View Full Version : Tiếng Việt mình đang nói có từ bao giờ ?
hvtorcvn
27-05-2012, 08:37 AM
Các bác cho em hỏi : Qua hơn 1000 năm Bắc thuộc sử dụng tiếng Hoa, sau đó là tiếng Nôm ( đều là tượng hình ) , vậy tiếng Việt A,B,C ... mình đang nói có từ bao giờ, ai là người mang nó vào Việt Nam ?
phongthoa
27-05-2012, 08:37 AM
<!--quoteo(post=30056:date=11/03/2009 - 06:45 PM:name=tucoi)--><div class='quotetop'>QUOTE(tucoi @ 11/03/2009 - 06:45 PM) <a href="index.php?act=findpost&pid=30056"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->Các bác cho em hỏi : Qua hơn 1000 năm Bắc thuộc sử dụng tiếng Hoa, sau đó là tiếng Nôm ( đều là tượng hình ) , vậy tiếng Việt A,B,C ... mình đang nói có từ bao giờ, ai là người mang nó vào Việt Nam ?<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /> <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/huh.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":huh:" border="0" alt="huh.gif" /> Bạn nên phân biệt rõ 1 điểm đó là tiếng Việt ngày nay ta sử dụng là cả tiếng nói và chữ viết, qua hơn 1000 năm Băc thuộc chúng ta sử dụng tiếng Hoa ư??? Không thể nói vậy đâu nha, cái mà ta có sử dụng là chữ viết chứ không phải là tiếng nói đâu bạn nhé, dù tiếng nói có bị ảnh hưởng khá nhiều. Vả lại thời đó người biết chữ là rất ít chứ không phải như bây giờ đâu. CÒn tiếng Nôm??? chả ai nói là tiếng Nôm cả, đó chỉ là 1 kiểu cách tân chữ viết từ chữ Hán (chữ Nho) của Trung Quốc.<br /><b>Khái quát về sự hình thành và phát triển của tiếng Việt</b><br /><br /> Căn cứ vào những tài liệu mới được công bố gần đây, hiện nay có thể kết luận: Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt-Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Katu, thuộc khu vực phía đông của ngành Mon-Khmer, họ Nam Á.<br /><br /> Trong nhóm Việt-Mường, ngoài tiếng Việt và tiếng Mường (Mường Sơn La, Mường Thanh Hoá, Mường Nghệ An) còn có tiếng Nguồn cũng được coi là ngôn ngữ bà con gần nhất với tiếng Việt.<br /><br /> Trong tiểu chi Việt Chứt, ngoài nhóm Việt-Mường còn có nhóm Pọng Chứt gồm các ngôn ngữ Chứt, Pọng (bao gồm Mày, Rục, Sách, Mã Liềng, Arem) ở vùng núi các tỉnh phía nam khu IV và các tiếng như Ahơ (Phon Soung), Maleng (Pakadan), Thà Vựng ở Lào. Đây là những bà con xa hơn của tiếng Việt.<br /><br /> Sự tiếp xúc với người Hán, tiếng Hán, văn hoá Hán đã xảy ra trước khi người Hán xâm lược, nhưng để lại dấu ấn sâu đậm vẫn là sự tiếp xúc trực tiếp trong suốt 1000 năm Bắc thuộc. Ảnh hưởng của tiếng Hán, nền văn hoá Hán không toả ra đồng đều trên lãnh thổ bị chiếm đóng. Ảnh hưởng đó ở vùng phía bắc sâu đậm hơn ở vùng phía nam, ở vùng đồng bằng sâu đậm hơn ở vùng núi. Chính vì vậy, sự khác biệt vốn đã có giữa nhóm Pọng Chứt và nhóm Việt Mường ngày càng rõ nét và cuối cùng đã phân hoá thành hai nhóm ngôn ngữ các đây từ 2000 đến 2500 năm. Trong nội bộ nhóm Việt-Mường về sau lại phân hoá thành tiếng Việt(3) ở miền châu thổ sông Hồng và tiếng Mường ở miền thượng du Hoà Bình, Sơn La, Phú Thọ. Sự phân hoá này diễn ra cách đây từ 1000 đến 1500 năm.<br /><br /> Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập tự chủ. Mối quan hệ với tiếng Hán không còn là quan hệ trực tiếp như trước nữa. Mặc dù nhà nước phong biến Việt Nam vẫn duy trì việc sử dụng chữ Hán, coi chữ Hán là văn tự chính thức, việc tổ chức học hành, thi cử bằng chữ Hán ngày càng có quy mô, nhưng tiếng Hán không còn là sinh ngữ như trước nữa. Từ đây tiếng Việt diễn biến theo quy luật nội tại, nó còn bắt cả kho từ ngữ gốc Hán diễn biến theo quy luật của mình.<br /><br /> Khi nước nhà giành được độc lập, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại tiếng nói. Đây là một loại chữ được tạo ra theo nguyên tắc và trên cơ sở của tiếng Hán. Bên cạnh nền văn hiến dân tộc viết bằng chữ Hán, theo truyền thống Hán, còn có một nền văn hiến dân tộc viết bằng chữ Nôm ngày càng phát triển.