông cảm nếu mình không đưa được ra nguồn cung cấp ở một số trích dẫn, cũng chỉ là vài thông tin cho bạn tham khảo có gì thì cứ góp ý nhé.<br /> trương là tên của 1 dòng họ ở việt nam và trung quốc.<br />ý nghĩa của từ trương và trong câu từ thường gặp. <br /><br />trong Sổ sách: Trương mục<br /> Nợ tiền: Hoàn trương<br /> Mở, trải rộng, làm cho lớn lên: Khoa trương, trương cung.<br /> Mở cơ sở làm ăn: Khai trương<br />theo một số tài liệu nói thì ý nghĩa của họ trương theo nghĩa là mở rộng ý thư 2 y'.<br /><br />theo như thông tin trích từ một bài viết từ truongquang.org<br /><br />Dòng dõi họ Trương có nguồn gốc ở làng Phước Long, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tỉnh . Đến năm 1623, thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, ông Thủy tổ Trương Đăng Nhất di cư vào Nam sinh sống ở vùng Mỹ Khê ngày nay (thuộc Phủ Tư Nghĩa, dinh Quảng Nam, xứ Đàng Trong thời bây giờ), Về sau con cháu của ngài cùng tham gia vào công cuộc mở mang bờ cỏi về phương nam dưới thời các chúa Nguyễn (1558-1777). Đến thời các vua Nguyễn (1802-1945), nhiều con cháu họ Trương như Tuy Thạnh Quận công Trương Đăng Quế, là người có công đầu trong công cuộc Nam tiến , mở mang đất Nam Kỳ lục tỉnh , thời vua Minh Mạng. Ông là Tể tướng của nhà Nguyễn, được phong tặng "Tam triều Thạc phu, lưỡng triều cố mạng lương thần" . Để ghi nhớ công đức của ông, hiện nay tên ông được dùng đặt tên một con đường ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.<br />Trải qua 380 năm, suốt 15 thế hệ, đã sinh ra trên 5.700 người. Ngày nay trên hầu hết các tỉnh và thành phố trong nước đều có con cháu họ Trương sinh sống. Sau năm 1975, con cháu họ Trương đã di cư đến Mỹ, Canada, Đức, Austalia và nhiều nước khác trên thế giới.<br /> Gia phả Tộc Trương có từ lâu đời, được trùng tu nhiều lần, đây là một tài sản văn hóa của Tộc . Trùng tu Gia phả là một công tác lớn và thường xuyên của Tộc. <br /><br /><br />Di chỉ của dòng họ.<br /><br />Di chỉ tìm thấy ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Hiện vật là tập sách võ của dòng tộc họ Trương. Đây là dòng tộc lưu trữ nhiều tài liệu võ quý giá. Bình Định, là một trong những cái nôi của nền võ học chân truyền Việt Nam. Ngoài các làng võ, những dòng họ võ, cũng là biểu hiện sống động của truyền thống đó.<br /><br />Dòng họ Trương, có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ. Như ông Trương Đức Giai, Trương Đức Lân, Trương Trạch... đều đỗ cử nhân võ.<br /><br />Điều đáng quý nhất, là trong tập sách võ do dòng họ Trương lưu giữ, có lời giới thiệu bài quyền Ngọc Trản, một bài quyền hội đủ các yếu tố có tính cơ bản và là một trong những bài mang tính chính thống, tiêu biểu của võ Bình Định. Bài quyền, hiện vẫn được lưu truyền và phổ biến rộng rãi trong dân gian, với luyện tập công phu, tấn công toàn diện, kết hợp cương nhu, lại có những thế né tránh, phản đòn lợi hại; khi di chuyển thì linh hoạt, nhẹ nhàng, nhưng khi ra đòn thì mạnh. Với việc phát hiện ra bài thiệu, các nhà nghiên cứu mới nhận thức được tính liên hoàn âm - dương xuyên suốt cả bài quyền và chỉnh lý được những sai lầm, do việc lưu truyền tam sao thất bổn trước đây. Bài thiệu quyền Ngọc trản, đích thực là một viên ngọc quý trong tập sách võ của họ Trương.<br /><br />còn một số thông tin về gia phả họ trương trong tài liệu đó ghi 'Toàn bộ thông tin trong gia phả này là thuộc bản quyền của tộc TRƯƠNG CÔNG TỘC.<br /> Mọi sự trích dẫn phải được phép của nguời đại diện tộc TRƯƠNG CÔNG TỘC' mặc dù có ít nhưng ban chịu khó tìm ra ngay y mà hehe. mình không đưa lên nữa.
