minhkhago
27-05-2012, 08:39 AM
<div align='center'><b>Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947</b></div><br /><br /><b>Vị trí của Việt Bắc</b><br /><br />Việt Bắc là một liên khu nằm ở phía bắc của Bắc Bộ, bao gồm 17 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên) Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Quảng Yên, Hải Ninh, Tuyên Quang và châu Mai Đà). Địa hình chủ yếu là rừng núi, một phần trung du. Rừng núi Việt Bắc trùng điệp, địa hình hiểm trở. Đường bộ và đường thuỷ ít và độc đạo. Phía đông bắc có đường số 4 chạy dọc theo biên giới Việt - Trung từ Móng Cái đến Cao Bằng. Đường số 3 từ Hà Nội chạy lên giữa lòng Chiến khu Việt Bắc, đi Thái Nguyên, lên Bắc Cạn và tới Cao Bằng. Đường số 2 từ Hà Nội lên Việt Trì, Phú Thọ, tới Tuyên Quang, Hà Giang. Đường thuỷ dọc sông Hồng lên ngã ba Việt Trì, rẽ theo sông Lô lên Tuyên Quang, rẽ theo sông Gâm tới Chiêm Hoá. Khí hậu Việt Bắc khắc nghiệt, mùa đông lạnh giá, mùa hè nắng nóng mưa nhiều, khi mưa hàng trăm con suối và sông nước lũ cuồn cuộn, cản trở cho việc chuyển quân của cả hai bên. Dân cư Việt Bắc gồm nhiều dân tộc ít người, sống thưa thớt, canh tác tự cung tự cấp, nghèo, nhưng vốn có truyền thống yêu nước, được giác ngộ một lòng đi theo cách mạng, ủng hộ kháng chiến.<br /><br />Do Việt Bắc có địa thế hiểm trở, hạn chế được địch cả về cơ động và tầm quan sát, cả khả năng triển khai lực lượng lớn và phương tiện chiến đấu hiện đại khi tiến công tiến hành tác chiến lớn phải theo mùa... nên ngay từ tháng 8 năm 1945, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Nguyễn Lương Bằng ở lại Tân Trào một thời gian trực tiếp chỉ đạo củng cố khu căn cứ của Trung ương. Đến cuối tháng 10 năm 1946 (trước ngày toàn quốc kháng chiến), thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Lương Bằng từ Hà Nội trở lại Việt Bắc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến. Các huyện Chợ Đồn (Bắc Cạn), Chiêm Hoá, Sơn Dương (Tuyên Quang), Định Hoá, Đại Từ (Thái Nguyên), được chọn làm An toàn khu (ATK). Bắt đầu từ tháng 11 năm 1946, để bảo toàn lực lượng, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính Phủ, Mặt trận, Bộ Tổng chỉ huy lần lượt rời Hà Nội lên Việt Bắc để lãnh đạo, tổ chức kháng chiến lâu dài. Các binh công xưởng, xí nghiệp, nhà máy, gần 63 nghìn đồng bào miền xuôi và hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu được vận chuyển, sơ tán lên Việt Bắc để quân và dân ta vừa sản xuất vừa tiếp tục chiến đấu. <br /><br /><b>1. Hoàn cảnh<br /><br />*) Về phái Pháp </b><br /><br />Cuộc chiến đấu trong các đô thị đã bước đầu làm phá sản âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp, làm cho quân Pháp hoàn toàn bất ngờ. Trong khi đó bên chính quốc, Pháp gặp không ít khó khăn về chính trị, kinh tế xã hội đối với cuộc chiến tranh Đông Dương. Locolec tuyên bố : “ Nếu nước Pháp không muốn những biến cố tác động tai hại đến phần còn lại của liên hiệp Pháp thì phải dứt điểm trong những thời cơ thuận lợi.