<br /><br /> Cũng từ đó, vai trò của tiếng Việt ngày càng phát triển mạnh mẽ. Mặc dù nó không được coi là ngôn ngữ chính thức dùng ở công văn, giấy tờ, học hành, thi cử, nhưng trong thực tế, nó vẫn trở thành ngôn ngữ có uy thế nhất trong toàn bộ lãnh thổ. Tác dụng của tiếng Việt bắt đầu toả ra mạnh mẽ đối với các vùng ngôn ngữ thiểu số. Lúc đầu chỉ là ở phía bắc, về sau, với đà nam tiến ồ ạt, liên tục của người Việt, ảnh hưởng đó ngày càng lan rộng. Bước đầu, nó lan truyền đến địa bàn khu IV, hình thành phương ngữ khu IV. Sau đó tiếng Việt lại nam tiến, tạo điều kiện hình thành một phương ngữ mới là tiếng miền Nam. Hai phương ngữ mới này có hoàn cảnh hình thành khác nhau, do đó có những đặc trưng khác nhau.<br /><br />Sự hình thành chữ quốc ngữ gắn liền với sự truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây. Chữ quốc ngữ là một thứ chữ được xây dựng theo nguyên tắc ghi âm bằng chữ Latin. Loại chữ này được dùng phổ biến từ rất lâu ở châu Âu. Đến thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây đem nguyên tắc ấy dùng vào việc ghi âm tiếng Việt, tạo ra một thứ chữ thuận lợi hơn đối với mục đích truyền đạo. Mấy thế kỉ tiếp theo, chữ quốc ngữ chỉ được dùng hạn chế trong những kinh bổn đạo Thiên Chúa.<br /><br />Sự áp đặt chế độ thuộc địa Pháp đưa đến việc bãi bỏ việc học, việc thi cử, việc dùng chữ Hán; đưa đến sự thắng lợi của chữ quốc ngữ. Buổi đầu nhân dân lạnh nhạt với chữ quốc ngữ, mặc dù một số trí trức "Tây học" đã ra sức cổ động cho nó(4). Thái độ lạnh nhạt ấy thay đổi từ khi hình thành các phong trào đấu tranh văn hoá có ý nghĩa chính trị như phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở đầu thế kỉ XX. Những người lãnh đạo phong trào đưa việc dùng chữ quốc ngữ lên hàng đầu trong sáu biện pháp của bản sách lược gọi là Văn minh tân học sách (1907) và lên tiếng kêu gọi đồng bào vì tương lai của đất nước mà nên dùng thứ chữ tiện lợi ấy. Những tài liệu văn hoá bằng chữ quốc ngữ do phong trào này phát hành đã được phổ biến khá rộng. Mặt khác, sự tiếp xúc với tiếng Pháp, với nền văn hoá Pháp đã dẫn đến sự hình thành nền báo chí Việt Nam bằng chữ quốc ngữ, nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sự đổi mới trong thơ ca, những tiếp thu về từ vựng, ngữ pháp.<br /><br />Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa lại “địa vị ngôn ngữ chính thức của quốc gia” cho tiếng Việt. Từ đó, tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng, toàn diện, có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam.<br /><br />Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn căn cứ vào tình thế ngôn ngữ, tức là thế tương quan giữa các ngôn ngữ, văn tự có sự tiếp xúc với nhau đã phân kì lịch sử phát triển của tiếng Việt như sau(5):<br /><br />A, Giai đoạn proto Việt (tiền Việt) - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Hán (khẩu ngữ của lãnh đạo) và tiếng Việt.<br />- Có 1 kiểu văn tự: chữ Hán Vào khoảng các thế kỉ VIII, IX <br />B, Giai đoạn tiếng Việt tiền cổ (cổ xưa) - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt (khẩu ngữ của lãnh đạo) và văn ngôn Hán<br />- Có 1 kiểu văn tự: chữ Hán Vào khoảng các thế kỉ X, XI, XII <br />C, Giai đoạn tiếng Việt cổ - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán<br />- Có 2 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm Vào khoảng các thế kỉ XIII, XIV, XV, XVI <br />D, Giai đoạn tiếng Việt trung đại - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán<br />- Có 3 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm và chữ quốc ngữ Vào khoảng các thế kỉ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX <br />E, Giai đoạn tiếng Việt cận đại - Có 3 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Việt và văn ngôn Hán<br />- Có 4 văn tự: Pháp, Hán, Nôm và chữ quốc ngữ Vào thời gian Pháp thuộc <br />G, Giai đoạn tiếng Việt hiện nay - Có 1 ngôn ngữ: tiếng Việt<br />- Có 1 văn tự: chữ quốc ngữ Từ năm 1945 trở đi <br /><br />__________<br /><br />(1) Có thể liên hệ với truyền thuyết về họ Hồng Bàng, về chuyện 50 người con theo mẹ ở lại vùng núi lập nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu và bức tranh về đời sống săn bắt, hái lượm của cư dân miền núi hồi đó.