<!--quoteo(post=33468:date=04/04/2009 - 10:15 PM:name=macvu)--><div class='quotetop'>QUOTE(macvu @ 04/04/2009 - 10:15 PM) <a href="index.php?act=findpost&pid=33468"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->chào bạn họ Trương.<br />thấy bạn có vẻ quan tâm tới những vấn đề này, mình có ít thông tin sưu tầm tư lâu, nay post cho bạn tham khảo.<br />nguồn này mình chắp nhặt nhiều nơi, thông cảm nếu mình không đưa được ra nguồn cung cấp ở một số trích dẫn, cũng chỉ là vài thông tin cho bạn tham khảo có gì thì cứ góp ý nhé.<br />trương là tên của 1 dòng họ ở việt nam và trung quốc.<br />ý nghĩa của từ trương và trong câu từ thường gặp. <br /><br />trong Sổ sách: Trương mục<br />Nợ tiền: Hoàn trương<br />Mở, trải rộng, làm cho lớn lên: Khoa trương, trương cung.<br />Mở cơ sở làm ăn: Khai trương<br />theo một số tài liệu nói thì ý nghĩa của họ trương theo nghĩa là mở rộng ý thư 2 y'.<br /><br />theo như thông tin trích từ một bài viết từ truongquang.org<br /><br />Dòng dõi họ Trương có nguồn gốc ở làng Phước Long, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tỉnh . Đến năm 1623, thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, ông Thủy tổ Trương Đăng Nhất di cư vào Nam sinh sống ở vùng Mỹ Khê ngày nay (thuộc Phủ Tư Nghĩa, dinh Quảng Nam, xứ Đàng Trong thời bây giờ), Về sau con cháu của ngài cùng tham gia vào công cuộc mở mang bờ cỏi về phương nam dưới thời các chúa Nguyễn (1558-1777). Đến thời các vua Nguyễn (1802-1945), nhiều con cháu họ Trương như Tuy Thạnh Quận công Trương Đăng Quế, là người có công đầu trong công cuộc Nam tiến , mở mang đất Nam Kỳ lục tỉnh , thời vua Minh Mạng. Ông là Tể tướng của nhà Nguyễn, được phong tặng "Tam triều Thạc phu, lưỡng triều cố mạng lương thần" . Để ghi nhớ công đức của ông, hiện nay tên ông được dùng đặt tên một con đường ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.<br />Trải qua 380 năm, suốt 15 thế hệ, đã sinh ra trên 5.700 người. Ngày nay trên hầu hết các tỉnh và thành phố trong nước đều có con cháu họ Trương sinh sống. Sau năm 1975, con cháu họ Trương đã di cư đến Mỹ, Canada, Đức, Austalia và nhiều nước khác trên thế giới.<br />Gia phả Tộc Trương có từ lâu đời, được trùng tu nhiều lần, đây là một tài sản văn hóa của Tộc . Trùng tu Gia phả là một công tác lớn và thường xuyên của Tộc. <br /><br /><br />Di chỉ của dòng họ.<br /><br />Di chỉ tìm thấy ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Hiện vật là tập sách võ của dòng tộc họ Trương. Đây là dòng tộc lưu trữ nhiều tài liệu võ quý giá. Bình Định, là một trong những cái nôi của nền võ học chân truyền Việt Nam. Ngoài các làng võ, những dòng họ võ, cũng là biểu hiện sống động của truyền thống đó.<br /><br />Dòng họ Trương, có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ. Như ông Trương Đức Giai, Trương Đức Lân, Trương Trạch... đều đỗ cử nhân võ.<br /><br />Điều đáng quý nhất, là trong tập sách võ do dòng họ Trương lưu giữ, có lời giới thiệu bài quyền Ngọc Trản, một bài quyền hội đủ các yếu tố có tính cơ bản và là một trong những bài mang tính chính thống, tiêu biểu của võ Bình Định. Bài quyền, hiện vẫn được lưu truyền và phổ biến rộng rãi trong dân gian, với luyện tập công phu, tấn công toàn diện, kết hợp cương nhu, lại có những thế né tránh, phản đòn lợi hại; khi di chuyển thì linh hoạt, nhẹ nhàng, nhưng khi ra đòn thì mạnh. Với việc phát hiện ra bài thiệu, các nhà nghiên cứu mới nhận thức được tính liên hoàn âm - dương xuyên suốt cả bài quyền và chỉnh lý được những sai lầm, do việc lưu truyền tam sao thất bổn trước đây. Bài thiệu quyền Ngọc trản, đích thực là một viên ngọc quý trong tập sách võ của họ Trương.<br /><br />còn một số thông tin về gia phả họ trương trong tài liệu đó ghi 'Toàn bộ thông tin trong gia phả này là thuộc bản quyền của tộc TRƯƠNG CÔNG TỘC.<br />Mọi sự trích dẫn phải được phép của nguời đại diện tộc TRƯƠNG CÔNG TỘC' mặc dù có ít nhưng ban chịu khó tìm ra ngay y mà hehe. mình không đưa lên nữa.<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Bạn Vũ thiệt là giỏi đó nghe<br /><br />Cho bạn Quàng hỏi bạn Quàng họ Trần rứa là bét nguồn ở cái nơi mô???? Có liên quan chi tới ông Trần Hưng Đạo hem, hay có liên quan chi tới vụ Bóp Nát Trái Cam hem???<br /><br />Mong Bạn Vũ giải đáp dùm cái théc méc của bạn Quàng Nông Dân
kieusvl
27-05-2012, 08:36 AM
<!--quoteo--><div class='quotetop'>QUOTE</div><div class='quotemain'><!--quotec-->Bạn Vũ thiệt là giỏi đó nghe<br /><br />Cho bạn Quàng hỏi bạn Quàng họ Trần rứa là bét nguồn ở cái nơi mô???? Có liên quan chi tới ông Trần Hưng Đạo hem, hay có liên quan chi tới vụ Bóp Nát Trái Cam hem???<br /><br />Mong Bạn Vũ giải đáp dùm cái théc méc của bạn Quàng Nông Dân<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br /><br /><!--coloro:#000000--><span style="color:#000000"><!--/coloro--><!--coloro:#008080--><span style="color:#008080"><!--/coloro-->híc. em thật sự không dám nhận một lời khen nào đâu ạ, bìa viết nào của em cũng chỉ là góp nhặt, chắp vá, không bị nói cho lầmy lắm rùi nhất lại là từ bác..cứ như em đang múa rìu qua mắt thợ vậy. thui em cứ post một ít lên có j sai mong bác sửa chữa đóng góp- tốt cho người mà cũng lợi cho ta đúng không ạ?<br /><br /><br /><br />đây là một bài viết của 1 người trong họ trần đấy ạ, kêu gọi con cháu họ trần tham gia để còn biết mặt anh em trong họ.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /> <br /> <!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->X<!--sizec--></span><!--/sizec-->ưa kia, từ khi có chữ viết, con người đã biết lập gia phả để truyền đời đời, muốn rằng con cháu đời sau biết được nguồn gốc của mình, biết được những công đức của tiền nhân trong dòng họ.<br /><br /> <br /><br /> Nay, có những người sống cạnh nhau nhưng không nhận ra được là người cùng dòng họ vì gia phả bị thất lạc, hoặc trong họ không ai lập gia phả, …<br /><br /> <br /><br /> Lo rằng các thành viên thuộc tộc họ nêu trong gia phả này sẽ lâm vào tình trạng như vừa nêu trên, bởi vì các thành viên đời mới nhất hiện nay trong tộc họ gần như không biết nhau. Vì một lý do nào đó, hiện nay họ đang sinh sống ở nhiều nơi trên khắp đất nước như Nam Định, Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, Rạch Giá … hoặc các nước khác như Canada, Đức, Pháp, Mỹ … Người viết gia phả này, chỉ có một ước nguyện là mong muốn các thành viên trong họ dù sống ở bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam hoặc các nước khác trên thế giới đều có thể nhận biết, liên hệ, thông tin cho nhau; tìm đọc, bổ khuyết các thiếu sót và cập nhật thường xuyên các sự kiện mới vào gia phả.<br /><br /> <br /><br /> Viết gia phả của dòng họ là một việc làm lớn, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức của nhiều thành viên, nhiều đời nối tiếp nhau trong dòng họ. Với sự hiểu biết có hạn của mình, trong gia phả đang viết này và sẽ thường xuyên cập nhật, người viết chỉ có thể bắt đầu từ cụ Trần Công Yết.