PDA

View Full Version : Cần tư vấn phát triển du lịch miền quan họ Kinh Bắc


davidminhtang
27-05-2012, 09:01 AM
Đã từ lâu mình có mong muốn phát triển du lịch miền quan họ Kinh Bắc nhưng thấy khó quá. Bạn nào có kinh nghiệm tư vấn giúp cho mình nhé. Tiềm năng du lịch của Bắc Ninh là hệ thống những ngôi chùa cổ hàng ngàn năm tuổi, là lịch sử của vương triều nhà Lý, là nền văn hóa quan họ. Tiềm năng thì có nhưng chưa được phát huy. Làm thế nào để khách biết đến vùng kinh Bắc này.... Mình rất cần sự giúp đỡ của các bạn.<br />Xin gửi lời trân trọng cám ơn tới tất cả anh chị em quan tâm.

latigo7441
27-05-2012, 09:01 AM
Hay quá bác ơi...<br />Mong bác chia sẻ nhiều hơn cho anh em biết về quê hương nhà bác biết chứ, nhớ là kg giới thiệu và tư vấn cho ACE mong tránh được như Sông Lam Hotel nhé.

bavico
27-05-2012, 09:01 AM
<!--quoteo(post=42336:date=07/08/2009 - 02:57 AM:name=Phi Tâm)--><div class='quotetop'>QUOTE(Phi Tâm @ 07/08/2009 - 02:57 AM) <a href="index.php?act=findpost&amp;pid=42336"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->Hay quá bác ơi...<br />Mong bác chia sẻ nhiều hơn cho anh em biết về quê hương nhà bác biết chứ, nhớ là kg giới thiệu và tư vấn cho ACE mong tránh được như Sông Lam Hotel nhé.<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Chú lại đổ tương ớt vào mũi anh rồi. Anh đang cần anh chị em hỗ trợ đây, Chú có cao kiến gì dạy anh vài đường. vài ngày nữa anh về pos mấy điều về quê anh cho chú tham khảo nha.

bich_pham
27-05-2012, 09:01 AM
[size=5]<!--quoteo(post=42336:date=07/08/2009 - 02:57 AM:name=Phi Tâm)--><div class='quotetop'>QUOTE(Phi Tâm @ 07/08/2009 - 02:57 AM) <a href="index.php?act=findpost&amp;pid=42336"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->Hay quá bác ơi...<br />Mong bác chia sẻ nhiều hơn cho anh em biết về quê hương nhà bác biết chứ, nhớ là kg giới thiệu và tư vấn cho ACE mong tránh được như Sông Lam Hotel nhé.<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br /><div align='center'></div>MỘT SỐ NÉT CHÍNH VỀ BẮC NINH<br /><br />MỘT SỐ NÉT CHÍNH VỀ BẮC NINH<br /><br />Bắc Ninh là nơi có thành Luy Lâu cổ, nơi Sỹ Nhiếp lần đầu dạy người Việt học chữ. Chùa Dâu, Chùa Phật Tích là những nơi phát tích của Phật giáo Việt Nam,...<br /><br />Bắc Ninh nổi tiếng với các làn điệu quan họ, các làng nghề như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, đúc đồng Đại Bái, dệt Hồi Quan. Các di tích lịch sử đáng kể có đền Đô, chùa Phúc Nghiêm Tự (chùa Tổ), đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, v.v.<br /><br />Lễ hội<br /><br />Lễ hội làng Đồng Kỵ 2009Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau. Một số lễ hội nổi tiếng được liệt kê dưới đây:<br /><br />Lễ hội Lim (Thị trấn Lim, huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 tháng giêng hàng năm, tổ chức thi hát quan họ. <br />Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, huyện Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ - 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, và tưởng niệm các vị vua nhà Lý. <br />Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du) ngày 9- tháng 4 để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương. <br />Lễ hội Thập Đình (của mười xã thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công). <br />Lễ hội Đền Cao Lỗ Vương ngày 10 - tháng 3 ở làng Tiểu Than(làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình. <br />Lễ hội Đền Tam Phủ xã Cao Đức, huyện Gia Bình. <br />Lễ hội Đồng Kỵ ngày 4 - tháng Giêng. <br />Lễ hội Chùa Dâu ngày 8 - tháng 4. <br />Có câu: <br />Mùng bẩy hội Khám <br />Mồng tám hội Dâu <br />Mồng chín hội Gióng <br />Mồng mười hội Bưởi đâu đâu cũng về Lịch một số lễ hội tiêu biểu ở Bắc Ninh (Theo âm lịch)<br /><br />Tháng giêng: <br />Mùng 4: <br />Hội rước pháo, thi pháo, tế bánh dầy, diễn trò ôm cột, dô Ông Đám, múa hoa làng Đồng Kỵ ở xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn. <br />Hội xem hoa mẫu đơn, diễn trò &quot;Từ Thức gặp tiên&quot; ở chùa Phật Tích (Phật Tích¬ Tiên Du). <br />Hội thi kéo co giữa nam và nữ làng Hữu Chấp ở xã Phong Khê, huyện Yên Phong. <br />Hội rước lợn ỷ và đuổi cuốc làng Trà Xuyên ở xã Khúc Xuyên, huyện Yên Phong. <br />Hội hát Quan họ làng Ó (Hội Ó) ở xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Tối họp chợ âm phủ và bán gà đen. <br />Hội làng Vó (tức Quảng Bố) ở xã Quảng Phú, huyện Lương Tài có tục đánh cá làm gỏi để tế thần Đông Hải Đại Vương. <br />Mùng 4¬-5: Hội đuổi cuốc ở làng Xuân Đài (Vạn Linh, ¬Gia Bình). <br />Mùng 6: <br />Hội hát quan họ các làng Ném (Khắc Niệm) ở xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du và làng Khả Lễ ở xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Từ năm 1999, làng Ném Thượng đã khôi phục tục &quot;chém lợn tế thần&quot;theo sự tích một vị tướng cuối đời Lý<br />Hội rước chạ Khả Lễ¬, Bái Uyên ở xã Liên Bão, huyện Tiên Du. <br />Mùng 6-7: Hội thi mã Đông Hồ ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành. <br />Mùng 7: <br />Hội hát Quan họ làng Đống Cao, xã Phong Khê, huyện Yên Phong. <br />Mùng 5-¬7: Hội &quot;Bách nghệ&quot; làng Như Nguyệt ở xã Tam Giang ¬huyện Yên Phong. Biểu diễn các nghề của tứ dân &quot;Sĩ, nông, công, thương&quot;. <br />Mùng 6¬-15: Hội &quot;chen&quot; làng Nga Hoàng (Yên Giả ¬Quế Võ) có diễn trò trai gái, già trẻ chen nhau. <br />Mùng 8¬-10: <br />Hội Phú Mẫn ở thị trấn Chờ¬, huyện Yên Phong. <br />Hội hát Quan họ làng Bò Sơn (Võ Cường, Thành phố Bắc Ninh) có diễn trò đập nồi niêu. <br />Mùng 9: <br />Hội làng Tam Sơn ở xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn. <br />Hội thi nấu cơm làng Tư Thế ở xã Trí Quảng, huyện Thuận Thành. <br />Hội làng Trần ở xã Hạp Lĩnh, huyện Tiên Du. <br />Ngày 11¬-12: Hội thi đọc mục lục làng Phù Khê ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn. <br />Ngày 12-13: Hội Lim ở thị trấn Lim, huyện Tiên Du. <br />Ngày 10¬-15: <br />Hội làng Vân Đoàn (Đức Long¬, Quế Võ) có tục rước lợn đen (ông ỷ). <br />Hội làng Đình Cả¬, Lộ Bao (Nội Duệ¬, Tiên Du) có tục &quot;cướp chiếu&quot;, &quot;tế trâu thui&quot;. <br />Ngày 13¬-15: <br />Hội làng Thau (Kim Thao) ở xã Lâm Thao, huyện Lương Tài. Nổi tiếng về thi đấu vật. <br />Ngày 14¬-15: <br />Hội đền Bà Chúa Kho, làng Cô Mễ ở xã Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh. <br />Hội làng Phù Lưu, thôn Phù Lưu, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong. Với những phong tục độc đáo: hát quan họ, hát đối đáp giao duyên, hội thi chọi gà, hội chơi cờ tướng, cờ người... <br />Hội làng Ngô Nội ở thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong. <br />Ngày 15: hội Thôn Song Tháp, Đa Vạn - xã Châu khê, sát dòng sông Ngũ Huyện, Châu khê, Từ Sơn. <br />Ngày 15-19:Hội làng Yên Phụ - Xã Yên Phụ, Huyện Yên Phong. <br />Ngày 18¬-21: Hội chùa Tổ ở xã Thái Bảo, huyện Gia Bình. <br />Tháng 2: <br />Mùng 6: <br />Hội đình Keo ở Phù Chẩn, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 6-¬12: <br />Hội trình nghề ở Phương La Đông, Phương La Đoài (Tam Giang¬ Yên Phong). <br />Mùng 7: <br />Hội đền Đức Vua Bà (Thuỷ tổ Quan họ) làng Viêm Xá (Diềm) ở xã Hoà Long, huyện Yên Phong. <br />Hội &quot;Thập Đình&quot; làng Bảo Tháp ở xã Đông Cứu, huyện Gia Bình. <br />Hội Viềng (Vĩnh Kiều) ở xã Đông Nguyên, huyện Từ Sơn. <br />Hội làng Dương Lôi (Đình Sấm) ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn để kỷ niệm ngày mất của bà Phạm Thị, thân mẫu Lý Công Uẩn. <br />Hội Chùa Đài hay còn gọi là chùa Kim Đài, Đình Bảng, Từ Sơn <br />Mùng 7¬-15: <br />Hội tranh cây mộc tất làng Long Khám ở xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du. <br />Mùng 7-9: <br />Hội làng Tiến Bào ở Tiến Bào, xã Phù khê, huyện Từ Sơn <br />Hội làng Nguyễn Thụ ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn. <br />Hội làng Lễ Xuyên ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn. <br />Hội làng Yên Lã ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn. <br />Hội chùa Tiêu ở xã Tương Giang, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 8¬-10: <br />Hội làng Cẩm Giang ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 10: <br />Hội làng Tam Tảo ở Phú Lâm, huyện Tiên Du. <br />Hội làng Đông Phù (Phú Lâm ¬Tiên Du) có trò rồng rắn đuổi bệt. <br />Mùng 10 - 12: <br />Hội Làng Yên Mẫn, phường Kinh Bắc, Thành