<br /><br />Tháng 3 – 1947, chính phủ Pháp cử Bôlae làm Cao ủy Pháp thay cho Đácgiăngliơ. Nhận rõ vị trí chiến lược của Việt Bắc, tướng Va-luy - Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương đã giao cho tướng Xa-lăng - Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Đông Dương ráo riết chuẩn bị “Kế hoạch tiến công Việt Bắc”. Tháng 7 năm 1947, Chính phủ Pháp đã thông qua kế hoạch này. <br /><br />Lực lượng tham gia tiến công trên 10 nghìn quân, gồm: năm trung đoàn bộ binh1, ba tiểu đoàn dù, hai tiểu đoàn pháo binh, hai tiểu đoàn công binh, ba đại đội cơ giới2, hai phi đội với 40 máy bay, ba thuỷ đội xung kích với 40 tàu, xuồng. <br /><br />Kế hoạch tiến công, địch dự kiến chia thành hai bước:<br /><br /><b>Bước 1:</b> Mang mật danh LEA. Mục tiêu đánh chiếm là khu tam giác Bắc Cạn - Chợ Đồn - Chợ Mới. Cụ thể, ngày 7 tháng 10 năm 1947 quân dù sẽ đồng loạt đổ bộ đánh đòn vu hồi, tập hậu hiểm hóc vào hậu phương của ta một cách bất ngờ, sẽ chiếm Bắc Cạn, Chợ Mới. Ngày 8, nhảy dù tiếp, chiếm Chợ Đồn và càn quét vùng xung quanh. Ngày 9, hai cánh quân dù này gặp nhau ở bản Pei (cách thị xã Bắc Cạn 20 km về phía bắc) hòng “bắt gọn chính phủ kháng chiến”.Pháp đã cho rằng Việt Bắc chính là thủ đô mới của ta. <br /><br />Cùng lúc này hình thành hai mũi như hai gọng kìm bao vây toàn bộ khu căn cứ địa Việt Bắc bao gồm năm tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Hai mũi sẽ tiến công từ hai hướng: <br /><br />Hướng đông (dài 420km), lực lượng do Bopholo chỉ huy gồm cơ giới và bộ binh sẽ thọc một mũi nhọn theo quốc lộ số 4 từ Lạng Sơn lên Cao Bằng; vừa hành quân càn quét vừa triển khai chiếm đóng cứ điểm dọc trục lộ, thực hiện phong toả vùng biên giới này. Sau đó, từ Cao Bằng, một bộ phận sẽ tiến xuống Bắc Cạn phối hợp và hỗ trợ binh đoàn dù, hình thành gọng kìm thứ nhất kẹp chặt toàn bộ mặt phía đông của Việt Bắc. <br /><br />Hướng tây, lực lượng do Commuynan chỉ huy gồm quân thuỷ và bộ từ Hà Nội lên Việt Trì, phát triển lên Tuyên Quang, Chiêm Hoá theo sông Hồng, sông Lô, sông Gâm và quốc lộ số 2, hình thành gọng kìm thứ hai (dài 250 km). <br /><br />Bộ chỉ huy Pháp dự kiến: Ngày 11 tháng 10 hoàn thành việc phòng thủ Chợ Mới, sau đó sẽ tiến hành càn quét và tuần tiễu trên đường số 3 và đường Chợ Mới - phố Bình Gia. Ngày 12, cánh đông sẽ tiến xuống Bắc Cạn. Ngày 13 tháng 10, hai gọng kìm sẽ hội quân ở Đài Thị (đông bắc Chiêm Hoá 12 km). <br /><br /><b>Bước 2:</b> Mang mật danh “Xanh-tuya” , tức “siết chặt vành đai”. Quân địch sẽ tập trung càn quét khu tam giác: Bắc Cạn - Chợ Chu - Chợ Mới, lấy vùng Chợ Chu làm mục tiêu trọng điểm. Ngày 14 tháng 10, dùng nhiều hướng, mũi: quân bộ từ Bắc Cạn xuống, từ Chợ Mới đánh sang, phối hợp với quân dừ nhảy thẳng xuống Chợ Chu. Một đơn vị dù khác đổ bộ xuống phía nam huyện ly Định Hoá nhằm khóa, chặn đường giao thông huyết mạch của kháng chiến Chợ Chu - Thái Nguyên, đây là vùng thủ đô kháng chiến, của ta. <br /><br />Như vậy, không gian của cuộc hành quân trải rộng trên địa bàn tám tỉnh, nhưng chúng sẽ tập trung quân càn quét vào khu tứ giác: Tuyên Quang - Đài Thị - Bắc Cạn - Thái Nguyên (khoảng 360 km2), trọng điểm đánh phá, càn quét là tam giác: Bắc Cạn - Chợ Chu - Chợ Mới. Cùng với lực lượng tham chiến chính thức kể trên, các tiểu đoàn dù do Phăng-xoa chỉ huy, tập kết ở sân bay, sẵn sàng đổ bộ xuống nơi phát hiện có cơ quan đầu não kháng chiến. <br /><br />Pháp chủ trương tập trung sức mạnh tối đa, tiến công chớp nhoáng với chiến thuật hợp đồng thuỷ - lục - không quân càn quét mạnh từng khu vực, lấn chiếm dần để dồn kẹp ta lại mà bao vây tiêu diệt; nhằm “4 mục tiêu chiến lược” của cuộc tiến công là: “Diệt và bắt cơ quan đầu não của Việt Minh, tìm diệt chủ lực, phá tan căn cứ địa Việt Bắc, bịt kín, khóa chặt biên giới Việt - Trung, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với Trung Quốc và loại trừ mọi chi viện từ bên ngoài vào. Truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ...”