<br /><br />(2) Việc di cư này gắn liền với việc chuyển sang canh tác lúa nước. Nó được phản ánh trong sử sách qua việc Văn Lang trở thành Âu Lạc, quan việc Phong Châu nhường bước cho Cổ Loa.<br /><br />(3) Cư dân nói tiếng Việt ở vùng châu thổ sông Hồng còn được gọi là người Kinh. Kinh là một từ xưa kia vốn được dùng để gọi người Hán ở Kinh kì (Dẫn theo: Chu Xuân Diên. Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2002).<br /><br /><b>Mặt khác:</b><br />Nửa đầu thế kỉ XIX trở về trước, những quan sát, nghiên cứu về tiếng Việt còn rất sơ sài. Điều này có nguyên nhân khách quan của nó.<br /><br />Trước hết, vì chức năng xã hội của tiếng Việt thời cổ trung đại còn hạn chế nên nhu cầu phải nghiên cứu nó không cao.<br /><br /> Thứ hai, muốn nghiên cứu tiếng Việt phải có phương tiện là chữ viết phát triển nhưng trong khi đó, cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ thời kì này đều có những hạn chế nhất định. Ở Việt Nam, không mấy người có đủ trình độ tiếng Hán để có thể dùng chữ Hán để ghi lại những quan sát của mình về tiếng Việt. Những người có thể lưu bút cho đời như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm thì thật là hiếm. Chính người Trung Quốc đã dùng chữ Hán để phiên âm tiếng Việt và làm ra cuốn từ điển đối chiếu đầu tiên là An Nam dịch ngữ(1). Còn về chữ Nôm thì, ông cha ta chỉ có thể gửi gắm những quan sát, suy nghĩ của mình về tiếng Việt qua sự cấu tạo của chữ Nôm, chứ bản thân chữ Nôm chưa thể trở thành phương tiện để miêu tả các phương diện của tiếng Việt, mặc dù nó đã góp phần hình thành nên một loạt từ điển đối chiếu Hán–Việt các loại (chi tiết xem chương II của cuốn sách này). Chữ quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ XVII, nhưng chỉ bó hẹp trong phạm vi đạo Thiên Chúa mà triều đình phong kiến Việt Nam, cả ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, lại thi hành chính sách cấm đạo nên chữ quốc ngữ không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.<br /><br /> Thứ ba, Việt Nam và Trung Quốc là những nước đồng văn mà truyền thống ngôn ngữ học Trung Hoa chỉ xoay quanh âm vận học, huấn hỗ học, tự thư học cho nên cái phông lí thuyết để miêu tả tiếng Việt thời kì này cũng chỉ xoay quanh âm, chữ và nghĩa mà thôi. Lê Quý Đôn (một nhà bác học của Việt Nam thế kỉ XVIII) đã đóng góp cho lịch sử văn hoá nước nhà trên nhiều mặt như triết học, lịch sử, văn học,... Những suy nghĩ, quan sát của ông về ngôn ngữ cũng rất phong phú, giá trị, nhưng dẫu sao vẫn chưa vượt qua được cái phông chung của thời đại.<br /><br /> Tuy nhiên, trong thời cổ trung đại đã có những công trình về ngữ pháp và tiếng Việt mang tinh thần khoa học của phương Tây. Đó là Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh và Từ điển Việt–Bồ–La của Alexandre de Rhodes, Từ điển Việt–La của Pigneaux de Béhaine, Nam Việt Dương Hiệp tự vị của Taberd. Nhưng vì những tác phẩm này không được in ở Việt Nam nên tác động của chúng đối với người Việt rất hạn chế. Mặc dù sự tác động của nhân tố bên ngoài là cần thiết và quan trọng nhưng Việt ngữ học chỉ có thể phát triển mạnh mẽ và vững chắc nhờ vào nội lực của mình. Đó là điều mà chúng ta có thể chứng kiến ở giai đoạn cận hiện đại.<br /><br />(nguồn: ngonngu.net)<br />Thân! <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/happy.gif" style="vertical-align:middle" emoid="^_^" border="0" alt="happy.gif" />