phố Bắc Ninh <br />Ngày 14: <br />Hội chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ. <br />Ngày 14¬-15: <br />Hội chùa làng Nghiêm Xá ở xã Việt Hùng, huyện Quế Võ. <br />Ngày 12¬-16: <br />Hội đình Đình Bảng (Đình Bảng ¬Từ Sơn) có đón chạ Cẩm Giang và thi đấu vật. <br />Ngày 26: <br />Hội làng Tiến Sĩ Kim Đôi ở xã Kim Chân, huyện Quế Võ. <br />Ngày 28: Hội chiến thắng Như Nguyệt ở xã Tam Giang, huyện Yên Phong. <br />Tháng 3: <br />Mùng 4 Hội làng Phúc Tinh ở xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 8: <br />Hội làng Trang Liệt ở xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn. <br />Hội làng Phù Lưu ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 10: <br />Hội làng Tiểu Than- Lễ rước Lăng Mộ Cao Lỗ Vương (Vạn Ninh ¬Gia Bình). <br />Hội đền Cao Lỗ Vương ở làng Đại Than ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình. <br />Hội &quot;Thất thôn giao kiệt&quot; làng Phú Mẫn ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong. <br />Hội làng Mẫn Xá, huyện Yên Phong <br />Ngày 15¬-17: <br />Hội đền Lý Bát Đế ở xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn. <br />Ngày 18¬-20: <br />Hội Đậu (Mộ Đạo ¬Quế Võ) có thi thả diều, bơi chải. <br />Ngày 24: Hội chùa Bút Tháp ở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành. <br />Tháng 4: <br />Mùng 1:Hội đền Phụ Quốc(Xóm miễu-Tam Tảo-Phú Lâm-Tiên Du-Bắc Ninh) <br />Mùng 7: <br />Hội Khám (Hội chùa Linh Ứng), làng Ngọc Khám ở xã Gia Đông, huyện Thuận Thành. <br />Mùng 8: <br />Hội Dâu (Chùa Dâu) ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành. <br />Mùng 9: <br />Hội làng Vó (Quảng Bố) ở xã Quảng Phú, huyện Lương Tài. <br />Mùng 10: <br />Hội làng Bưởi (Đại Bái) ở xã Đại Bái, huyện Gia Bình. <br />Hội đền Thánh Tổ (Bồ Tát) ở Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh. <br />Ngày 15: <br />Hội đền Xà ở xã Tam Giang, huyện Yên Phong. <br />Ngày 20: <br />Hội đền Vân Mẫu ở xã Vân Dương, huyện Quế Võ. <br />Tháng 8: <br />Mùng 1-7: <br />Hội làng Phấn Động ở xã Tam Đa, huyện Yên Phong. <br />Mùng 5: <br />Hội làng Đông Xá ở xã Đông Phong, huyện Yên Phong. <br />Mùng 7: <br />Hội rước nước làng Thị Cầu ở phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh. <br />Ngày 14: <br />Hội rước nước đền Phả Lại ở xã Đức Long, huyện Quế Võ. <br />Ngày 15¬-16: <br />Hội đền Chi Long ở xã Long Châu, huyện Yên Phong. <br />Tháng 9: <br />Mùng 8-¬9: <br />Hội chùa Dạm ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ. <br />Mùng 10-18: <br />Mùng 23: <br />Giỗ bà Lý Chiêu Hoàng tại Đền Rồng, Đình Bảng, Thị xã Từ Sơn. <br />Hội thi nói khoác làng Đông Yên ở xã Đông Phong, huyện Yên Phong. <br />Ngày 29 <br />Giỗ tổ làng nghề Đại Bái (bưởi) thuộc xã Đại Bái <br />Tháng 10: <br />Ngày 15: <br />Hội thi giã bánh dầy làng Đạo Chân ở xã Kim Chân, huyện Quế Võ<br /><br />CHÙA TIÊU - TRUNG TÂM PHẬT GIÁO XƯA CỦA NGƯỜI VIỆT<br /><br />Chùa Tiêu, còn có tên là chùa Thiên Tâm hay Tiêu Sơn tự, là chùa nằm trên lưng chừng núi Tiêu. Nay thuộc xã Tương Giang, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Tiêu là một danh thắng nổi tiếng và cũng là trung tâm Phật giáo cổ xưa của Việt Nam.<br /><br />Những công trình còn lại của chùa hiện nay là sản phẩm kiến trúc nghệ thuật thời nhà Lê đến nhà Nguyễn. Chùa Tiêu hầu như không bị ảnh hưởng bởi các biến cố lịch sử qua nhiều thời kỳ và chỉ cách thủ đô Hà Nội khoảng 20 km.<br /><br />Từ xưa, ở đây, núi bắc, sông nam sơn thủy hữu tình, con sông Tiêu Tương chảy qua bây giờ đã biến thành đồng ruộng, làng mạc trù phú. Dấu ấn một thời chỉ còn lại là một cái hồ sen dưới chân núi trước cửa chùa.<br /><br />Theo truyền thuyết, bà Phạm Thị &quot;đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với thần nhân giao hợp rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình năm thứ 9 (974) đời Đinh&quot;. Hiện ở chùa còn có bia đá Lý gia linh thạch có ghi rằng &quot;Đắc Đông Ngàn Hoa Lâm nhân Phạm Mẫu tiêu dao kỳ tự&quot; (Phạm Mẫu người Hoa Lâm Đông Ngàn thường vãn cảnh chùa).<br /><br />ĐỀN ĐÔ - ĐỀN LÝ BÁT ĐẾ<br />Đền Lý Bát Đế, còn gọi là Đền Đô hoặc Cổ Pháp điện là nơi thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý. Đây là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng được bảo tồn khá trọn vẹn, nơi tưởng niệm và phụng thờ của toàn dân đối với các vị vua nhà Lý.<br /><br />Với vị thế, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Việt và in đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đền Lý Bát Đế đã được Nhà nước Việt Nam công nhận là di tích lịch sử - văn hóa theo Quyết định số 154 của Bộ Văn hóa-Thông tin cũ, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 25/01/1991.<br /><br />Khái quát<br />Đền Lý Bát Đế thuộc xóm Thượng, làng (xã) Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.<br /><br />Đền nằm trên vùng đất &quot;địa linh nhân kiệt&quot; Đình Bảng, cách thủ đô Hà Nội gần 20 km về phía Bắc, thuộc địa phận hương Cổ Pháp, châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) nên còn gọi là đền Cổ Pháp.<br /><br />Đền thờ tám vị vua nhà Lý, đó là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009-1028); Lý Thái Tông (1028-1054); Lý Thánh Tông (1054-1072); Lý Nhân Tông (1072-1128); Lý Thần Tông (1128-1138); Lý Anh Tông (1138-1175); Lý Cao Tông (1175-1210) và Lý Huệ Tông (1210-1224).<br /><br />Từ xa xưa, Cổ Pháp được liệt vào làng &quot;tam cổ&quot;: &quot;Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp&quot;. Đất Cổ Pháp là nơi thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, vượng khí, linh thiêng. Làng Cổ Pháp là nơi phát tích của triều đình nhà Lý, kéo dài hơn 200 năm.<br /><br />Đền Lý Bát Đế được khởi công xây dựng từ ngày 3 tháng Ba năm Canh Ngọ 1030 bởi Lý Thái Tông khi vị hoàng đế này về quê làm giỗ cha. Sau này, đền được nhiều lần trung tu và mở rộng. Lần trùng tu lớn nhất là vào năm thứ hai niên hiệu Hoàng Định của vua Lê Kính Tông (tức năm 1620), khắc văn bia ghi lại công đức của các vị vua triều Lý.<br /><br />Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đã phá hủy nhiều di sản văn hóa ở Cổ Pháp. Năm 1952, quân Pháp dội bom, phá hủy hoàn toàn đền. Đến năm 1989, đền đã được khởi công xây dựng lại, theo đúng hình dáng và kiến trúc mà các nhà nghiên cứu lịch sử đã phác thảo, căn cứ vào dấu tích còn lại và các tài liệu lưu trữ.<br /><br />Kiến trúc<br /><br />Thủy đình của Đền Đô - Đền Lý Bát Đế rộng 31.250 m², với trên 20 hạng mục công trình, chia thành 2 khu vực: nội thành và ngoại thành. Tất cả đều được xây dựng công phu, đắp vẽ chạm khắc tinh xảo.<br /><br />Khu vực nội thành có kiến trúc theo kiểu &quot;nội công ngoại quốc&quot;. Cổng vào nội thành gọi là Ngũ Long Môn vì hai cánh cổng có trạm khắc hình năm con rồng. Trung tâm của Khu nội thành và cũng là trung tâm đền là chính điện. Chính điện gồm trước tiên là Phương đình (nhà vuông) 8 mái 3 gian rộng đến 70 m². Tiếp đến nhà Tiền tế 7 gian rộng 220 m². Tại đây có điện thờ vua Lý Thái Tổ. Phía bên trái điện thờ có treo tấm bảng ghi lại &quot;Chiếu dời đô&quot; của vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Phía bên phải có treo tấm bảng ghi bài thơ nổi tiếng của Lý Thường Kiệt: &quot;Nam quốc sơn hà Nam đế cư...&quot;. Sau cùng là Cổ Pháp điện gồm 7 gian rộng 180 m² là nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượng của 8 vị vua nhà Lý. Gian giữa là nơi thờ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông; ba gian bên phải lần lượt thờ Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông; ba gian bên trái lần lượt thờ Lý Anh Tông, Lý Huệ Tông và Lý Cao Tông.<br /><br />Trong nội thành còn có nhà chuyển bồng, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại, nhà tiền tế, nhà để kiệu thờ, nhà để ngựa thờ. Đặc biệt, phía Đông đền có nhà bia, nơi đặt &quot;Cổ Pháp Điện Tạo Bi&quot; (bia đền Cổ Pháp). Tấm bia đá này cao 190 cm, rộng 103 cm, dày 17 cm, được khắc dựng năm Giáp Thìn (1605), do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, ghi lại sự kiện lịch sử nhà Lê xây dựng lại đền và ghi công đức của các vị vua triều Lý.