. <br /><br />Bộ chỉ huy Pháp dự kiến cho cuộc hành quân là ba tháng và xem đây là một kế hoạch hoàn hảo, có khả năng đi đến kết thúc chiến tranh. Tướng Va-luy khẳng định sẽ “chơi ván bài cuối cùng”. Tướng Xa-lăng, tác giả của “kế hoạch tiến công Việt bắc” thì cam đoan “Chỉ cần ba tuần lễ để đập tan đầu não của Việt Minh”. <br /><br /><b>Đây là kế hoạch hành quân táo bạo và liều lĩnh và đã có những nhận định sai lầm :</b><br /><br />Va-luy đã lầm lẫn lớn khi cho rằng thị xã nhỏ bé Bắc Cạn trở thành “Thủ đô mới” của Việt Minh. Va-luy không hề biết rằng, trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, không khi nào có cơ quan Trung ương của ta ở tại một thị xã, thị trấn. Mà tất cả đã chia thành những bộ phận nhỏ, thường xuyên di chuyển, hòa vào với nhân dân, được sự che chở của nhân dân, khiến địch rất khó phát hiện. Phân tán và cơ động nhưng các cơ quan trung ương vẫn duy trì mọi hoạt động lãnh đạo và điều hành cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước<br /><br />Cả hai cánh quân thủy và bộ muốn hồi quân ở Đại Thị phải hành quân tren 100Km. Quân Pháp sẽ lúng túng và không giả quyết được mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán nếu tập trung quân thì không càn quyets được, nếu phân tán thì sx bị tiêu diệt.<br /><br />Hành quân trên địa bàn rừng núi không phải là sở trường của lính Pháp. Đó chưa kể họ không thể thực hiện ưu thế về mặt binh lực, các phương tiện chiến tranh hiện đại không có ưu thế dương oai.<br />Xa – Lăng đã lầm lẫn trong việc đánh giá hậu cần, theo kinh nghiệm trước cách mạng tháng tám tin tưởng vào khả năng hậu cần tại chỗ. Thế nhưng lên Việt Bắc quân Pháp chỉ gặp những bản làng sơ xác, bởi sau cách mạng nhận thức của người dân tộc đã được nâng cao. Họ tin tưởng và đi theo chính phủ cụ Hồ thực hiện kế hoạch vườn không nhà trống.<br /><br />Mặt khác tính chất bất ngờ, bảo mật của kế hoạch không còn. Khi máy bay của Pháp bị ta bắn rơi ở Tuyên Quang trong đó có bản Kế hoạch LEA và bản kế hoạch đó đã nhanh chóng được chuyển đến cho tướng Giáp.<br /><br /><b>*) Chủ trương của ta trong Thu Đông 1947</b><br /><br />Khi quân Pháp tấn công lên Việt Bắc quân đội ta đã hết sức lúng túng. Ta rất bất ngờ và không nghĩ rằng Pháp sẽ tấn công lên Việt Bắc. Theo phân tích của Bộ chính trị thì Tây nguyên và Bình Trị Thiên mới là chiến trường chủ yếu, liều lĩnh lắm quân Pháp mới lên Việt Bắc.<br /><br />Thực tế thời gian đầu ta đã chị những tổn thất nhất định. Đặc biệt khi Pháp nhảy dù xuống Thái Nguyên và Bắc Cạn. Tuy nhiên ngay sau khi biết được kế hoạch hành binh của Pháp ta đã chủ đông đối phó.<br /><br />Sau khi cuộc tiến công của địch bắt đầu với cuộc nhảy dù xuống Bắc Kạn (7-10-1947) và các cánh quân lớn của địch xuất hiện trên đường số 4 và trên sông Lô, ngày 14-10-1947, Thường vụ Trung ương Đảng họp, có Bác Hồ dự. Sau khi nghe báo cáo về âm mưu của địch và kiến nghị của Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, Tổng bí thư Trường Chinh trình bày dự thảo chỉ thị của Thường vụ: “Phải phá cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”.