trinhqtoan
27-05-2012, 08:37 AM
<!--quoteo(post=30074:date=11/03/2009 - 10:20 PM:name=zero_)--><div class='quotetop'>QUOTE(zero_ @ 11/03/2009 - 10:20 PM) <a href="index.php?act=findpost&pid=30074"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec--><img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/huh.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":huh:" border="0" alt="huh.gif" /> Bạn nên phân biệt rõ 1 điểm đó là tiếng Việt ngày nay ta sử dụng là cả tiếng nói và chữ viết, qua hơn 1000 năm Băc thuộc chúng ta sử dụng tiếng Hoa ư??? Không thể nói vậy đâu nha, cái mà ta có sử dụng là chữ viết chứ không phải là tiếng nói đâu bạn nhé, dù tiếng nói có bị ảnh hưởng khá nhiều. Vả lại thời đó người biết chữ là rất ít chứ không phải như bây giờ đâu. CÒn tiếng Nôm??? chả ai nói là tiếng Nôm cả, đó chỉ là 1 kiểu cách tân chữ viết từ chữ Hán (chữ Nho) của Trung Quốc.<br /><b>Khái quát về sự hình thành và phát triển của tiếng Việt</b><br /><br />Căn cứ vào những tài liệu mới được công bố gần đây, hiện nay có thể kết luận: Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt-Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Katu, thuộc khu vực phía đông của ngành Mon-Khmer, họ Nam Á.<br /><br />Trong nhóm Việt-Mường, ngoài tiếng Việt và tiếng Mường (Mường Sơn La, Mường Thanh Hoá, Mường Nghệ An) còn có tiếng Nguồn cũng được coi là ngôn ngữ bà con gần nhất với tiếng Việt.<br /><br />Trong tiểu chi Việt Chứt, ngoài nhóm Việt-Mường còn có nhóm Pọng Chứt gồm các ngôn ngữ Chứt, Pọng (bao gồm Mày, Rục, Sách, Mã Liềng, Arem) ở vùng núi các tỉnh phía nam khu IV và các tiếng như Ahơ (Phon Soung), Maleng (Pakadan), Thà Vựng ở Lào. Đây là những bà con xa hơn của tiếng Việt.<br /><br />Sự tiếp xúc với người Hán, tiếng Hán, văn hoá Hán đã xảy ra trước khi người Hán xâm lược, nhưng để lại dấu ấn sâu đậm vẫn là sự tiếp xúc trực tiếp trong suốt 1000 năm Bắc thuộc. Ảnh hưởng của tiếng Hán, nền văn hoá Hán không toả ra đồng đều trên lãnh thổ bị chiếm đóng. Ảnh hưởng đó ở vùng phía bắc sâu đậm hơn ở vùng phía nam, ở vùng đồng bằng sâu đậm hơn ở vùng núi. Chính vì vậy, sự khác biệt vốn đã có giữa nhóm Pọng Chứt và nhóm Việt Mường ngày càng rõ nét và cuối cùng đã phân hoá thành hai nhóm ngôn ngữ các đây từ 2000 đến 2500 năm. Trong nội bộ nhóm Việt-Mường về sau lại phân hoá thành tiếng Việt(3) ở miền châu thổ sông Hồng và tiếng Mường ở miền thượng du Hoà Bình, Sơn La, Phú Thọ. Sự phân hoá này diễn ra cách đây từ 1000 đến 1500 năm.<br /><br />Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập tự chủ. Mối quan hệ với tiếng Hán không còn là quan hệ trực tiếp như trước nữa. Mặc dù nhà nước phong biến Việt Nam vẫn duy trì việc sử dụng chữ Hán, coi chữ Hán là văn tự chính thức, việc tổ chức học hành, thi cử bằng chữ Hán ngày càng có quy mô, nhưng tiếng Hán không còn là sinh ngữ như trước nữa. Từ đây tiếng Việt diễn biến theo quy luật nội tại, nó còn bắt cả kho từ ngữ gốc Hán diễn biến theo quy luật của mình.<br /><br />Khi nước nhà giành được độc lập, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại tiếng nói. Đây là một loại chữ được tạo ra theo nguyên tắc và trên cơ sở của tiếng Hán. Bên cạnh nền văn hiến dân tộc viết bằng chữ Hán, theo truyền thống Hán, còn có một nền văn hiến dân tộc viết bằng chữ Nôm ngày càng phát triển.<br /><br />Cũng từ đó, vai trò của tiếng Việt ngày càng phát triển mạnh mẽ. Mặc dù nó không được coi là ngôn ngữ chính thức dùng ở công văn, giấy tờ, học hành, thi cử, nhưng trong thực tế, nó vẫn trở thành ngôn ngữ có uy thế nhất trong toàn bộ lãnh thổ. Tác dụng của tiếng Việt bắt đầu toả ra mạnh mẽ đối với các vùng ngôn ngữ thiểu số. Lúc đầu chỉ là ở phía bắc, về sau, với đà nam tiến ồ ạt, liên tục của người Việt, ảnh hưởng đó ngày càng lan rộng. Bước đầu, nó lan truyền đến địa bàn khu IV, hình thành phương ngữ khu IV. Sau đó tiếng Việt lại nam tiến, tạo điều kiện hình thành một phương ngữ mới là tiếng miền Nam. Hai phương ngữ mới này có hoàn cảnh hình thành khác nhau, do đó có những đặc trưng khác nhau.