<br /><br />Khu ngoại thất đền Lý Bát Đế gồm thủy đình trên hồ bán nguyệt. Đây là nơi để các chức sắc ngày trước ngồi xem biểu diễn rối nước. Hồ này thông với ao Cả trên và ao Cả dưới và sông Tiêu Tương xưa. Thủy đình ở phía Bắc hồ rộng 5 gian có kiến trúc chồng diêm 8 mái, 8 đao cong. Thủy đình đền Lý Bát Đế từng được Ngân hàng Đông Dương thời Pháp thuộc chọn là hình ảnh in trên giấy bạc &quot;năm đồng vàng&quot;. Nhà văn chỉ ba gian chồng diêm rộng 100 m² nằm bên trái khu nội thành thờ Tô Hiến Thành và Lý Đạo Thành, những quan văn đã có công lớn giúp nhà Lý. Nhà võ chỉ có kiến trúc tương tự nhà văn chỉ, ở bên phải khu nội thành thờ Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc, những quan võ đã có công lớn giúp nhà Lý. Ngoài ra, ở khu vực ngoại thành còn có nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách và đền vua Bà (thờ Lý Chiêu Hoàng, còn gọi là đền Rồng), v.v...<br />Bát Đế vân du<br /><br />Hoành phi với bốn chữ: &quot;liên hoa bát diệp&quot; (bông sen tám cánh) để chỉ tám đời vua nhà LýTrong khi hướng dẫn du khách tham quan, các cụ trong Ban Quản lý di tích đền kể lại, không phải chỉ một lần, vào những ngày giỗ các vị vua Lý, trên nóc đền thường xuất hiện 8 đám mây trắng xếp thành một dải nối tiếp nhau. Đám mây hiện hữu khoảng mươi, mười lăm phút rồi mới tản ra. Những người dự lễ xôn xao bàn tán. Các cụ bảo, đó là linh hồn 8 vị vua Lý hiện về. Lại nữa, vào đúng ngày Lễ hội đền Đô năm 2003 (15-3 âm lịch - ngày Lý Công Uẩn đăng quang), những người dự lễ hội tại đây đã chứng kiến một hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ: Một dải mây hình rồng vàng từ phía Thăng Long - Hà Nội bay về đứng lên nóc đền một lúc rồi tản ra, đúng lúc dân làng Đình Bảng bắt đầu lễ rước &quot;Linh bài Lý Thái Tổ và Chiếu dời đô ra Thăng Long&quot; theo nghi lễ cổ truyền... Những câu chuyện và hình ảnh ấy được ghi chép, chụp ảnh và lưu lại trong những tài liệu về đền Đô. Các nhà khoa học giải thích, đó chỉ là sự trùng hợp kỳ lạ của thiên nhiên. Nhưng với người dân Đình Bảng, điều đó có nghĩa là các vị vua nhà Lý vẫn luôn hiện diện đâu đó trên mảnh đất quê nhà.<br /><br />Hội Đền<br />Đền là trung tâm thờ các vua Lý với nhiều nghi thức rất trọng thể trong các dịp lễ hàng năm, kỷ niệm ngày mất của các vị vua. Đặc biệt lễ hội đền Đô được tổ chức vào các ngày 15, 16, 17 tháng 3 âm lịch nhằm kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang (ngày 15/3 năm Canh Tuất 1010). Đây là ngày hội lớn mang tính quốc gia, thu hút hàng vạn khách hành hương thể hiện lòng thành kính và nhớ ơn của người dân Việt đối với các vua Lý. Đó còn là lễ hội truyền thống có từ lâu đời và trở thành phong tục được nhân dân xã Đình Bảng tự nguyện lưu giữ, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.<br /><br />CHÙA PHẬT TÍCH<br /><br />Theo tài liệu cổ thì Chùa Phật tích được xây dựng vào năm Thái bình thứ 4 ( 1057 ) với nhiều tòa ngang dãy dọc, chùa được xây dựng vào thời Nhà Lý ( Chùa này nay không còn nữa)<br />vào thơi nhà Lý( Năm 1066 ) Vua Lý Thánh Tông cho xay dựng một tòa thap cao, sau khi tháp đo mơi lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích.<br /><br />Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686) ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: &quot;Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc, phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá...&quot;<br /><br />Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ &quot;Phật&quot; dài tới 5 m, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Bà Nguyên phi Ỷ Lan có đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích.<br /><br />Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ &quot;Bảo Hoa dư bút&quot; dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ).<br /><br />Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự. Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am - đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: &quot;... Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, lầu rộng và tay rồng với tới trời sao,cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng...&quot;. Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.<br /><br />Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá nhiều. Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947.<br /><br />Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A-di-đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử-văn hoá.<br /><br />Kiến trúc<br />Chùa được kiến trúc theo kiểu &quot;nội công ngoại quốc&quot;, sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ. Bên phải chùa là Miếu thờ Đức chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này, có câu đối &quot;Đệ nhất cung thần quy Phật địa. Thập tam đình vũ thứ tiên hương&quot;. Bà chẳng những có công lớn trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Bên trái chùa chính là nhà tổ đệ nhất thờ Chuyết chuyết Lý Thiên Tộ. Ông mất tại đây năm 1644 thọ 55 tuổi, hiện nay chùa còn giữ được pho tượng của Chuyết công đã kết hỏa lúc đang ngồi thiền.<br /><br />Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị Tam thế Phật, 8 gian nhà tổ và 7 gian nhà thờ thánh Mẫu.<br /><br />Ngôi chùa có kiến trúc của thời Lý, thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi. Các nền hình chữ nhật dài khoảng 60 m, rộng khoảng 33 m, mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật.<br /><br />Theo tương truyền, bậc nền thứ nhất là sân chùa với vườn hoa mẫu đơn, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên: &quot;...Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên...&quot; Do tích này, trước đây chùa Phật Tích mở hội Hoa Mẫu Đơn hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng để nhân dân xem hoa và các văn nhân thi sĩ bình thơ.<br /><br />Bậc nền thứ hai là nơi có các kiến trúc cổ ngày nay không còn được thấy. Khi đào xuống nền ngôi chùa này, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều di vật điêu khắc thời nhà Lý và nền móng của một ngôi tháp gạch hình vuông, mỗi cạnh dài 8,5 m.<br /><br />Nền thứ ba cao nhất, có Long Trì (Ao Rồng) là một cái ao hình chữ nhật, đã cạn nước.<br /><br />Sau sân nền có 32 tháp xây bằng gạch và đá là nơi cất giữ xá lị của các nhà sư từng trụ trì ở đây, phần lớn được dựng vào thế kỷ 17.<br /><br />Nhiều tác phẩm điêu khắc thời nhà Lý còn được giữ tại chùa cho đến nay. Ngay ở bậc thềm thứ hai, có 10 tượng thú bằng đá cao 10 m, gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa, mỗi loại hai con, nằm trên bệ hoa sen tạc liền bằng những khối đá lớn.<br /><br />Giữa chùa là pho tượng Phật bằng đá xanh ngồi thiền định trên tòa sen, cao 1,85 m. Trên bệ và trong những cánh sen, có những hình rồng và hoa lá đặc trưng cho thời Lý. Ở chùa còn có những di vật thời Lý khác như đá ốp tường, đấu kê,...trên đó chạm khắc các hình Kim Cương, Hộ Pháp, các nhạc công, vũ nữ v.v...<br /><br />Trong Ức Trai Thi Tập, Nguyễn Trãi có bài thơ vịnh cảnh chùa Phật Tích:<br /><br />Đoản trạo hệ tà dương <br />Thông thông yết thượng phương <br />Vần quy thiền sáp lãnh <br />Hoa lạc giản lưu hương <br />Nhật mộ viên thanh cấp <br />Sơn không trúc ảnh trường <br />Có trung chân hữu ý <br />Dục ngữ hốt hoàn vương. Bóng xế thuyền con buộc <br />Vội lên lễ Phật đài <br />Mây về giường sãi lạnh <br />Hoa rụng suối hương trôi <br />Chiều tối vượn kêu rộn <br />Núi quang, trúc bóng dài <br />Ở trong dường có ý <br />Muốn nói bỗng quên rồi. <br /><br />Hàng năm vào ngày 4 tết Nguyên Đán, nhân dân Phật Tích thường mở hội truyền thống để tưởng nhớ công lao các vị tiền bối đã khai sinh và tu tạo chùa. Trong những ngày xuân tưng bừng ấy, khách thập phương về đây lễ Phật, hái hoa mẫu đơn, thưởng ngoạn cảnh đẹp vùng Kinh Bắc hoặc tham dự các trò chơi ngày hội như đấu vật, chơi cờ, đánh đu, hát quan họ...<br />Di cốt của sư tổ<br /><br />Tượng táng thiền sư Chuyết Chuyết tại chùa Phật TíchNăm 1988, đã xảy ra một vụ trộm tại khu tháp này: Kẻ gian đã nạy cửa tháp Báo Nghiêm để kiếm vàng và đồ cổ. Chúng đã vứt ra một vại sành trong đó có chứa di cốt người và những mảnh bó cốt có cấu tạo giống như mảnh bồi của tượng nhà sư chùa Đậu.<br /><br />Phó tiến sỹ Nguyễn Lân Cường cho biết: &quot;Rất tiếc, vị sư trụ trì của chùa đã mất từ trước khi vụ trộm xảy ra cách đó 8 năm. Khi đến thôn Rao Mộc, cách chùa 15 km, chúng tôi gặp cụ Nguyễn Chí Triệu vốn là sư bác ở chùa 45 năm về trước. Theo lời cụ Triệu, trước đây, trong khán thờ có một pho tượng của sư tổ, chân xếp bằng tròn theo thế ngồi thiền, hai tay đặt trước bụng, lòng bàn tay ngửa.