<br /><br />Ngày 15-10-1947, chỉ thị được công bố. Bản chỉ thị chỉ rõ: “Địch yếu phải mạo hiểm”… “Cuộc tấn công này chỉ ào ạt lúc đầu”… .<br /><br />Nhiệm vụ của quân và dân Việt Bắc và cả nước là “làm cho địch thiệt hại nặng để không gượng lại được sau chiến dịch mùa đông này”… “bắt địch chuyển sang thế thủ” .<br /><br />Cùng ngày 15, Bộ Tổng chỉ huy ra Huấn lệnh ĐB/101 nêu những nguyên tắc mới về tổ chức bộ đội và bố trí lực lượng, về nhiệm vụ của các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung.<br /><br />Cũng trong ngày 15, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi quân và dân Việt Bắc ra sức đánh bại cuộc hành binh của địch, quân dân cả nước tích cực đánh địch để phối hợp với Việt Nam. Bác Hồ viết: “Địch hội quân ở Bắc Kạn tạo thành cái ô bọc lấy Việt Bắc, rồi cụp ô xuống, dưới đánh lên, trên đánh xuống, phá cho được cơ quan đầu não của kháng chiến… Chúng mạnh ở hai gọng kìm, gọng kìm mà gãy, thì cái ô cụp xuống sẽ thành ô rách và cuộc tiến công thất bại” .<br /><br /><b>Chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thu Đông 1947 thật là dũng cảm và sáng suốt:</b><br /><br /><b>- Thứ nhất:</b> Đánh giá đúng kẻ địch: Theo kinh nghiệm của ông cha ta, khi giặc tới ào ào như nước, như lửa thì không đáng sợ.<br /><br />Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Cuộc tiến công lần này của Pháp chứng tỏ địch không mạnh mà vì yếu nên phải mạo hiểm” .<br /><br /><b>- Thứ hai: </b>Quyết tâm đánh thắng địch: Bác Hồ kêu gọi quân và dân Việt Bắc, quân và dân cả nước ra sức đánh thắng cuộc hành binh của địch. Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: “Phải phá cuộc tiến công mùa Đông của giặc Pháp”.<br /><br /><b>- Thứ ba:</b> Có phương pháp đánh địch đúng: “Địch chỉ tiến công ồ ạt lúc đầu. Nếu ta thực hiện đánh địch khắp nơi, buộc chúng phải dàn mỏng lực lượng đối phó, chúng sẽ thất bại. Giữ gìn được chủ lực qua mùa Đông này là coi như thắng lợi. Nếu chuyến này chúng không thắng nhanh để kết thúc chiến tranh thì cục diện sẽ đổi mới có lợi cho ta” .<br /><br />Thường vụ nhất trí thực hiện ngay công thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” tổ chức ba mặt trận, cơ quan lãnh đạo ở lại khu căn cứ .<br /><br /><b>- Thứ tư:</b> Trong lời kêu gọi của Bác, có một nhận định rất quan trọng và một lời tiên đoán tài tình: “Chúng mạnh ở hai gọng kìm. Gọng kìm mà gẫy thì cái ô cụp xuống sẽ thành ô rách và cuộc tiến công thất bại”. Lời tiên đoán này sẽ thành sự thực với chiến thắng Sông Lô.<br /><br /><b>2. Diễn biến <br /> </b><br /><br /><br /><div align='center'><img src="http://diepdoan.violet.vn/uploads/resources/blog/447/luoc_do_chien_dich_viet_bac_thu_-_dong_1947_500.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><br /><br /><div align='center'>Lược đồ chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947</div><br /><br />Thực hiện theo kế hoạch LEA, 7 – 10 – 1947, thực dân Pháp đã huy động lực lượng mở cuộc hành quân lên Việt Bắc , chia làm 3 cánh tấn công:<br /><br />Ngày 7- 10 – 1947, binh đoàn quân dù do Xôvanhắc chỉ huy, lần lượt đổ quân xuống thị xã Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn. Tại đây chúng bắt được cụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố, chúng lại nhầm tưởng là bắt được chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi biết là nhầm chúng đxa sát hại cụ Tố một cách dã man.