<br /><br /> <br /><br /> Kính mong các thành viên dòng họ giúp sức hoàn thành gia phả này bằng cách phổ biến việc đang thực hiện quyển gia phả đến tất cả các thành viên, cung cấp các tư liệu có liên quan đến bản thân cá nhân của từng thành viên hoặc các thành viên trực hệ đã qua đời. <br /><br /> <br /><br /> Dĩ nhiên gia phả này do kẻ hậu bối đang sưu tầm và ghi chép sẽ không tránh khỏi những sai sót, nhầm lẫn nhất định. Kính mong các cụ cao niên và các thành viên trong họ theo gia phả này chỉ giáo, bổ sung và hiệu đính để ngày càng hoàn thiện. Xin chân thành cám ơn.<br /><br /> <br /><br /> Người viết : Trần Văn Thiện, đời thứ 4 kể từ cụ Trần Công Yết.<br /><br /> Mọi tư liệu, thư từ xin liên hệ :<br /><br /> Trần VănThiện<br /><br /> Địa chỉ : 119 Đinh Tiên Hoàng, phường Đakao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh<br /><br /><br /><br />Em vốn chẳng copy link nên không nhớ ở phần nào mà dẫn chứng nhưng cái này em chắc là tìm ở việtnamgiaphar.com em hay vô đấy và trang phả hệ.<br /><br /><br /><br />Lịch sử<br /><br />Họ Trần bắt nguồn từ họ Quy , một họ Trung Quốc cổ, hậu duệ của vua Thuấn, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Khi Chu Vũ Vương thiết lập nhà Chu, ông đã dành vùng đất Trần cho các con cháu vua Thuấn thành lập quốc gia riêng. Để thể hiện sự kính trọng tới vua Thuấn, tiểu quốc Trần được xem là một trong ba khách quốc của nhà Chu, nghĩa là quốc gia này không bị lệ thuộc mà chỉ là khách. Tuy nhiên, về sau, lãnh thổ này bị nước Sở chiếm đóng sau thế kỷ 10 TCN. Từ đó, những người sống tại đây lấy Trần làm họ của mình.<br /><br />Vùng đất Trần thời Chu Vũ Vương cũng là nơi Vĩ Mãn, con Ngu Yên, hậu duệ vua Ngu Thuấn, dựng cơ nghiệp và khởi sinh dòng họ Hồ. Sau này Hồ Quý Ly khi nắm quyền ở Việt Nam đổi quốc hiệu Đại Việt thành Đại Ngu, ý muốn nói về nguồn gốc này.<br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><br />Trần là một họ ở Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và một số nơi khác trên thế giới. Đây cũng là tên của một triều đại của lịch sử Việt Nam và một triều đại khác ở Trung Quốc.<br /><br />Theo thăm dò của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, tháng 1 năm 2006, họ Trần đứng thứ 5 về số người tại Trung Quốc. Họ Trần phổ biến hơn tại miền Nam Trung Quốc. Tại Việt Nam, họ Trần cũng có nhiều khả năng là họ phổ biến thứ hai chiếm 11% [1], sau họ Nguyễn (38,4%). Tại Đài Loan, đây cũng là họ phổ biến nhất, chiếm 11% dân số [2].<br /><br />Tại Singapore, họ này thỉnh thoảng được viết với ký tự Latinh là Chern. Theo tiếng Quảng Đông, họ này cũng được viết với ký tự Latinh là Chan. Một số cách viết Latinh khác (từ các phương ngữ khác nhau) cũng có thể bắt gặp là Tan (Tân) (tiếng Mân Nam), Tang, Ding (tiếng Hokchew), Chin (tiếng Khách Gia, tiếng Nhật), Chun hay Jin (tiếng Triều Tiên), Zen (giọng Thượng Hải). Ở Việt Nam, miền Bắc phát âm "tr" trong chữ "Trần" thành "ch"; miền Trung và miền Nam đọc theo chuẩn tiếng Việt.<br /><br />Theo lối chiết tự, chữ Trần còn có thể đọc là Đông A (vì được ghép từ hai chữ Đông (東) và A (阿)). Khi nhà Trần tại Việt Nam thành công trong việc chống lại sự xâm lấn của nhà Nguyên, khí thế chiến đấu của quân dân nhà Trần còn được gọi là "hào khí Đông A".<br /><br /><br /><br />PHẢ KÝ <br /><br /> <br /><br /> Tổ tiên họ Trần làm nghề đánh cá xuôi theo dòng sông Vỉ, sông Hồng, sông Thái Bình. Con cháu họ Trần ở rải rác nhiều nơi, lần đầu lên ở đất liền tại vùng Yên Tử, Hải Dương. Qua nhiều năm tháng tìm nơi đất lành định cư và đã hội tụ ở khu Khang Kiện, hương Tức Mạc, phủ Thiên Trường, lộ Sơn Nam nay là thôn Tức Mạc, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định.