&quot;<br /><br />Ngày nay, các nhà khoa học đã xác định đây là di cốt của thiền sư Chuyết Chuyết, đã viên tịch tại chùa Phật Tích.<br /><br />Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy tất cả 133 mảnh xương và 209 mảnh bồi. Trong số này có đốt sống, xương đùi, xương chày, một phần xương hàm trên, đặc biệt có một xương hàm dưới, một phần xương trán cùng hốc mắt phải đính với hai mũi. Dựa vào các xương chi, các nhà khoa học tính toán chiều cao của nhà sư khoảng 1,6 m. Qua phân tích cấu tạo của khuyết hông và khớp mu, các nhà khoa học khẳng định đây là di hài của một nhà sư nam khoảng 65 - 70 tuổi.<br /><br />Khi nghiên cứu những mảnh bồi, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một đoạn dây đồng đã gỉ mầu xanh. Điều này chứng tỏ: Sau khi cải táng, người ta lấy xương của nhà sư đã tịch, đem dựng khung tạo thành hình ngồi thiền, rồi mới bồi ra bên ngoài để tạo tượng. Điều này khác với kỹ thuật tạo tượng nhà sư Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu.<br /><br />Với mong muốn phục nguyên di hài thiền sư ở chùa Phật Tích, nhóm các nhà khoa học do PTS Nguyễn Lân Cường chỉ đạo đã áp dụng phương pháp Guerasimov phục hồi mặt theo xương sọ.<br /><br />Ngày 12 tháng 1 năm 1993, các nhà khoa học bắt tay tiến hành phục nguyên di hài. Trước hết, họ dựng tượng nhà sư bằng đất sét theo phương pháp Guerasimov; đổ khuôn thạch cao tạo các mảnh khuôn rồi gỡ các mảnh khuôn, phá tượng đất đi. Sau đó, họ bôi sơn ta, lót vải màn, rắc mạt cưa trộn sơn ta và gắn xương vào đúng vị trí. Để thành tượng, các nhà khoa học phá tiếp khuôn thạch cao, gỡ các mảnh bó cốt và gắn lại. Cuối cùng, họ đem thếp bạc rồi quang dầu lên tượng. Sau khi tượng được hoàn thành, tại khu vực này đã diễn ra lễ rước tượng về chùa Phật Tích với sự tham dự của hàng nghìn người dân. Đây là lần đầu tiên Việt Nam phục nguyên thành công một pho tượng theo phương pháp Guerasimov kết hợp với sơn ta cổ truyền của dân tộc.<br />Phá dỡ và phục dựng<br />Theo Vietnamnet, ngày 23 tháng 11 năm 2008 khi các đoàn khảo cổ học quốc tế về Hoàng thành Thăng Long, gồm các chuyên gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Bỉ do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức đến tham quan nghiên cứu chùa Phật Tích, thì chứng kiến một thực trạng tan hoang tại nơi đây[1]. Nền chùa cổ đã bị đào phá bằng máy xúc và đang xây mới, các hiện vật quý bị vứt ngổn ngang khắp nơi.<br /><br />Khai quang Phật ngọc<br />Tối 16 tháng 5 năm 2009, tượng Phật ngọc được làm từ khối ngọc thạch 18 tấn. Nhân dân địa phương và một số tỉnh xa cùng về chiêm bái. Sân khấu nơi đặt tượng đã được hoàn tất và sẵn sàng cho đại lễ diễn ra vào buổi tối. 800 ghế cho các đại biểu đã được ban tổ chức bố trí trong khuôn viên chùa ngay phía trước bức tượng Phật Ngọc<br /><br />CHÙA BÚT THÁP<br /><br />Để xác định chùa có từ bao giờ thì chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra một tài liệu chính xác. Theo sách Địa chí Hà Bắc (1982) thì chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) đã trụ trì ở đây. Ông cho dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Ngọn tháp này nay không còn nữa. Đến thế kỷ 17, chùa đã trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là &quot;Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư&quot;. Tiếp đó, người kế nghiệp trụ trì chùa Bút Tháp là Thiền sư Minh Hạnh, học trò xuất sắc của Hòa thượng Chuyết Chuyết. Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (Diện Viên) đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (Diệu Tuệ), xin phép Chúa Trịnh Tráng, rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Chùa kiến trúc theo kiểu &quot;Nội Công Ngoại Quốc&quot;. Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp hiện nay chính là ngôi chùa được xây dựng trong thời kỳ đó.<br /><br />Đời vua Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm.<br /><br />Chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào năm 1992-1996. Đây là ngôi chùa có kiến trúc quy mô hoàn chỉnh nhất còn lại ở Việt Nam.<br /><br />Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử và nghệ thuật, chùa Bút Tháp đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin xếp hạng là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962.<br /><br />Kiến trúc<br />Đây là một trong không nhiều ngôn chùa cổ, có quy mô kiến trúc lớn của Đồng bằng Bắc Bộ còn lại đến ngày nay. Chùa có kiến trúc độc đáo, bố cục hài hòa giữa kiến trúc với môi trường thiên nhiên. Toàn bộ kiến trúc chính của chùa quay theo hướng Nam, một hướng truyền thống của người Việt. Đối với đạo Phật hướng Nam là hướng của trí tuệ, của bát nhã.<br /><br />Quần thể kiến trúc còn giữ lại nhiều di tích của thế kỷ 17. Cụm kiến trúc trung tâm ở Chùa Bút Tháp bao gồm 8 đơn nguyên chạy xong hành được bố trí đăng đối trên một đường &quot;Thần Đạo&quot; và được bao bọc bởi hai dãy hành lang chạy suốt dọc chùa ở hai bên, đó là tòa Tiền Đường Thượng Điện, cầu đá tòa Thích Thiện Am Trung Đường, phủ thờ nhà Hậu Đường và hàng tháp đá. Sự bố trí chặt chẽ ở khu vực trung tâm này thể hiện một nội dung tư tưởng về giáo lý của đạo Phật. Phật điện của chùa gần như nguyên sơ của chùa cổ Việt Nam, gồm 10 nếp nhà nằm trên một trục dài hơn 100 m. Qua cửa Tam quan, đến gác chuông hai tầng, tám mái.<br /><br />Chùa chính với 3 dãy nhà Tiền đường - Thiên hương - Thượng điện tạo thành chữ &quot;công&quot;. Cách bố trí như vậy làm nổi bật điện thờ bên trong với các pho tượng.<br /><br />Kiến trúc chùa vẫn dùng khung gỗ chịu lực nhưng nền bệ lan can dùng đá rất phổ biến, trên có những hình động vật được khắc trông sinh động và độc đáo. Trang trí được thể hiện ở mọi nơi trên các chất liệu gỗ và đá, ở kiến trúc và ở các đồ thờ. Đặc biệt trên lan can tòa Thượng Điện có 26 bức chạm khắc đá, trên lan can cầu đá nối với Tòa Thích Thiện Am có 12 bức và ở lan can quanh chân tháp Báo Nghiêm có 13 bức. Như vậy tổng cộng các bức trạm khắc đá ở chùa Bút Tháp là 51 với những đề tài khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau ở mặt chất liệu, phong cách và thống nhất về niên đại.<br /><br />Hình ảnh chạm khắc ở đây sống động tươi vui hàm chứa ý nghĩa Phật đạo và đặc biệt mang đậm nét tính chất nghệ thuật thiền. Các bức chạm đều tập trung về đề tài thiên nhiên phong phú sinh động như Tứ Linh Quý.<br /><br />Tượng phật Quan Âm nghìn tay nghìn mắt<br />Đáng chú ý nhất ở chùa là tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay nổi tiếng do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656. Tượng cao 3,7 m, ngang 2,1 m, dày 1,15 m. Cánh tay xa nhất có chiều dài là 200 cm. Tượng có 11 đầu, 42 tay lớn và 789 tay dài ngắn khác nhau. Tính từ đài sen lên, tượng cao 235 cm. Đầu rồng đội tòa sen cao 30 cm, bệ tượng cao 54 cm. Đây được coi là một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng - nghệ thuật làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng thứ ngôn ngữ tạo hình hàm súc. Phật ngồi trên toà sen hồng qua bệ tượng hình vuông được trang trí bằng những nét chạm khắc cổ với dáng hành đạo, thư thái, đôi mắt quảng đại như bao quát cả không gian vũ trụ. Ở đây có nhiều mô tip quen thuộc được trang trí ở chùa Việt Nam như hoa lá, cây cảnh cùng các con vật - trong đó có rồng - ngư với viên ngọc; lân với quả cầu; quạt hai vòng tròn, sóng nước, hoa sen,... Tượng Quan Âm hai tay chắp trước ngực, hai tay để trên đùi với những ngón tay đan chéo biểu tượng cho dáng hành đạo và nhập định; các chùm tay để trần từ sườn, vai, lưng, trên người; những tay được xếp vòng tròn từ lớn đến nhỏ hướng vào tâm (ngay sau gáy Phật) trong lòng mỗi bàn tay lại hiện lên một con mắt. Nhìn tổng thể tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay như những vòng hào quang toả ra từ tâm điểm.<br /><br />Hai kiệt tác điêu khắc khác nữa làm thành một bộ ba tác phẩm danh bất hư truyền là tượng Tây Thiên Đông Độ Việt Nam lịch đại Tổ sư và tượng Thị Kính. Pho tượng Tuyết Sơn ở đây cũng là một kiệt tác của thế kỷ 17. Qua nhà tiền đường là đến nhà thiêu hương.<br /><br />Ngoài ra, trong chùa có hơn 70 pho tượng gỗ được tạc trong tư thế quỳ, đứng, ngồi với nét mặt thành kính trông rất sinh động như pho tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ,... còn tượng La Hán lại thể hiện cảm xúc nội tâm, mang nặng ý tưởng Phật giáo.