<br /><br />Cùng ngày, binh đoàn cơ giới do Bôphơrê chỉ huy, từ Lạng Sơn ngược đường số 4 lên Na Sầm, Thất Khê, đánh lên Cao Bằng rồi vòng xuống Bắc Cạn.<br /><br />Ngày 9 – 10, một binh đoàn hỗn hợp bộ binh và lính thủy đánh bộ do Commuynan chỉ huy, từ Hà Nội ngược sông Hồng và sông Lô lên Tuyên Quang, Chiêm Hóa để đánh vào Đài Thị.<br /><br />Ngày 15 – 10 – 1947 Ban thường vụ trung ương Đảng ra chỉ thị : Phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp.<br /><br />Sau khi nghiên cứu thế và lực của ta trên chiến trường, Bộ tổng chỉ huy quyết định tập trung lực lượng đánh địch trên ba mặt trận: <br /><br /><br /><b>*) Mặt trận Sông Lô - Chiêm Hóa </b><br /><br />Địa hình hiểm trở của Sông Lô rất thuận lợi cho việc đắp kè ngăn sông và phục kích bằng pháo binh. Tuy nhiên, khi binh đoàn Com-muy-nan hùng hổ ngược dòng Lô, pháo binh ta đã nhiều lần pháo kích chặn bước tiến của đoàn tàu địch Phan Dư (11-10), Đoan Hùng (12-10), nhưng chưa đạt được kết quả bắn chìm tàu. Quân Pháp càng chủ quan nghênh ngang ngược dòng Lô. Đến địa đầu Tuyên Quang thì chúng bị trừng trị. Tại Bình Ca, ngày 12-10 tiểu đoàn 42 chủ lực của Bộ dùng ba-dô-ca do quân giới Việt Nam sản xuất bắn chìm một tàu LCVP. Đây là chiến công đầu tiên trên Sông Lô. Tiếp đó tiểu đoàn đánh bại cuộc tiến công đổ bộ của địch lên bến Bình Ca.<br /><br />- Pháo binh khu 10 rút kinh nghiệm các lần bắn trượt đã tìm ra một cách đánh sáng tạo, hiệu quả: “đặt gần, bắn thẳng, ngắm qua nòng”, lập nên những chiến công mới xuất sắc: Khoan Bộ (23-10), Đoan Hùng (24-10). Báo chí và đài phát thanh Pháp gọi đây là “Thảm họa Đoan Hùng”. Pháo binh ta đã bắn chìm hai tàu chiến địch, bắn trọng thương hai tàu khác. Gọng kìm đường thủy của địch bị chặt đứt 10 ngày, địch phải thả dù tiếp tế cho quân của chúng ở Tuyên Quang và Chiêm Hóa.<br /><br />- Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp ra lệnh đưa pháo lên đánh địch trên sông Gâm, bức địch rút khỏi Chiêm Hóa. Nơi đây dòng sông hẹp, nước sâu chảy xiết. Trung đội sơn pháo vừa chiến thắng ở Đoan Hùng lên bố trí phục kích ở ngã ba sông Gâm-sông Lô, nơi có lau sậy rậm rạp, trận đánh được đặt tên là trận Khe Lau.<br /><br />- Ngày 10-11, với 10 viên đạn, pháo binh ta bắn đắm 4 trong số 5 tàu địch trên đường từ Chiêm Hóa về Tuyên Quang, diệt hơn 100 tên địch, thu nhiều chiến lợi phẩm, trong đó có 2 lựu pháo 105mm.<br /><br />- Ngày 19-11, công an và tự vệ thị xã Tuyên Quang đánh địa lôi diệt trên 100 địch tại ki-lô-mét số 7 đường Hà Tuyên. Địch gọi “Tuyên Quang là một nghĩa địa khổng lồ”. Một tiểu đoàn quân Pháp đang tiến lên về phía Chiêm Hóa buộc phải quay trở lại.<br /><br />- Ngày 21-11, binh đoàn Com-muy-nan phải rút khỏi Tuyên Quang. Cuộc hợp vây của hai gọng kìm tại Đài Thị đã không diễn ra như địch dự kiến. Mặt trận sông Lô đã thực hiện xuất sắc lời kêu gọi của Bác Hồ, bẻ gãy gọng kìm phía tây của cuộc hành binh của địch.