<br /><br />Sự hình thành chữ quốc ngữ gắn liền với sự truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây. Chữ quốc ngữ là một thứ chữ được xây dựng theo nguyên tắc ghi âm bằng chữ Latin. Loại chữ này được dùng phổ biến từ rất lâu ở châu Âu. Đến thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây đem nguyên tắc ấy dùng vào việc ghi âm tiếng Việt, tạo ra một thứ chữ thuận lợi hơn đối với mục đích truyền đạo. Mấy thế kỉ tiếp theo, chữ quốc ngữ chỉ được dùng hạn chế trong những kinh bổn đạo Thiên Chúa.<br /><br />Sự áp đặt chế độ thuộc địa Pháp đưa đến việc bãi bỏ việc học, việc thi cử, việc dùng chữ Hán; đưa đến sự thắng lợi của chữ quốc ngữ. Buổi đầu nhân dân lạnh nhạt với chữ quốc ngữ, mặc dù một số trí trức "Tây học" đã ra sức cổ động cho nó(4). Thái độ lạnh nhạt ấy thay đổi từ khi hình thành các phong trào đấu tranh văn hoá có ý nghĩa chính trị như phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở đầu thế kỉ XX. Những người lãnh đạo phong trào đưa việc dùng chữ quốc ngữ lên hàng đầu trong sáu biện pháp của bản sách lược gọi là Văn minh tân học sách (1907) và lên tiếng kêu gọi đồng bào vì tương lai của đất nước mà nên dùng thứ chữ tiện lợi ấy. Những tài liệu văn hoá bằng chữ quốc ngữ do phong trào này phát hành đã được phổ biến khá rộng. Mặt khác, sự tiếp xúc với tiếng Pháp, với nền văn hoá Pháp đã dẫn đến sự hình thành nền báo chí Việt Nam bằng chữ quốc ngữ, nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sự đổi mới trong thơ ca, những tiếp thu về từ vựng, ngữ pháp.<br /><br />Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa lại “địa vị ngôn ngữ chính thức của quốc gia” cho tiếng Việt. Từ đó, tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng, toàn diện, có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam.<br /><br />Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn căn cứ vào tình thế ngôn ngữ, tức là thế tương quan giữa các ngôn ngữ, văn tự có sự tiếp xúc với nhau đã phân kì lịch sử phát triển của tiếng Việt như sau(5):<br /><br />A, Giai đoạn proto Việt (tiền Việt) - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Hán (khẩu ngữ của lãnh đạo) và tiếng Việt.<br />- Có 1 kiểu văn tự: chữ Hán Vào khoảng các thế kỉ VIII, IX <br />B, Giai đoạn tiếng Việt tiền cổ (cổ xưa) - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt (khẩu ngữ của lãnh đạo) và văn ngôn Hán<br />- Có 1 kiểu văn tự: chữ Hán Vào khoảng các thế kỉ X, XI, XII <br />C, Giai đoạn tiếng Việt cổ - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán<br />- Có 2 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm Vào khoảng các thế kỉ XIII, XIV, XV, XVI <br />D, Giai đoạn tiếng Việt trung đại - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán<br />- Có 3 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm và chữ quốc ngữ Vào khoảng các thế kỉ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX <br />E, Giai đoạn tiếng Việt cận đại - Có 3 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Việt và văn ngôn Hán<br />- Có 4 văn tự: Pháp, Hán, Nôm và chữ quốc ngữ Vào thời gian Pháp thuộc <br />G, Giai đoạn tiếng Việt hiện nay - Có 1 ngôn ngữ: tiếng Việt<br />- Có 1 văn tự: chữ quốc ngữ Từ năm 1945 trở đi <br /><br />__________<br /><br />(1) Có thể liên hệ với truyền thuyết về họ Hồng Bàng, về chuyện 50 người con theo mẹ ở lại vùng núi lập nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu và bức tranh về đời sống săn bắt, hái lượm của cư dân miền núi hồi đó.