<br /><br /> <br /><br /> Nhà Trần lập nghiệp từ Trần Cảnh - Trần Thái Tông, niên hiệu Kiến Trung, quốc hiệu Đại Việt, kinh đô Thăng Long, giữ ngôi vua 175 năm (1225-1400) đến đời Trần Án - Trần Thiếu Đế, niên hiệu Kiến Tân (1398-1400) thì bị Hồ Quý Ly, niên hiệu Thành Nguyên (1400-1401) tiếm ngôi. Từ đó con cháu họ Trần bị uy hiếp, tàn sát, phải tản cư ở nhiều nơi.<br /><br /> <br /><br /> Vào thời buổi loạn ly đó, một nhánh họ Trần đã thiên cư về Thiên Bản, ngày này là Đào thôn, xã Lại xá, tổng Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Họ Trần ở Đào thôn, Lại xá khởi nguyên từ đó.<br /><br /> <br /><br /> Gia phả họ Trần ở Đào thôn, Lại xá này chỉ ghi chép từ cụ Trần Công Yết trở về sau, vì phần gia phả trước đó chưa tìm thấy.<br /><br /><br />họ trần cũng phân nhánh phân cành nhiều lắm nên nói có liên quan tới ông Trần hưng dạo hay khong thi thật khó em lấy vi dụ <br /><br />Họ Trần ở xã Phước Thành, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định thuộc chi họ Trần của An Sinh Vương Trần Liễu (tế hiệp vào ngày 12 tháng Giêng hàng năm), gốc gác từ Nam Định. <br /><br />Thời nhà Lê, một nhánh gồm 3 anh em vào miền Trung lập nghiệp. <br /><br />Người anh đầu lập nghiệp tại Bắc đèo Cù Mông, Bình Định, chính là Thủy tổ Đại lang Trần Hữu Đức của họ Trần tại xã Phước Thành, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.<br /><br />Hai người em là Thủy tổ đệ nhị lang Trần Văn Đe của họ Trần ở Mỹ Á (Phú Yên) và Thủy tổ đệ tam lang Trần Mộc của họ Trần ở Phú Hiệp, Phước Nông (Phú Yên).<br /><br />Chi họ Trần ở Cảnh Vân đã phát triển đến nay là 12 đời.<br /><br />Cụ Hà Trì Trần Đình Tân là Văn phát quan của họ Trần Cảnh Vân, thuộc nhánh của Đệ Tứ đại tổ Trần Hữu Cường.<br /> em có đọc vài cái gia phả của dòng họ cái nào cũng giống nhau mà từ 1 ông trần , đến các con là 1.1, 1.2..1.7 cứ thế rồi 2 , 2.2.....đến tận 6 và nhiều thi` 8-9 như chi họ trần ở cảnh vân thì phải đến 12.<br /><br /><br />như em họ mạc tên vũ, lúc đầu không hiểu tưởng đơn giản là con cháu ông Mạc Đĩnh Chi khi tìm hiểu qua sách báo về nhà hỏi cả các ông, các bác mới thấy có tới 2 họ Mạc.<br />họ mạc -khởi thuỷ ngoài này là mạc đĩnh chi ( đọc về các dòng họ em thấy dường như ai nổi tiếng hay được ghi trong sử sách đầu tiên thì được coi là thuỷ tổ chứ bố ông Mạc Đĩnh Chi đâu có thể là...họ khác được,<br /> còn miền trong có mạc cửu là người có công với chúa nguyễn nên chúa nghuyeenx thêm 1 bộ vào trước chữ mạc, thành ra đọc thì giống nhưng viết thì khác..lạc chủ đề mất rùi..<br /><br />họ trần lấy ngày giỗ tổ là ngày 18/1 âm lịch cũng chỉ làm lẽ dâng hương ghi công đức các vị vua thời trần.<br /><br />muộn rùi em ngủ cái đã có gì em lục lại góp thêm <br />mong bác&mọi người góp ý, chỉ giáo
ctyxdcaosu
27-05-2012, 08:36 AM
Cám ơn bạn Mạc Vũ nhiều lém<br /><br />Chủ đề ni PC tui rất mê nhưng hiềm nỗi ko bit tiếng tàu nên pó tay. Cách đây khoảng chục nem mua được quyển sách của cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ viết về gia phả, đọc mê wa, nhưng đến nay không thấy chi mới trên thị trường chữ nghĩa. Nay đọc bài của pạn mới vỡ ra rèng phải dzô thế giới ảo.<br /><br />Tui thấy có cái ni khá thú vị. Khi đọc sử tàu ta thấy mấy ông đầu tiên từ thời khai thiên lập địa cũng ko có họ chi trơn, hay là mấy vị trong kinh thánh cũng rứa, đơn gioãn là Phêrô, rứa thui. Tức cái vụ họ hàng ni chắc là sau nì lâu lém, khi bét đầu có chữ viết, học mần sang khoe khoang họ hàng.<br /><br />Mac Vu mần ơn cho trót tìm dùm tui xem cái họ Nguyễn làng Bảo An huyện Điện Bàn có từ khi mô và khởi thủy ra reng?<br /><br />Hai nữa là mấy cái họ dân ít người như họ Chàm Ông Ích thì ra răng rùi? Tui cũng nghe đồn rèng cái họ Phan (hay Phạm) miền Trung có khi là Varman thời Chiêm Thành đọc trại ra chăng?<br /><br />Kính