<br /><br />Phủ thờ nằm sau Phật điện là ngôi nhà 5 gian có hai pho tượng đáng chú ý. Hai pho tượng này là chân dung hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (nhà Lê) đầu đội vương miện nhưng khoác áo tu hành, và công chúa Ngọc Duyên. Cả hai pho tượng đều ngồi theo dáng toạ thiền.<br /><br />Từ thượng điện, đi qua một chiếc cầu đá có ba nhịp uốn cong dẫn đến ngôi nhà gọi là Tích Thiện am. Trên cầu có 12 bức phù điêu đá chạm chim muông hoa lá. Tích Thiện am là một ngôi nhà có ba tầng mái.<br /><br />Trong Tích thiện am, có cây Cửu Phẩm Liên Hoa, là một tháp bằng gỗ 9 tầng, 8 mặt, có thể quay tròn quanh một trục, có gắn tượng Phật và chạm những cảnh dân gian hay lấy đề tài trong Phật thoại.<br /><br />Tháp Bảo Nghiêm<br /><br />Tháp Bảo Nghiêm chùa Bút ThápChùa có tháp Bảo Nghiêm thờ Hoà thượng Chuyết Chuyết, trông tháp giống như cây bút khổng lồ vươn thẳng tới trời cao thanh vắng. Tháp cao 13,05 m, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh; ngoài tầng đáy rộng hơn, bốn tầng trên gần giống nhau, rộng 2 m. Năm góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29 m. Ngoài kỹ thuật xây dựng đá, phần bệ tượng được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của toà tháp này có mười ba bức chạm đá với lấy đề tài chủ yếu là các con thú. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa

truong3an
27-05-2012, 09:01 AM
Bac Ninh co nhieu ngay le vay ah bac. hom nao co dip bon em sang ben do bac lam huong dan vien cho bon em nhe!<br /><br /><!--quoteo(post=42410:date=07/08/2009 - 09:54 PM:name=DULICHMINHTAM)--><div class='quotetop'>QUOTE(DULICHMINHTAM @ 07/08/2009 - 09:54 PM) <a href="index.php?act=findpost&amp;pid=42410"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->[size=5]<br /><br /><div align='center'></div>MỘT SỐ NÉT CHÍNH VỀ BẮC NINH<br /><br />MỘT SỐ NÉT CHÍNH VỀ BẮC NINH<br /><br />Bắc Ninh là nơi có thành Luy Lâu cổ, nơi Sỹ Nhiếp lần đầu dạy người Việt học chữ. Chùa Dâu, Chùa Phật Tích là những nơi phát tích của Phật giáo Việt Nam,...<br /><br />Bắc Ninh nổi tiếng với các làn điệu quan họ, các làng nghề như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, đúc đồng Đại Bái, dệt Hồi Quan. Các di tích lịch sử đáng kể có đền Đô, chùa Phúc Nghiêm Tự (chùa Tổ), đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, v.v.<br /><br />Lễ hội<br /><br />Lễ hội làng Đồng Kỵ 2009Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau. Một số lễ hội nổi tiếng được liệt kê dưới đây:<br /><br />Lễ hội Lim (Thị trấn Lim, huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 tháng giêng hàng năm, tổ chức thi hát quan họ. <br />Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, huyện Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ - 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, và tưởng niệm các vị vua nhà Lý. <br />Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du) ngày 9- tháng 4 để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương. <br />Lễ hội Thập Đình (của mười xã thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công). <br />Lễ hội Đền Cao Lỗ Vương ngày 10 - tháng 3 ở làng Tiểu Than(làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình. <br />Lễ hội Đền Tam Phủ xã Cao Đức, huyện Gia Bình. <br />Lễ hội Đồng Kỵ ngày 4 - tháng Giêng. <br />Lễ hội Chùa Dâu ngày 8 - tháng 4. <br />Có câu: <br />Mùng bẩy hội Khám <br />Mồng tám hội Dâu <br />Mồng chín hội Gióng <br />Mồng mười hội Bưởi đâu đâu cũng về Lịch một số lễ hội tiêu biểu ở Bắc Ninh (Theo âm lịch)<br /><br />Tháng giêng: <br />Mùng 4: <br />Hội rước pháo, thi pháo, tế bánh dầy, diễn trò ôm cột, dô Ông Đám, múa hoa làng Đồng Kỵ ở xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn. <br />Hội xem hoa mẫu đơn, diễn trò &quot;Từ Thức gặp tiên&quot; ở chùa Phật Tích (Phật Tích¬ Tiên Du). <br />Hội thi kéo co giữa nam và nữ làng Hữu Chấp ở xã Phong Khê, huyện Yên Phong. <br />Hội rước lợn ỷ và đuổi cuốc làng Trà Xuyên ở xã Khúc Xuyên, huyện Yên Phong. <br />Hội hát Quan họ làng Ó (Hội Ó) ở xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Tối họp chợ âm phủ và bán gà đen. <br />Hội làng Vó (tức Quảng Bố) ở xã Quảng Phú, huyện Lương Tài có tục đánh cá làm gỏi để tế thần Đông Hải Đại Vương. <br />Mùng 4¬-5: Hội đuổi cuốc ở làng Xuân Đài (Vạn Linh, ¬Gia Bình). <br />Mùng 6: <br />Hội hát quan họ các làng Ném (Khắc Niệm) ở xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du và làng Khả Lễ ở xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Từ năm 1999, làng Ném Thượng đã khôi phục tục &quot;chém lợn tế thần&quot;theo sự tích một vị tướng cuối đời Lý<br />Hội rước chạ Khả Lễ¬, Bái Uyên ở xã Liên Bão, huyện Tiên Du. <br />Mùng 6-7: Hội thi mã Đông Hồ ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành. <br />Mùng 7: <br />Hội hát Quan họ làng Đống Cao, xã Phong Khê, huyện Yên Phong. <br />Mùng 5-¬7: Hội &quot;Bách nghệ&quot; làng Như Nguyệt ở xã Tam Giang ¬huyện Yên Phong. Biểu diễn các nghề của tứ dân &quot;Sĩ, nông, công, thương&quot;. <br />Mùng 6¬-15: Hội &quot;chen&quot; làng Nga Hoàng (Yên Giả ¬Quế Võ) có diễn trò trai gái, già trẻ chen nhau. <br />Mùng 8¬-10: <br />Hội Phú Mẫn ở thị trấn Chờ¬, huyện Yên Phong. <br />Hội hát Quan họ làng Bò Sơn (Võ Cường, Thành phố Bắc Ninh) có diễn trò đập nồi niêu. <br />Mùng 9: <br />Hội làng Tam Sơn ở xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn. <br />Hội thi nấu cơm làng Tư Thế ở xã Trí Quảng, huyện Thuận Thành. <br />Hội làng Trần ở xã Hạp Lĩnh, huyện Tiên Du. <br />Ngày 11¬-12: Hội thi đọc mục lục làng Phù Khê ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn. <br />Ngày 12-13: Hội Lim ở thị trấn Lim, huyện Tiên Du. <br />Ngày 10¬-15: <br />Hội làng Vân Đoàn (Đức Long¬, Quế Võ) có tục rước lợn đen (ông ỷ). <br />Hội làng Đình Cả¬, Lộ Bao (Nội Duệ¬, Tiên Du) có tục &quot;cướp chiếu&quot;, &quot;tế trâu thui&quot;. <br />Ngày 13¬-15: <br />Hội làng Thau (Kim Thao) ở xã Lâm Thao, huyện Lương Tài. Nổi tiếng về thi đấu vật. <br />Ngày 14¬-15: <br />Hội đền Bà Chúa Kho, làng Cô Mễ ở xã Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh. <br />Hội làng Phù Lưu, thôn Phù Lưu, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong. Với những phong tục độc đáo: hát quan họ, hát đối đáp giao duyên, hội thi chọi gà, hội chơi cờ tướng, cờ người... <br />Hội làng Ngô Nội ở thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong. <br />Ngày 15: hội Thôn Song Tháp, Đa Vạn - xã Châu khê, sát dòng sông Ngũ Huyện, Châu khê, Từ Sơn. <br />Ngày 15-19:Hội làng Yên Phụ - Xã Yên Phụ, Huyện Yên Phong. <br />Ngày 18¬-21: Hội chùa Tổ ở xã Thái Bảo, huyện Gia Bình. <br />Tháng 2: <br />Mùng 6: <br />Hội đình Keo ở Phù Chẩn, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 6-¬12: <br />Hội trình nghề ở Phương La Đông, Phương La Đoài (Tam Giang¬ Yên Phong). <br />Mùng 7: <br />Hội đền Đức Vua Bà (Thuỷ tổ Quan họ) làng Viêm Xá (Diềm) ở xã Hoà Long, huyện Yên Phong. <br />Hội &quot;Thập Đình&quot; làng Bảo Tháp ở xã Đông Cứu, huyện Gia Bình. <br />Hội Viềng (Vĩnh Kiều) ở xã Đông Nguyên, huyện Từ Sơn. <br />Hội làng Dương Lôi (Đình Sấm) ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn để kỷ niệm ngày mất của bà Phạm Thị, thân mẫu Lý Công Uẩn. <br />Hội Chùa Đài hay còn gọi là chùa Kim Đài, Đình Bảng, Từ Sơn <br />Mùng 7¬-15: <br />Hội tranh cây mộc tất làng Long Khám ở xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du. <br />Mùng 7-9: <br />Hội làng Tiến Bào ở Tiến Bào, xã Phù khê, huyện Từ Sơn <br />Hội làng Nguyễn Thụ ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn. <br />Hội làng Lễ Xuyên ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn. <br />Hội làng Yên Lã ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn. <br />Hội chùa Tiêu ở xã Tương Giang, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 8¬-10: <br />Hội làng Cẩm Giang ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 10: <br />Hội làng Tam Tảo ở Phú Lâm, huyện Tiên Du. <br />Hội làng Đông Phù (Phú Lâm ¬Tiên Du) có trò rồng rắn đuổi bệt. <br />Mùng 10 - 12: <br />Hội Làng Yên Mẫn, phường Kinh Bắc, Thành phố Bắc Ninh <br />Ngày 14: <br />Hội chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ. <br />Ngày 14¬-15: <br />Hội chùa làng Nghiêm Xá ở xã Việt Hùng, huyện Quế Võ. <br />Ngày 12¬-16: <br />Hội đình Đình Bảng (Đình Bảng ¬Từ Sơn) có đón chạ Cẩm Giang và thi đấu vật. <br />Ngày 26: <br />Hội làng Tiến Sĩ Kim Đôi ở xã Kim Chân, huyện Quế Võ. <br />Ngày 28: Hội chiến thắng Như Nguyệt ở xã Tam Giang, huyện Yên Phong. <br />Tháng 3: <br />Mùng 4 Hội làng Phúc Tinh ở xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 8: <br />Hội làng Trang Liệt ở xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn. <br />Hội làng Phù Lưu ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn. <br />Mùng 10: <br />Hội làng Tiểu Than- Lễ rước Lăng Mộ Cao Lỗ Vương (Vạn Ninh ¬Gia Bình). <br />Hội đền Cao Lỗ Vương ở làng Đại Than ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình. <br />Hội &quot;Thất thôn giao kiệt&quot; làng Phú Mẫn ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong. <br />Hội làng Mẫn Xá, huyện Yên Phong <br />Ngày 15¬-17: <br />Hội đền Lý Bát Đế ở xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn. <br />Ngày 18¬-20: <br />Hội Đậu (Mộ Đạo ¬Quế Võ) có thi thả diều, bơi chải. <br />Ngày 24: Hội chùa Bút Tháp ở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành. <br />Tháng 4: <br />Mùng 1:Hội đền Phụ Quốc(Xóm miễu-Tam Tảo-Phú Lâm-Tiên Du-Bắc Ninh) <br />Mùng 7: <br />Hội Khám (Hội chùa Linh Ứng), làng Ngọc Khám ở xã Gia Đông, huyện Thuận Thành. <br />Mùng 8: <br />Hội Dâu (Chùa Dâu) ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành. <br />Mùng 9: <br />Hội làng Vó (Quảng Bố) ở xã Quảng Phú, huyện Lương Tài. <br />Mùng 10: <br />Hội làng Bưởi (Đại Bái) ở xã Đại Bái, huyện Gia Bình. <br />Hội đền Thánh Tổ (Bồ Tát) ở Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh. <br />Ngày 15: <br />Hội đền Xà ở xã Tam Giang, huyện Yên Phong. <br />Ngày 20: <br />Hội đền Vân Mẫu ở xã Vân Dương, huyện Quế Võ. <br />Tháng 8: <br />Mùng 1-7: <br />Hội làng Phấn Động ở xã Tam Đa, huyện Yên Phong. <br />Mùng 5: <br />Hội làng Đông Xá ở xã Đông Phong, huyện Yên Phong. <br />Mùng 7: <br />Hội rước nước làng Thị Cầu ở phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh. <br />Ngày 14: <br />Hội rước nước đền Phả Lại ở xã Đức Long, huyện Quế Võ. <br />Ngày 15¬-16: <br />Hội đền Chi Long ở xã Long Châu, huyện Yên Phong. <br />Tháng 9: <br />Mùng 8-¬9: <br />Hội chùa Dạm ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ. <br />Mùng 10-18: <br />Mùng 23: <br />Giỗ bà Lý Chiêu Hoàng tại Đền Rồng, Đình Bảng, Thị xã Từ Sơn. <br />Hội thi nói khoác làng Đông Yên ở xã Đông Phong, huyện Yên Phong. <br />Ngày 29 <br />Giỗ tổ làng nghề Đại Bái (bưởi) thuộc xã Đại Bái <br />Tháng 10: <br />Ngày 15: <br />Hội thi giã bánh dầy làng Đạo Chân ở xã Kim Chân, huyện Quế Võ<br /><br />CHÙA TIÊU - TRUNG TÂM PHẬT GIÁO XƯA CỦA NGƯỜI VIỆT<br /><br />Chùa Tiêu, còn có tên là chùa Thiên Tâm hay Tiêu Sơn tự, là chùa nằm trên lưng chừng núi Tiêu. Nay thuộc xã Tương Giang, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Tiêu là một danh thắng nổi tiếng và cũng là trung tâm Phật giáo cổ xưa của Việt Nam.<br /><br />Những công trình còn lại của chùa hiện nay là sản phẩm kiến trúc nghệ thuật thời nhà Lê đến nhà Nguyễn. Chùa Tiêu hầu như không bị ảnh hưởng bởi các biến cố lịch sử qua nhiều thời kỳ và chỉ cách thủ đô Hà Nội khoảng 20 km.<br /><br />Từ xưa, ở đây, núi bắc, sông nam sơn thủy hữu tình, con sông Tiêu Tương chảy qua bây giờ đã biến thành đồng ruộng, làng mạc trù phú. Dấu ấn một thời chỉ còn lại là một cái hồ sen dưới chân núi trước cửa chùa.<br /><br />Theo truyền thuyết, bà Phạm Thị &quot;đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với thần nhân giao hợp rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình năm thứ 9 (974) đời Đinh&quot;. Hiện ở chùa còn có bia đá Lý gia linh thạch có ghi rằng &quot;Đắc Đông Ngàn Hoa Lâm nhân Phạm Mẫu tiêu dao kỳ tự&quot; (Phạm Mẫu người Hoa Lâm Đông Ngàn thường vãn cảnh chùa).<br /><br />ĐỀN ĐÔ - ĐỀN LÝ BÁT ĐẾ<br />Đền Lý Bát Đế, còn gọi là Đền Đô hoặc Cổ Pháp điện là nơi thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý. Đây là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng được bảo tồn khá trọn vẹn, nơi tưởng niệm và phụng thờ của toàn dân đối với các vị vua nhà Lý.<br /><br />Với vị thế, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Việt và in đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đền Lý Bát Đế đã được Nhà nước Việt Nam công nhận là di tích lịch sử - văn hóa theo Quyết định số 154 của Bộ Văn hóa-Thông tin cũ, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 25/01/1991.<br /><br />Khái quát<br />Đền Lý Bát Đế thuộc xóm Thượng, làng (xã) Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.<br /><br />Đền nằm trên vùng đất &quot;địa linh nhân kiệt&quot; Đình Bảng, cách thủ đô Hà Nội gần 20 km về phía Bắc, thuộc địa phận hương Cổ Pháp, châu Cổ Pháp (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) nên còn gọi là đền Cổ Pháp.<br /><br />Đền thờ tám vị vua nhà Lý, đó là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009-1028); Lý Thái Tông (1028-1054); Lý Thánh Tông (1054-1072); Lý Nhân Tông (1072-1128); Lý Thần Tông (1128-1138); Lý Anh Tông (1138-1175); Lý Cao Tông (1175-1210) và Lý Huệ Tông (1210-1224).<br /><br />Từ xa xưa, Cổ Pháp được liệt vào làng &quot;tam cổ&quot;: &quot;Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp&quot;. Đất Cổ Pháp là nơi thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, vượng khí, linh thiêng. Làng Cổ Pháp là nơi phát tích của triều đình nhà Lý, kéo dài hơn 200 năm.<br /><br />Đền Lý Bát Đế được khởi công xây dựng từ ngày 3 tháng Ba năm Canh Ngọ 1030 bởi Lý Thái Tông khi vị hoàng đế này về quê làm giỗ cha. Sau này, đền được nhiều lần trung tu và mở rộng. Lần trùng tu lớn nhất là vào năm thứ hai niên hiệu Hoàng Định của vua Lê Kính Tông (tức năm 1620), khắc văn bia ghi lại công đức của các vị vua triều Lý.<br /><br />Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đã phá hủy nhiều di sản văn hóa ở Cổ Pháp. Năm 1952, quân Pháp dội bom, phá hủy hoàn toàn đền. Đến năm 1989, đền đã được khởi công xây dựng lại, theo đúng hình dáng và kiến trúc mà các nhà nghiên cứu lịch sử đã phác thảo, căn cứ vào dấu tích còn lại và các tài liệu lưu trữ.<br /><br />Kiến trúc<br /><br />Thủy đình của Đền Đô - Đền Lý Bát Đế rộng 31.250 m², với trên 20 hạng mục công trình, chia thành 2 khu vực: nội thành và ngoại thành. Tất cả đều được xây dựng công phu, đắp vẽ chạm khắc tinh xảo.<br /><br />Khu vực nội thành có kiến trúc theo kiểu &quot;nội công ngoại quốc&quot;. Cổng vào nội thành gọi là Ngũ Long Môn vì hai cánh cổng có trạm khắc hình năm con rồng. Trung tâm của Khu nội thành và cũng là trung tâm đền là chính điện. Chính điện gồm trước tiên là Phương đình (nhà vuông) 8 mái 3 gian rộng đến 70 m². Tiếp đến nhà Tiền tế 7 gian rộng 220 m². Tại đây có điện thờ vua Lý Thái Tổ. Phía bên trái điện thờ có treo tấm bảng ghi lại &quot;Chiếu dời đô&quot; của vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Phía bên phải có treo tấm bảng ghi bài thơ nổi tiếng của Lý Thường Kiệt: &quot;Nam quốc sơn hà Nam đế cư...&quot;. Sau cùng là Cổ Pháp điện gồm 7 gian rộng 180 m² là nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượng của 8 vị vua nhà Lý. Gian giữa là nơi thờ Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông; ba gian bên phải lần lượt thờ Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông; ba gian bên trái lần lượt thờ Lý Anh Tông, Lý Huệ Tông và Lý Cao Tông.<br /><br />Trong nội thành còn có nhà chuyển bồng, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại, nhà tiền tế, nhà để kiệu thờ, nhà để ngựa thờ. Đặc biệt, phía Đông đền có nhà bia, nơi đặt &quot;Cổ Pháp Điện Tạo Bi&quot; (bia đền Cổ Pháp). Tấm bia đá này cao 190 cm, rộng 103 cm, dày 17 cm, được khắc dựng năm Giáp Thìn (1605), do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, ghi lại sự kiện lịch sử nhà Lê xây dựng lại đền và ghi công đức của các vị vua triều Lý.