<br /><br />(2) Việc di cư này gắn liền với việc chuyển sang canh tác lúa nước. Nó được phản ánh trong sử sách qua việc Văn Lang trở thành Âu Lạc, quan việc Phong Châu nhường bước cho Cổ Loa.<br /><br />(3) Cư dân nói tiếng Việt ở vùng châu thổ sông Hồng còn được gọi là người Kinh. Kinh là một từ xưa kia vốn được dùng để gọi người Hán ở Kinh kì (Dẫn theo: Chu Xuân Diên. Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2002).<br /><br /><b>Mặt khác:</b><br />Nửa đầu thế kỉ XIX trở về trước, những quan sát, nghiên cứu về tiếng Việt còn rất sơ sài. Điều này có nguyên nhân khách quan của nó.<br /><br />Trước hết, vì chức năng xã hội của tiếng Việt thời cổ trung đại còn hạn chế nên nhu cầu phải nghiên cứu nó không cao.<br /><br />Thứ hai, muốn nghiên cứu tiếng Việt phải có phương tiện là chữ viết phát triển nhưng trong khi đó, cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ thời kì này đều có những hạn chế nhất định. Ở Việt Nam, không mấy người có đủ trình độ tiếng Hán để có thể dùng chữ Hán để ghi lại những quan sát của mình về tiếng Việt. Những người có thể lưu bút cho đời như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm thì thật là hiếm. Chính người Trung Quốc đã dùng chữ Hán để phiên âm tiếng Việt và làm ra cuốn từ điển đối chiếu đầu tiên là An Nam dịch ngữ(1). Còn về chữ Nôm thì, ông cha ta chỉ có thể gửi gắm những quan sát, suy nghĩ của mình về tiếng Việt qua sự cấu tạo của chữ Nôm, chứ bản thân chữ Nôm chưa thể trở thành phương tiện để miêu tả các phương diện của tiếng Việt, mặc dù nó đã góp phần hình thành nên một loạt từ điển đối chiếu Hán–Việt các loại (chi tiết xem chương II của cuốn sách này). Chữ quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ XVII, nhưng chỉ bó hẹp trong phạm vi đạo Thiên Chúa mà triều đình phong kiến Việt Nam, cả ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, lại thi hành chính sách cấm đạo nên chữ quốc ngữ không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.<br /><br />Thứ ba, Việt Nam và Trung Quốc là những nước đồng văn mà truyền thống ngôn ngữ học Trung Hoa chỉ xoay quanh âm vận học, huấn hỗ học, tự thư học cho nên cái phông lí thuyết để miêu tả tiếng Việt thời kì này cũng chỉ xoay quanh âm, chữ và nghĩa mà thôi. Lê Quý Đôn (một nhà bác học của Việt Nam thế kỉ XVIII) đã đóng góp cho lịch sử văn hoá nước nhà trên nhiều mặt như triết học, lịch sử, văn học,... Những suy nghĩ, quan sát của ông về ngôn ngữ cũng rất phong phú, giá trị, nhưng dẫu sao vẫn chưa vượt qua được cái phông chung của thời đại.<br /><br />Tuy nhiên, trong thời cổ trung đại đã có những công trình về ngữ pháp và tiếng Việt mang tinh thần khoa học của phương Tây. Đó là Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh và Từ điển Việt–Bồ–La của Alexandre de Rhodes, Từ điển Việt–La của Pigneaux de Béhaine, Nam Việt Dương Hiệp tự vị của Taberd. Nhưng vì những tác phẩm này không được in ở Việt Nam nên tác động của chúng đối với người Việt rất hạn chế. Mặc dù sự tác động của nhân tố bên ngoài là cần thiết và quan trọng nhưng Việt ngữ học chỉ có thể phát triển mạnh mẽ và vững chắc nhờ vào nội lực của mình. Đó là điều mà chúng ta có thể chứng kiến ở giai đoạn cận hiện đại.<br /><br />(nguồn: ngonngu.net)<br />Thân! <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/happy.gif" style="vertical-align:middle" emoid="^_^" border="0" alt="happy.gif" /><!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Chào mọi thành viên<br /><br />Tiếng Việt mình có từ hồi dân mình...biết nói. Nếu ý bạn Ze muốn nói về sự thay đổi tiếng Việt qua thời gian thì khó mà tìm thấy được gốc rễ nằm ở đâu. Vì một nhẽ, bất cứ ngôn ngữ nào cũng đều liên tục cập nhật và thay đổi, cho nên Tiếng Việt cũng vậy, không nằm ngoài cái xu thế đó. Ngôn ngữ cũng như lịch sử có đấu tranh, hội nhập và đào thải. Ví dụ cho dễ hiểu: Nếu bạn đem ngôn ngữ 9x đem nói với mấy ông bà già 1x, 2x...thì mấy ông bà đó có khi tưởng 9x chúng mình đến từ sao Hoả.<br /><br />Thân ái