lananh_hiep
27-05-2012, 08:36 AM
Ui... vậy là có thêm bác PC quan tâm tới chủ đền này..hehe <br /><br /><!--quoteo--><div class='quotetop'>QUOTE</div><div class='quotemain'><!--quotec-->Mac Vu mần ơn cho trót tìm dùm tui xem cái họ Nguyễn làng Bảo An huyện Điện Bàn có từ khi mô và khởi thủy ra reng?<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Bác ạ. nhắc tới họ nguyễn em chỉ nhớ lại thui mà đau hết cả đầu. Lúc đầu ai đọc 'họ Nguyễn- ai cũng thấy nó quen thuộc, phổ biến. chắc đơn giản ý mà, em đã từng nghĩ vậy đấy, sau 1 ngày bắt đầu thấy nản, ngày thứ 2 thì bỏ cuộc.. sao ư? lằng nhằng quá, chưa thấy dòng họ nào lại lắm chi, lắm nhánh thế này, mà nguồn ngốc đâu phải 1 mà là 10 và thậm chí hơn thế nữa...<br /><br />có nhiều nguồn gốc lắm ạ. <br />nguồn gốc họ nguyễn chính thống( cũng như nguyễn văn) giá chỉ có 1 nguyễn như vậy...nhưng..có Nguyễn duy ..<br />nguyễn khắc ..<br />Nguyễn trường..<br />Nguyễn tông..<br /> nguyễn quang...<br /><br />ui nhiều lắm, họ có chung họ là nguyễn nhưng cái tên đệm thì khác hoặc để dùng chỉ một chi, một dòng họ khác.<br />nguyên do là trong lịch sử có nhiều dòng họ khác đổi sang họ Nguyễn.<br /><br />Năm 1232, Trần Thủ Độ bắt con cháu họ Lý đổi sang họ Nguyễn với nguyên cớ phạm húy.<br /><br />Hồ Quí Ly giết hại nhiều con cháu nhà Trầnnên khi nhà Hồ sụp đổ (1407), con cháu sợ bị trả thù đổi thành họ Nguyễn. <br /><br />Năm 1592, nhà Mạc sụp đổ, con cháu sợ nhà Lê trả thù nên đổi Mạc sang Nguyễn và Lều;<br /> <br />Con cháu chúa Trịnh sợ nhà Nguyễn trả thù sau khi Trịnh - Nguyễn phân tranh chấm dứt; <br /><br />Tục phong quốc tính dưới thời Nguyễn (Huỳnh Tường Đức có công với vua Gia Long được đổi thành Nguyễn Huỳnh Đức); <br /><br />Một số phạm nhân muốn tránh sự trừng phạt đương thời phải đổi sang họ Nguyễn <br /><br />hay như chuyện ở 1 làng quê thuộc tinhr Hưng Yên cả làng đổi sang họ Nguyễn, có thông tin nói đổi họ vì tôn thờ vua chúa nguyễn, có người nói bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa các họ trong làng..thế nên 1 họ đổi sang họ nguyễn, thấy vậy các họ khác trong làng đổi theo.<br /> <br />đổi sang nhưng họ có cách đổi khác nhau. họ nguyễn nhưng tên đệm khác, hoặc "Con gái sinh ra thì lấy "chi" (họ gốc của bố) làm họ và lấy chữ "thị" làm tên đệm, con trai thì lấy "Nguyễn" làm đầu và lấy "chi" làm tên đệm.<br />hay ví dụ về nguồn gốc dòng họ nguyễn khoa: Họ Nguyễn Khoa khi xưa là Nguyễn Đình, người ở làng Trạm Bạc, tổng Văn Câu, huyện An Dương, phủ Kính Môn, trấn Hải Dương – bây giờ là tổng Đồng Dụ, huyện An Dương, tỉnh Kiên An (không có phủ) – đến đời thứ ba mới đổi là Nguyễn Khoa, đồng thời với họ Nguyễn nhà vua lót thêm một chữ Phước; như là đức Triệu Tổ tên là Nguyễn Kim, đức Gia-Dũ tên là Nguyễn Hoàng. Đến đời đức Hiếu Văn tên là Nguyễn Phước Nguyên v.v… (theo bộ Ngọc phổ của Hoàng gia).