<br /><br />Khu ngoại thất đền Lý Bát Đế gồm thủy đình trên hồ bán nguyệt. Đây là nơi để các chức sắc ngày trước ngồi xem biểu diễn rối nước. Hồ này thông với ao Cả trên và ao Cả dưới và sông Tiêu Tương xưa. Thủy đình ở phía Bắc hồ rộng 5 gian có kiến trúc chồng diêm 8 mái, 8 đao cong. Thủy đình đền Lý Bát Đế từng được Ngân hàng Đông Dương thời Pháp thuộc chọn là hình ảnh in trên giấy bạc &quot;năm đồng vàng&quot;. Nhà văn chỉ ba gian chồng diêm rộng 100 m² nằm bên trái khu nội thành thờ Tô Hiến Thành và Lý Đạo Thành, những quan văn đã có công lớn giúp nhà Lý. Nhà võ chỉ có kiến trúc tương tự nhà văn chỉ, ở bên phải khu nội thành thờ Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc, những quan võ đã có công lớn giúp nhà Lý. Ngoài ra, ở khu vực ngoại thành còn có nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách và đền vua Bà (thờ Lý Chiêu Hoàng, còn gọi là đền Rồng), v.v...<br />Bát Đế vân du<br /><br />Hoành phi với bốn chữ: &quot;liên hoa bát diệp&quot; (bông sen tám cánh) để chỉ tám đời vua nhà LýTrong khi hướng dẫn du khách tham quan, các cụ trong Ban Quản lý di tích đền kể lại, không phải chỉ một lần, vào những ngày giỗ các vị vua Lý, trên nóc đền thường xuất hiện 8 đám mây trắng xếp thành một dải nối tiếp nhau. Đám mây hiện hữu khoảng mươi, mười lăm phút rồi mới tản ra. Những người dự lễ xôn xao bàn tán. Các cụ bảo, đó là linh hồn 8 vị vua Lý hiện về. Lại nữa, vào đúng ngày Lễ hội đền Đô năm 2003 (15-3 âm lịch - ngày Lý Công Uẩn đăng quang), những người dự lễ hội tại đây đã chứng kiến một hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ: Một dải mây hình rồng vàng từ phía Thăng Long - Hà Nội bay về đứng lên nóc đền một lúc rồi tản ra, đúng lúc dân làng Đình Bảng bắt đầu lễ rước &quot;Linh bài Lý Thái Tổ và Chiếu dời đô ra Thăng Long&quot; theo nghi lễ cổ truyền... Những câu chuyện và hình ảnh ấy được ghi chép, chụp ảnh và lưu lại trong những tài liệu về đền Đô. Các nhà khoa học giải thích, đó chỉ là sự trùng hợp kỳ lạ của thiên nhiên. Nhưng với người dân Đình Bảng, điều đó có nghĩa là các vị vua nhà Lý vẫn luôn hiện diện đâu đó trên mảnh đất quê nhà.<br /><br />Hội Đền<br />Đền là trung tâm thờ các vua Lý với nhiều nghi thức rất trọng thể trong các dịp lễ hàng năm, kỷ niệm ngày mất của các vị vua. Đặc biệt lễ hội đền Đô được tổ chức vào các ngày 15, 16, 17 tháng 3 âm lịch nhằm kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang (ngày 15/3 năm Canh Tuất 1010). Đây là ngày hội lớn mang tính quốc gia, thu hút hàng vạn khách hành hương thể hiện lòng thành kính và nhớ ơn của người dân Việt đối với các vua Lý. Đó còn là lễ hội truyền thống có từ lâu đời và trở thành phong tục được nhân dân xã Đình Bảng tự nguyện lưu giữ, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.<br /><br />CHÙA PHẬT TÍCH<br /><br />Theo tài liệu cổ thì Chùa Phật tích được xây dựng vào năm Thái bình thứ 4 ( 1057 ) với nhiều tòa ngang dãy dọc, chùa được xây dựng vào thời Nhà Lý ( Chùa này nay không còn nữa)<br />vào thơi nhà Lý( Năm 1066 ) Vua Lý Thánh Tông cho xay dựng một tòa thap cao, sau khi tháp đo mơi lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích.<br /><br />Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686) ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: &quot;Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc, phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá...&quot;<br /><br />Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ &quot;Phật&quot; dài tới 5 m, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Bà Nguyên phi Ỷ Lan có đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích.<br /><br />Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ &quot;Bảo Hoa dư bút&quot; dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ).<br /><br />Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự. Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am - đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: &quot;... Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, lầu rộng và tay rồng với tới trời sao,cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng...&quot;. Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.<br /><br />Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá nhiều. Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947.<br /><br />Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A-di-đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử-văn hoá.<br /><br />Kiến trúc<br />Chùa được kiến trúc theo kiểu &quot;nội công ngoại quốc&quot;, sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ. Bên phải chùa là Miếu thờ Đức chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này, có câu đối &quot;Đệ nhất cung thần quy Phật địa. Thập tam đình vũ thứ tiên hương&quot;. Bà chẳng những có công lớn trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Bên trái chùa chính là nhà tổ đệ nhất thờ Chuyết chuyết Lý Thiên Tộ. Ông mất tại đây năm 1644 thọ 55 tuổi, hiện nay chùa còn giữ được pho tượng của Chuyết công đã kết hỏa lúc đang ngồi thiền.<br /><br />Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị Tam thế Phật, 8 gian nhà tổ và 7 gian nhà thờ thánh Mẫu.<br /><br />Ngôi chùa có kiến trúc của thời Lý, thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi. Các nền hình chữ nhật dài khoảng 60 m, rộng khoảng 33 m, mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật.<br /><br />Theo tương truyền, bậc nền thứ nhất là sân chùa với vườn hoa mẫu đơn, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên: &quot;...Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên...&quot; Do tích này, trước đây chùa Phật Tích mở hội Hoa Mẫu Đơn hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng để nhân dân xem hoa và các văn nhân thi sĩ bình thơ.<br /><br />Bậc nền thứ hai là nơi có các kiến trúc cổ ngày nay không còn được thấy. Khi đào xuống nền ngôi chùa này, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều di vật điêu khắc thời nhà Lý và nền móng của một ngôi tháp gạch hình vuông, mỗi cạnh dài 8,5 m.<br /><br />Nền thứ ba cao nhất, có Long Trì (Ao Rồng) là một cái ao hình chữ nhật, đã cạn nước.<br /><br />Sau sân nền có 32 tháp xây bằng gạch và đá là nơi cất giữ xá lị của các nhà sư từng trụ trì ở đây, phần lớn được dựng vào thế kỷ 17.<br /><br />Nhiều tác phẩm điêu khắc thời nhà Lý còn được giữ tại chùa cho đến nay. Ngay ở bậc thềm thứ hai, có 10 tượng thú bằng đá cao 10 m, gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa, mỗi loại hai con, nằm trên bệ hoa sen tạc liền bằng những khối đá lớn.<br /><br />Giữa chùa là pho tượng Phật bằng đá xanh ngồi thiền định trên tòa sen, cao 1,85 m. Trên bệ và trong những cánh sen, có những hình rồng và hoa lá đặc trưng cho thời Lý. Ở chùa còn có những di vật thời Lý khác như đá ốp tường, đấu kê,...trên đó chạm khắc các hình Kim Cương, Hộ Pháp, các nhạc công, vũ nữ v.v...<br /><br />Trong Ức Trai Thi Tập, Nguyễn Trãi có bài thơ vịnh cảnh chùa Phật Tích:<br /><br />Đoản trạo hệ tà dương <br />Thông thông yết thượng phương <br />Vần quy thiền sáp lãnh <br />Hoa lạc giản lưu hương <br />Nhật mộ viên thanh cấp <br />Sơn không trúc ảnh trường <br />Có trung chân hữu ý <br />Dục ngữ hốt hoàn vương. Bóng xế thuyền con buộc <br />Vội lên lễ Phật đài <br />Mây về giường sãi lạnh <br />Hoa rụng suối hương trôi <br />Chiều tối vượn kêu rộn <br />Núi quang, trúc bóng dài <br />Ở trong dường có ý <br />Muốn nói bỗng quên rồi. <br /><br />Hàng năm vào ngày 4 tết Nguyên Đán, nhân dân Phật Tích thường mở hội truyền thống để tưởng nhớ công lao các vị tiền bối đã khai sinh và tu tạo chùa. Trong những ngày xuân tưng bừng ấy, khách thập phương về đây lễ Phật, hái hoa mẫu đơn, thưởng ngoạn cảnh đẹp vùng Kinh Bắc hoặc tham dự các trò chơi ngày hội như đấu vật, chơi cờ, đánh đu, hát quan họ...<br />Di cốt của sư tổ<br /><br />Tượng táng thiền sư Chuyết Chuyết tại chùa Phật TíchNăm 1988, đã xảy ra một vụ trộm tại khu tháp này: Kẻ gian đã nạy cửa tháp Báo Nghiêm để kiếm vàng và đồ cổ. Chúng đã vứt ra một vại sành trong đó có chứa di cốt người và những mảnh bó cốt có cấu tạo giống như mảnh bồi của tượng nhà sư chùa Đậu.<br /><br />Phó tiến sỹ Nguyễn Lân Cường cho biết: &quot;Rất tiếc, vị sư trụ trì của chùa đã mất từ trước khi vụ trộm xảy ra cách đó 8 năm. Khi đến thôn Rao Mộc, cách chùa 15 km, chúng tôi gặp cụ Nguyễn Chí Triệu vốn là sư bác ở chùa 45 năm về trước. Theo lời cụ Triệu, trước đây, trong khán thờ có một pho tượng của sư tổ, chân xếp bằng tròn theo thế ngồi thiền, hai tay đặt trước bụng, lòng bàn tay ngửa.&quot;<br /><br />Ngày nay, các nhà khoa học đã xác định đây là di cốt của thiền sư Chuyết Chuyết, đã viên tịch tại chùa Phật Tích.