ngphk
27-05-2012, 08:37 AM
<!--quoteo(post=32481:date=30/03/2009 - 04:56 AM:name=BẠCH VƯƠNG)--><div class='quotetop'>QUOTE(BẠCH VƯƠNG @ 30/03/2009 - 04:56 AM) <a href="index.php?act=findpost&pid=32481"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->Chào mọi thành viên<br /><br />Tiếng Việt mình có từ hồi dân mình...biết nói. Nếu ý bạn Ze muốn nói về sự thay đổi tiếng Việt qua thời gian thì khó mà tìm thấy được gốc rễ nằm ở đâu. Vì một nhẽ, bất cứ ngôn ngữ nào cũng đều liên tục cập nhật và thay đổi, cho nên Tiếng Việt cũng vậy, không nằm ngoài cái xu thế đó. Ngôn ngữ cũng như lịch sử có đấu tranh, hội nhập và đào thải. Ví dụ cho dễ hiểu: Nếu bạn đem ngôn ngữ 9x đem nói với mấy ông bà già 1x, 2x...thì mấy ông bà đó có khi tưởng 9x chúng mình đến từ sao Hoả.<br /><br />Thân ái<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br />Nói với bạn điều này nhé, cái mình nói đến là những gì đã qua nghiên cứu của mấy nhà ngôn ngữ học, nhằm giúp ta có cái nhìn cơ sở về Tiếng Việt - ngôn ngữ đại diện cho Việt Nam, cái bạn nói:"Vì một nhẽ, bất cứ ngôn ngữ nào cũng đều liên tục cập nhật và thay đổi, cho nên Tiếng Việt cũng vậy, không nằm ngoài cái xu thế đó. Ngôn ngữ cũng như lịch sử có đấu tranh, hội nhập và đào thải.Ví dụ cho dễ hiểu: Nếu bạn đem ngôn ngữ 9x đem nói với mấy ông bà già 1x, 2x...thì mấy ông bà đó có khi tưởng 9x chúng mình đến từ sao Hoả." Bạn đang đi nhầm đường rồi, hãy nhớ là tiếng Việt là cái được ghi trong từ điển Tiếng Việt và như đã nói: gòm chữ viết và ngôn từ(tiếng nói), cái bạn nói về ngôn ngữ 9x chỉ dành cho 1 bộ phận 9x thôi bạn àh, không phải là tất cả. Hãy nhìn ở gôc độ tiếng Việt dùng trên văn bản phổ thông(sách báo, văn bản hành chính...), đừng nhìn theo bề hẹp là 9x, bởi cùng là dân tộc Việt Nam cũng có đến 54 dân tộc anh em, mỗi địa phương lại có tiếng lóng của mình,nói theo cách của bạn thì nói đến bao h đây. <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/wink.gif" style="vertical-align:middle" emoid=";)" border="0" alt="wink.gif" /> <br />Thân!
giangthanh
27-05-2012, 08:37 AM
<!--quoteo(post=30056:date=11/03/2009 - 06:45 PM:name=tucoi)--><div class='quotetop'>QUOTE(tucoi @ 11/03/2009 - 06:45 PM) <a href="index.php?act=findpost&pid=30056"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->Các bác cho em hỏi : Qua hơn 1000 năm Bắc thuộc sử dụng tiếng Hoa, sau đó là tiếng Nôm ( đều là tượng hình ) , vậy tiếng Việt A,B,C ... mình đang nói có từ bao giờ, ai là người mang nó vào Việt Nam ?<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Như vậy, ban tucoi muốn hỏi chữ Quốc ngữ có từ khi nào chứ gì? Vậy thì phải coi lại các công trình nghiên cứu về chữ quốc ngữ. Có nhiều giải thiết và phần lớn nghiên về phía ông cha đạo Đắc Lộ là người đầu tiên viết các công trình về chữ quốc ngữ. Coi như là sáng tạo ra chữ quốc ngữ khoảng cuối thế kỉ 18 đầu 19. Nhưng gần đây lại có một giả thiết là công trình của cha Đắc Lộ (A lếch xăng Đờ Rốt) là sử dụng lại cấu trúc của một ông cha đạo khác người Tây Ban Nha. Về điều này bạn có thể đọc rõ trong cuốn "Hội An Di sản thế giới" phần Cái nôi của chữ Quốc Ngữ.<br /><br />@ bạn Zero: Bài viết của bạn rất là đầy đủ ý tứ, dẫn chứng sâu sát. Nhưng theo HT thấy hình như nếu phân tích thực tế ra thì hình như trả lời hơi chệch mục tiêu. Mặc dù,người hỏi sử dụng câu chữ cũng hơi rối một tẹo.<br /><br />Thân ái
psmvn
27-05-2012, 08:37 AM