<br /><br />hay như họ nguyễn nhưng gốc họ trần: Họ ta gọi là họ NGUYỄN, nguyên gốc là họ TRẦN, ở làng QUANG-SÁN (tục gọi là làng Sét), tổng NHƯ-THỨC, huyện MỸ-LỘC, phủ XUÂN-TRƯỜNG, tỉnh NAM-ĐỊNH, (nay cải là làng Mỹ-Hà, huyện Mỹ-Lộc, tỉnh Nam-Định). <br />1. Thủy-tổ chỉ biết từ cụ [1]TRẦN LƯỢNG THÁI, gốc ở Nghệ-An, làm quan Thiếu-Khanh đời Hậu Lê, bổ nhiệm Học-quan (Đốc-học tỉnh Nam-Định), lấy cụ bà huý là Trần-Thị-Sạ người làng Quang-Sán, nên sau khi về hưu, định cư tại đó. <br />Cụ sinh được 4 con : <br />o 2 trai : <br /> Ông TRẦN-LƯỢNG-DỊ [2] (mất sớm, vô tự)<br /> Ông TRẦN-LƯỢNG-THANH [2] <br />o 2 gái : <br /> Bà Cô tổ huý là Trần-Thị-KHÂM [2] (mất sớm, rất anh linh, tôn thờ xưng là Khâm-Sai Quận-chúa. Ngày giỗ Bà: mùng 8 tháng tư âm lịch, trùng với ngày Phật-Đản) <br /> Bà LĨNH [2] lấy chồng người làng Bườn cùng tổng.<br />[2] Ông TRẦN-LƯỢNG-THANH sinh Ông TRẦN-PHÚC-NHÂN <br />[3] Ông TRẦN-PHÚC-NHÂNÔ. Trần-Phúc-Nhân mất ngày 17 tháng 5. Cụ bà huý Từ-Kính mất ngày 11 tháng 3. Sau này con cháu họ ta ở Lỗ-Xá hằng năm nô nức lễ và giỗ cụ Bà tại Quang-Sán rất đông đảo sinh : <br />3. Ông TRẦN-LƯỢNG-THẠCH [4] <br />4. Ông TRẦN-LƯỢNG-CÔN [4] <br />5. Ông TRẦN-LƯỢNG-LIÊN [4] (Mất sớm)<br />6. Ông TRẦN-QUỐC-PHÚ [4].<br />Hai Ông Trần-Lượng-Thạch và Trần-Lượng-Côn ở lại quê nhà Quang-Sán, con cháu ngày nay vẫn giữ nguyên họ Trần. <br />[4] Ông TRẦN-QUỐC-PHÚ Ông Trần-Quốc-Phú mất ngày mùng 5 tháng giêng mộ táng tại Mả Bườn, cục đồ Kim-Tinh. Cụ bà Sao-La mất ngày mùng 10 tháng 5, an táng tại Cầu Bằng, cục đồ Thủy-Tinh, án đầu Thiên-Mã. Theo phong thủy hai ngôi mộ này rất đắc địa, di chú lại cho con cháu., hiệu là Chi-Khô, lấy bà Sao-La sinh : <br />Ông Trần-Phúc-Bình gặp binh hoả thời Hậu Lê đem vợ là bà Tảo-Thoát thiên cư vào xã LỖ-XÁ, tổng Hưng-Xá, huyện Phong-Doanh, tỉnh Ninh-Bình, sau thuộc huyện Ý-YÊN, tỉnh NAM-ĐỊNH và đổi tên họ ra họ NGUYỄN (Tục gọi là họ “Nguyễn-Đỉnh”, để phân biệt với một họ lớn là họ “Nguyễn-Trọng” - còn gọi là họ “Nguyễn-Xuân” - cố cựu tại địa phương). <br /><!--coloro:#006400--><span style="color:#006400"><!--/coloro-->( nguồn rong máy của em- không rõ tác giả do em không ghi)^-^<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />thế nên thỉnh thoảng ai đó có nghe câu " sinh Nguyễn trần''<br />Theo lời cụ Bút, làng An Hải còn có mộ danh tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu (1746-1802). Tướng Trần Quang Diệu và vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân đã một thời gian dài “gây khó khăn” cho kế hoạch tiêu diệt Tây Sơn của Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này). Vì vậy, khi bắt được cặp vợ chồng anh hùng đáng sợ này, vua Gia Long không những đã hành hình họ mà còn tàn sát thân nhân của họ bằng án tru di tam tộc.<br /><br />Theo lời kể của con cháu họ Trần trong làng, lúc đó, khi nghe tin dữ từ kinh đô Huế, có người đã vội vã về làng An Hải báo tin. Do vốn có cảm tình với người họ Trần nên hương lý và dân làng đều tìm cách giúp đỡ, một số người đào thoát khỏi làng, thay tên đổi họ, lánh nạn phương xa; số còn lại vì nhiều lý do không muốn rời làng đều cải sang họ Nguyễn. Nhờ đó, lệnh truy nã ban ra đã không giết được ai là người họ Trần. Vì sự sống, bất đắc dĩ phải mang họ Nguyễn, nhưng khi chết tất cả đều lấy lại họ Trần để không mất gốc, tạo nên một tập tục mà hết thảy con cháu đều phải tuân theo gọi là "Sinh Nguyễn tử Trần".<br /><br />trích trong bài Chuyện xưa xứ Quảng Một làng, hai danh nhân trong báo đà nẵng.