<br /><b><br /> *) Mặt trận đường số 4 :</b><br /><br /> Đoạn đường số 4 từ Lạng Sơn lên Cao Bằng uốn khúc giữa núi cao rừng rậm, rất thuận lợi cho ta phát huy cách đánh phục kích. Với việc đánh chiếm Cao Bằng và Bắc Kạn, đường số 4 đã trở thành con đường huyết mạch của địch, không phải chỉ trong thời gian chiến dịch mà còn lâu dài suốt quá trình địch còn chiếm đóng vùng biên giới Đông bắc nước ta.Quân ta đã đánh nhiều trận phục kích, đặc biệt là trận Bông Lau ngày 30 – 10 – 1947, phá hủy nhiều xe của giặc, diệt nhiều địch và thu nhiều vũ khí.<br /><br /><b>*) Mặt trận đường số 3: </b><br /><br />Quân ta đánh phục kích, tập kích , địa loi trên 20 trận lớn nhỏ như ở Chợ Mới, Chợ Đồn...<br /><br /><b>Các gọi kìm của địch bị bẻ gãy</b><br /><br /><b>Các chiến trường toàn quốc chiến đấu phối hợp với Việt Bắc.</b><br /><br />Phối hợp với cuộc chiên đấu ở Việt Bắc, quân ân ta trên các chiến trường toàn quốc hoạt động mạnh, kiềm chế, không cho địch tập trung lớn binh lực vào chiến trường chính.<br /><br />Ở Hà Nội quân dân ta liên tiếp mở những cuộc tập kích vào các đồn bốt địch ở ngoại thành nhưu Gia Lâm, Vĩnh Tuy, Cầu Giấy...<br /><br />Ở Sài Gòn 12 – 1947, quân dân Sài Gòn mở hàng loạt các cuộc tập kích vào các đông bốt của địch như ở Thị Nghè, Gia Định...<br /><br />Ở Nam Bộ quân và dân các tỉnh Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ , Mỹ Tho .... Tập kích một ssos đồn bốt, kho tàng địch, đánh chiếm tàu địch...<br /><br />Sau hơn hai tháng chiến đấu giữa ta và địch đã kết thúc bằng cuộc rút chạy của Pháp ngày 19 – 12 – 1947<br /><br /><b>3. Kết quả và ý nghĩa</b><br /><br />Trải qua 75 ngày đên chiến đấu quân và dân Việt Bắc đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 600 tên dịch và bắn rơi, phá hủy 16 máy bay. 11 tàu chiến và ca nô, thu giữ 100 khẩu đại bác và hàng nghìn các loại vũ khí khác.<br /><br />Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947 đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra là “Phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp; bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến; bảo toàn và nâng cao sức chiến đấu của bộ đội chủ lực, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc”. Ta đã bẻ gãy, đập tan cả bốn mục tiêu của thực dân Pháp; đập tan nát ý đồ chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh”, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài để đối phó với ta - rơi vào ý định chiến lược của Trung ương Đảng ta. <br /><br />Đây là chiến dịch đầu tiên của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp. Bằng thắng lợi này, quân đội ta đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử nghệ thuật chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam. <br /><br /><b>Nét đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch</b> ở đây là, khi địch chủ động tiến công, ta không bị động chọn loại hình phòng ngự mà chọn loại hình phản công để đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch (phản công trở thành một trong những loại hình chiến dịch đầu tiên của quân đội ta). Ta đã phản công địch bằng tiến công, lấy tiến công làm hình thức tác chiến chủ yếu. Các lực lượng tham gia chiến dịch đã được sử dụng rất linh hoạt, chiến tranh du kích đã được phát huy mạnh mẽ, rộng khắp và liên tục, làm cho địch bị tiêu hao mòn mỏi và bị động đối phó. Trong đó, nét nổi bật là, ta đã chọn đúng thời cơ phản công (từ ngày 15 đến cuối tháng 10, ngay sau khi ta nắm được toàn bộ kế hoạch tiến công của