<!--quoteo(post=30056:date=11/03/2009 - 06:45 PM:name=tucoi)--><div class='quotetop'>QUOTE(tucoi @ 11/03/2009 - 06:45 PM) <a href="index.php?act=findpost&pid=30056"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->Các bác cho em hỏi : Qua hơn 1000 năm Bắc thuộc sử dụng tiếng Hoa, sau đó là tiếng Nôm ( đều là tượng hình ) , vậy tiếng Việt A,B,C ... mình đang nói có từ bao giờ, ai là người mang nó vào Việt Nam ?<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Chữ "TIẾNG" ở trên được nói nhiều, nhưng dùng không đúng chỗ, nghe chói tai quá. Nhờ vài cái mở ngoặc mà mới hiểu được "ý đồ" của tác giả.<br /><br />-----------------------------------------------------------<br /><br /><i>Qua</i> có "nhặt" được một bài viết trên internet khá "độc", chả biết đúng sai nhưng cũng trưng ra đây cho bà con thưởng lãm. Rằng âm "V" là do Pháp áp đặt chứ người <b>V</b>iệt ta trước đây chả có !<br /><br />Tác giả nêu rằng âm "ngọn" của V là D ("Dờ" chứ không phải "Đờ" à nghen), và có dẫn lại mấy tài liệu chữ Quốc ngữ thời trước khi có "V" (Ý <i>qua</i> rằng thời V là thời <i>người Pháp viết chữ Việt</i>, còn trước đó là thời mà <i>người Bồ viết chữ Việt</i>). Cùng đó là vài nhận định khác để minh chứng; trong đó có hai ý :<br /><br />1 - Âm nguyên thủy của <b>V</b>iệt là <b>D</b>iệt ! (Y hệt cái giọng phát âm <u>sai </u>của bà con xứ Nam kỳ)<br /><br />2 - Bà con xứ Bắc Kỳ mau mắn lấy đó làm chuẩn để rồi từ đó âm V được xem là <u>đúng</u>.<br /><br /><i>Qua</i> chả dám bàn sâu hay tranh cãi vô cái nội dung này. Chỉ thử "test" theo một số quan điểm cá nhân mà <i>qua</i> có được (do "nhặt nhạnh"), rằng :<br /><br />Theo lời bà Nguyễn Thị Hậu (có học vị Tiến sĩ ngành khảo cổ học, nay đang công tác ở viện KHXH tpHMC) rằng :<br /><br />1- Văn hóa "nguyên thủy" đôi lúc được gìn giữ toàn vẹn hơn khi được "đem" đi xa nơi chôn nhau cắt rốn. Ở nơi xa, chưa chắc lá mất gốc, là lai căng. Ở nhà chưa chắc là gốc, là nguyên thủy.<br />2- Bản sắc văn hóa của người ở nhà thường dễ "lai căn" hơn người xa xứ.<br /><br />Vài ví dụ :<br /><br />1- Nét tương đồng trong văn hóa ẩm thực giữa người Huế với người Mường được nêu ra trong bối cảnh nguồn gốc của hai cộng đồng Việt - Mường khi chưa tách bạch thuở hàng trăm năm trước !<br />2 - So sánh sự lai căng và sự bảo tồn văn hóa truyền thống giữa người Việt trong quốc nội với Việt kiều ở hải ngoại.<br />3 - Theo lời ông Trần Quốc Vượng rằng bánh chưng cổ truyền là có hình tròn như bánh tét ở miền Nam. Còn kiểu giải thích "trời tròn - đất vuông" là do bị lai căng lối tư duy bị đồng hóa theo Tàu (cái này mà áp dụng theo thuyết của ông Kim Định, ông Trần Ngọc Thêm rằng thuyết Âm Dương có nguồn gốc từ Bách Việt thì quả là OK : cái cặp bánh đó là tượng trưng cho âm dương !)<br />4- Cái chả giò giòn tan mà khi du khách khắp nơi đến xứ Bắc Kỳ đều được thưởng thức liệu có phải là cổ truyền từ xưa nay từ đất Bắc Hà hay là do du nhập từ "nem Sì Goòng" trong đất Nam Hà mà ra ?<br />V.v...<br /><br />Nếu theo "luồng" tư tưởng đó, rằng dân Bắc kỳ do nhanh bị lai căng nên theo thói lỡm đời mà mau mau sử dụng cái âm V để cho "tiến bộ" với người ta, để rồi từ đó, theo "quan niệm truyền thống" rằng cứ hễ Bắc là truyền thống, cho nên V được nghiễm nhiên là Chuẩn, là Đúng.<br />Và dân Nam kỳ do xa nhà, muốn giữ lại chút gì đó cho quê hương, nguồn cội mà cứ ý thinh D mà dùng (giống như hình dạng bánh tét cứ y thinh ông bà dạy sao mà làm vậy). Nhưng do Nam kỳ là xứ xa, nên không có truyền thống, không chuẩn.<br /><br />Ý <i>qua</i> là vậy, còn bà con cô bác thì sao ?<br /><br />--------------------------------------------------------<br /><br /><!--coloro:#0000FF--><span style="color:#0000FF"><!--/coloro-->Hôm qua, <i>qua</i> nói <i>qua</i> qua nhưng dì bận quá nên <i>qua</i> không thể qua, bỏ quá cho <i>qua</i> !<!--colorc--></span><!--/colorc-->
nhodt
27-05-2012, 08:37 AM
Thía cuối cùng Tiếng Việt có từ khi có người Việt phải không các bác??? <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/tongue.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":P" border="0" alt="tongue.gif" />
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.