<br /><br />còn nhiều lắm ạ, còn như em đề cập ở trên họ nguyễn gốc cũng như nguyễn văn thì em có ít thông tin. <br /><br />Sau đây là Gia Phả phái Tộc Nguyễn Văn dựa theo cuốn gia phả Tộc Nguyễn Văn làng Thanh Chiêm lập năm 1810 (năm Gia Long thứ 8) đã được dịch ra tiếng Việt thì : <br />I. Thủy Tổ Tộc Nội <br />- Cụ Ông Nguyễn Văn Thiện người làng Tây Hồ Tỉnh Hà Nội <br />- Cụ Bà (gia phả không ghi) <br />Thủy Tổ Tộc Ngoại <br />- Cụ Ông (gia phả không ghi) <br />- Cụ bà Phạm thị Cần <br />Thủy Tổ Tộc Ngoại sinh hạ Cụ Bà Trần Thị Tịnh( là Cao Tổ Khảo) <br />Thủy Tổ Nguyễn Văn Thiện sinh hạ: <br />II. Cao tổ Khảo Nguyễn Văn Huấn (1792-1838) Hưởng dương 46 tuổi, bia mộ lập tại Thanh Chiêm 1840 <br />Cao Tổ Khảo Nguyễn Văn Huấn và Cao Tổ Tỷ Trần Thị Tịnh sinh hạ: <br />III. Tằng Tổ Khảo Nguyễn Văn Của (1803-1860) Hưởng dương 57 tuổi <br />Tằng Tổ Khảo Nguyễn Văn Của và Tằng Tổ Tỷ Phạm Thị Khải[(1813-1898) thọ 86 tuổi là chị ruột Tiến Sĩ Phạm Phú Thứ] sinh hạ: <br /> Cao Tổ khảo Nguyễn Văn Huấn và Cao Tổ Tỷ Trần thị Tịnh đều có mộ phần tại Thanh chiêm ở khu đất cao ráo.Theo các vị lớn tuổi thì Mộ Tổ to, có bia cao khác thường, (có khắc chử Hán )khác với các mộ khác tại đây. Từ đó có thể suy đoán Tổ chúng ta cũng có 1 thân thế nào đấy, dòng họ Nguyễn Văn cũng có 1 vị trí ưu thế tại đây. Sau năm 1975 chính quyền cho di dời tất cả các mộ về Địên Nam theo từng Tộc. Tiếc rằng tấm bia mộ Tổ đã được thay thế bằng bia mới chất liệu như cũ nhưng khắc lại bằng chử quốc ngữ( chắc là có sai sót) bia cũ cất đâu, không rõ. Có người nói chôn trong Mộ Tổ, khi xây lại mộ <br /> Hiện nay chúng ta chưa biết Mộ Thủy Tổ Nguyễn Văn Thiện ở đâu? Ông có vào Nam hay không? Không rõ gốc tích tộc là Nguyễn hoặc Nguyễn Văn … <br /> -Khoảng 1857 bà Phạm Thị Khải chị ruột TS Phạm Phú Thứ ,có ra Hà Nội tìm kiếm tông tích ,lúc đó Ông Thứ làm án sát ở Hà Nội , nhưng không tìm ra <br /> - Khoảng 193? Ông Tuệ là con Ông Trợ Hoán, ra học và có vợ ở Bắc, có điều kiện thuận lợi để tìm nhưng không được <br /> - 199?Ông Nguyễn Văn Xuân (nhà Quảng Nam học) có đến Hồ Tây có ý định tìm kiếm nhưng vô vọng <br />Ông Nguyễn Văn Xuân lại dí dỏm: biết đâu có 1 phép màu ngược lại là Tộc Nguyễn Văn ở Tây Hồ Hà Nội tìm ra Tộc Nguyễn lưu lạc ở Phương Nam là chúng ta thì Từ Đường Nguyễn Tộc tại Thanh Chiêm (Điện Bàn - Quảng Nam) là nơi hội tụ con cháu Tộc Nguyễn cúng viếng chung Tổ Tiên Tộc Nguyễn <br /><br />theo <a href="http://www.phahe.vn/Ancestry_Detail.aspx?ID=84" target="_blank">http://www.phahe.vn/Ancestry_Detail.aspx?ID=84</a>
giangthanh
27-05-2012, 08:36 AM
@Macvu<br /><br />Tui thi nghe các cụ nóa như ri: một số dân lưu tán ở Nghệ An theo Chúa Nguyễn hay Nguyễn Tây Sơn chi đó (chu choa hai họ ni mà lộn thì khốn hè) vô Gò Nổi trên sông Thu Bồn và khai trương ra các họ Nguyễn, Phan (có Phan Khôi tiên sinh) và Ngô (có Đại Sứ Ngô Điền). Vùng ni là vùng trắng hồi chiến tranh nên sau nì ko còn chi hết, ko bit có mấy người còng gia phả.<br /><br />@ Quàng Trần<br /><br />Họ Trần ni thì cũng lộn xộn lém. Theo 1 sử gia thì cái họ ni có gốc biển cả chuyên đánh cá cướp biển, không xa lém với mấy cái bộ lạc Malayo-polinesian. Rứa là xung quanh cái Biển Đông của ta là vùng cư trú của cái đám họ Trần (Zen, Chin, Chun, Chan, Tan...theo như bạn Mac Vu).<br /><br />Cái ông mang họ Trần đầu tiên được ghi lại trong sử ta là tướng quân Trần Lãm, ông ni ở bên tàu qua, nhưng ta nên nhớ là khi ấy Hoa Nam ko phải Hán như bây giờ. Rùi tổ tiên của triều Trần ta cũng là dân Phúc Kiến, nói tiếng Mân đấy thui. Bên Quảng Châu có một cái Miếu tổ họ Trần to lém.
chinh186
27-05-2012, 08:36 AM
cảm giác thấy bất an sao sao ý.. rut' thôiii...........hi`hi
xuanhoahcm
27-05-2012, 08:36 AM
Bài viết của bạn khá là hay.. nhưng dài dòng wá. đọc mà muốn nổ đom đóm con mắt bị cận thị này nè
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.