chúng; ngay khi các cánh quân dù ở Bắc Cạn, quân đường thuỷ và quân đường bộ trên quốc lộ 3 gặp khó khăn); chọn đúng thời cơ “đồng loạt tiến công” khi địch bắt đầu rút quân; tổ chức và sử dụng lực lượng phản công hợp lý, đạt được hiệu suất chiến đấu và kết quả của chiến dịch. Ta đã nhận rõ chỗ yếu cơ bản ngay trên chỗ mạnh của “hai gọng kìm” của địch là: quân đông nhưng đường cơ động vừa độc đạo vừa hiểm trở nên đội hình kéo dài; từ đó ta kịp thời điều chỉnh lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa bộ đội và dân quân du kích tại chỗ với các tiểu đoàn chủ lực cơ động, hình thành thế trận vừa vững chắc, vừa hiểm yếu, thực hiện những trận đánh phục kích, tập kích và vận động phục kích, vừa thực hiện chia cắt đội hình địch vừa phá tan ý đồ “phân tuyến” của chúng, tạo thành thế trận có lợi cho ta.<br /><br />Do đó, địch muốn tiến công nhanh, nhưng trên từng hướng buộc chúng phải dừng lại đối phó. Bằng lối đánh này, không những ta đã tránh được chỗ mạnh của địch mà còn từng bước vô hiệu hoá, tiến tới bẻ gãy từng “gọng kìm” của chúng, trước hết là hướng tây, hướng sông Lô, đường số 2; sau là đường số 4. Quy mô tác chiến phổ biến là tiểu đoàn và đại đội. Kết hợp giữa bộ binh trên bộ với pháo binh, công binh đánh trên sông, nhằm vào các đơn vị nhỏ quân địch đang cơ động hoặc buộc tạm dừng là chủ yếu, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, gây cho chúng những tổn thất nghiêm trọng, tiến tới giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch. <br /><br />Trong chiến dịch, ta đã phát huy chiến tranh du kích rộng khắp, thực hiện tiêu hao, tiêu diệt quân địch khắp mọi nơi, địch đi đến đâu cũng bị đánh và tiêu hao. Từ nét đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch được phát huy tác dụng, ta đã chuyển nhanh từ thế bị động lúc đầu sang thế chủ động đánh địch theo cách đánh của ta, trên những hướng, những nơi đã chọn. Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947 là chiến dịch phản công đầu tiên của quân đội ta vận dụng thành công nghệ thuật chiến dịch “Tiến công trong phản công địch trên địa hình rừng núi”. Đây là sự lãnh đạo tài tình sáng tạo, sự chỉ huy, chỉ đạo độc đáo, sắc sảo của Đảng ta.<br /><br /><b>Song, ta còn bộc lộ những mặt yếu và khuyết điểm: </b><br /><br />Một là, nắm địch không chắt; thông tin chậm dẫn đến chỉ huy phán đoán sai về địch kể cả khi chúng bắt đầu tiến công (nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn), cũng như khi địch rút chạy. Thiếu kinh nghiệm đánh truy kích nên ta bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt địch rút chạy như đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh nói khi tổng kết chiến dịch: “Phán đoán sai nên điều động quân sai và đánh hụt địch, bộ đội mệt mà không lập được công”. Bộ đội, vì không nắm chắc địch nên bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt địch, hạn chế đến hiệu suất chiến đấu nhất là khi đánh địch rút lui.<br /><br />Hai là, ở hậu phương ta còn chủ quan, phòng thủ kém, sơ tán chậm nên khi địch nhảy dù, ta bị bất ngờ và tổn thất. <br /><br />Ba là, vũ khí trang bị và thông tin thiếu, cũ, chất lượng kém, đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chiến đấu của bộ đội, kết qủa của chiến dịch.<br /><br />
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.