<br /><br />Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy tất cả 133 mảnh xương và 209 mảnh bồi. Trong số này có đốt sống, xương đùi, xương chày, một phần xương hàm trên, đặc biệt có một xương hàm dưới, một phần xương trán cùng hốc mắt phải đính với hai mũi. Dựa vào các xương chi, các nhà khoa học tính toán chiều cao của nhà sư khoảng 1,6 m. Qua phân tích cấu tạo của khuyết hông và khớp mu, các nhà khoa học khẳng định đây là di hài của một nhà sư nam khoảng 65 - 70 tuổi.<br /><br />Khi nghiên cứu những mảnh bồi, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một đoạn dây đồng đã gỉ mầu xanh. Điều này chứng tỏ: Sau khi cải táng, người ta lấy xương của nhà sư đã tịch, đem dựng khung tạo thành hình ngồi thiền, rồi mới bồi ra bên ngoài để tạo tượng. Điều này khác với kỹ thuật tạo tượng nhà sư Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu.<br /><br />Với mong muốn phục nguyên di hài thiền sư ở chùa Phật Tích, nhóm các nhà khoa học do PTS Nguyễn Lân Cường chỉ đạo đã áp dụng phương pháp Guerasimov phục hồi mặt theo xương sọ.<br /><br />Ngày 12 tháng 1 năm 1993, các nhà khoa học bắt tay tiến hành phục nguyên di hài. Trước hết, họ dựng tượng nhà sư bằng đất sét theo phương pháp Guerasimov; đổ khuôn thạch cao tạo các mảnh khuôn rồi gỡ các mảnh khuôn, phá tượng đất đi. Sau đó, họ bôi sơn ta, lót vải màn, rắc mạt cưa trộn sơn ta và gắn xương vào đúng vị trí. Để thành tượng, các nhà khoa học phá tiếp khuôn thạch cao, gỡ các mảnh bó cốt và gắn lại. Cuối cùng, họ đem thếp bạc rồi quang dầu lên tượng. Sau khi tượng được hoàn thành, tại khu vực này đã diễn ra lễ rước tượng về chùa Phật Tích với sự tham dự của hàng nghìn người dân. Đây là lần đầu tiên Việt Nam phục nguyên thành công một pho tượng theo phương pháp Guerasimov kết hợp với sơn ta cổ truyền của dân tộc.<br />Phá dỡ và phục dựng<br />Theo Vietnamnet, ngày 23 tháng 11 năm 2008 khi các đoàn khảo cổ học quốc tế về Hoàng thành Thăng Long, gồm các chuyên gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Bỉ do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức đến tham quan nghiên cứu chùa Phật Tích, thì chứng kiến một thực trạng tan hoang tại nơi đây[1]. Nền chùa cổ đã bị đào phá bằng máy xúc và đang xây mới, các hiện vật quý bị vứt ngổn ngang khắp nơi.<br /><br />Khai quang Phật ngọc<br />Tối 16 tháng 5 năm 2009, tượng Phật ngọc được làm từ khối ngọc thạch 18 tấn. Nhân dân địa phương và một số tỉnh xa cùng về chiêm bái. Sân khấu nơi đặt tượng đã được hoàn tất và sẵn sàng cho đại lễ diễn ra vào buổi tối. 800 ghế cho các đại biểu đã được ban tổ chức bố trí trong khuôn viên chùa ngay phía trước bức tượng Phật Ngọc<br /><br />CHÙA BÚT THÁP<br /><br />Để xác định chùa có từ bao giờ thì chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra một tài liệu chính xác. Theo sách Địa chí Hà Bắc (1982) thì chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) đã trụ trì ở đây. Ông cho dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Ngọn tháp này nay không còn nữa. Đến thế kỷ 17, chùa đã trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là &quot;Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư&quot;. Tiếp đó, người kế nghiệp trụ trì chùa Bút Tháp là Thiền sư Minh Hạnh, học trò xuất sắc của Hòa thượng Chuyết Chuyết. Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (Diện Viên) đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (Diệu Tuệ), xin phép Chúa Trịnh Tráng, rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Chùa kiến trúc theo kiểu &quot;Nội Công Ngoại Quốc&quot;. Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp hiện nay chính là ngôi chùa được xây dựng trong thời kỳ đó.<br /><br />Đời vua Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm.<br /><br />Chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào năm 1992-1996. Đây là ngôi chùa có kiến trúc quy mô hoàn chỉnh nhất còn lại ở Việt Nam.<br /><br />Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử và nghệ thuật, chùa Bút Tháp đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin xếp hạng là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962.<br /><br />Kiến trúc<br />Đây là một trong không nhiều ngôn chùa cổ, có quy mô kiến trúc lớn của Đồng bằng Bắc Bộ còn lại đến ngày nay. Chùa có kiến trúc độc đáo, bố cục hài hòa giữa kiến trúc với môi trường thiên nhiên. Toàn bộ kiến trúc chính của chùa quay theo hướng Nam, một hướng truyền thống của người Việt. Đối với đạo Phật hướng Nam là hướng của trí tuệ, của bát nhã.<br /><br />Quần thể kiến trúc còn giữ lại nhiều di tích của thế kỷ 17. Cụm kiến trúc trung tâm ở Chùa Bút Tháp bao gồm 8 đơn nguyên chạy xong hành được bố trí đăng đối trên một đường &quot;Thần Đạo&quot; và được bao bọc bởi hai dãy hành lang chạy suốt dọc chùa ở hai bên, đó là tòa Tiền Đường Thượng Điện, cầu đá tòa Thích Thiện Am Trung Đường, phủ thờ nhà Hậu Đường và hàng tháp đá. Sự bố trí chặt chẽ ở khu vực trung tâm này thể hiện một nội dung tư tưởng về giáo lý của đạo Phật. Phật điện của chùa gần như nguyên sơ của chùa cổ Việt Nam, gồm 10 nếp nhà nằm trên một trục dài hơn 100 m. Qua cửa Tam quan, đến gác chuông hai tầng, tám mái.<br /><br />Chùa chính với 3 dãy nhà Tiền đường - Thiên hương - Thượng điện tạo thành chữ &quot;công&quot;. Cách bố trí như vậy làm nổi bật điện thờ bên trong với các pho tượng.<br /><br />Kiến trúc chùa vẫn dùng khung gỗ chịu lực nhưng nền bệ lan can dùng đá rất phổ biến, trên có những hình động vật được khắc trông sinh động và độc đáo. Trang trí được thể hiện ở mọi nơi trên các chất liệu gỗ và đá, ở kiến trúc và ở các đồ thờ. Đặc biệt trên lan can tòa Thượng Điện có 26 bức chạm khắc đá, trên lan can cầu đá nối với Tòa Thích Thiện Am có 12 bức và ở lan can quanh chân tháp Báo Nghiêm có 13 bức. Như vậy tổng cộng các bức trạm khắc đá ở chùa Bút Tháp là 51 với những đề tài khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau ở mặt chất liệu, phong cách và thống nhất về niên đại.<br /><br />Hình ảnh chạm khắc ở đây sống động tươi vui hàm chứa ý nghĩa Phật đạo và đặc biệt mang đậm nét tính chất nghệ thuật thiền. Các bức chạm đều tập trung về đề tài thiên nhiên phong phú sinh động như Tứ Linh Quý.<br /><br />Tượng phật Quan Âm nghìn tay nghìn mắt<br />Đáng chú ý nhất ở chùa là tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay nổi tiếng do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656. Tượng cao 3,7 m, ngang 2,1 m, dày 1,15 m. Cánh tay xa nhất có chiều dài là 200 cm. Tượng có 11 đầu, 42 tay lớn và 789 tay dài ngắn khác nhau. Tính từ đài sen lên, tượng cao 235 cm. Đầu rồng đội tòa sen cao 30 cm, bệ tượng cao 54 cm. Đây được coi là một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng - nghệ thuật làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng thứ ngôn ngữ tạo hình hàm súc. Phật ngồi trên toà sen hồng qua bệ tượng hình vuông được trang trí bằng những nét chạm khắc cổ với dáng hành đạo, thư thái, đôi mắt quảng đại như bao quát cả không gian vũ trụ. Ở đây có nhiều mô tip quen thuộc được trang trí ở chùa Việt Nam như hoa lá, cây cảnh cùng các con vật - trong đó có rồng - ngư với viên ngọc; lân với quả cầu; quạt hai vòng tròn, sóng nước, hoa sen,... Tượng Quan Âm hai tay chắp trước ngực, hai tay để trên đùi với những ngón tay đan chéo biểu tượng cho dáng hành đạo và nhập định; các chùm tay để trần từ sườn, vai, lưng, trên người; những tay được xếp vòng tròn từ lớn đến nhỏ hướng vào tâm (ngay sau gáy Phật) trong lòng mỗi bàn tay lại hiện lên một con mắt. Nhìn tổng thể tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay như những vòng hào quang toả ra từ tâm điểm.<br /><br />Hai kiệt tác điêu khắc khác nữa làm thành một bộ ba tác phẩm danh bất hư truyền là tượng Tây Thiên Đông Độ Việt Nam lịch đại Tổ sư và tượng Thị Kính. Pho tượng Tuyết Sơn ở đây cũng là một kiệt tác của thế kỷ 17. Qua nhà tiền đường là đến nhà thiêu hương.<br /><br />Ngoài ra, trong chùa có hơn 70 pho tượng gỗ được tạc trong tư thế quỳ, đứng, ngồi với nét mặt thành kính trông rất sinh động như pho tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ,... còn tượng La Hán lại thể hiện cảm xúc nội tâm, mang nặng ý tưởng Phật giáo.<br /><br />Phủ thờ nằm sau Phật điện là ngôi nhà 5 gian có hai pho tượng đáng chú ý. Hai pho tượng này là chân dung hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (nhà Lê) đầu đội vương miện nhưng khoác áo tu hành, và công chúa Ngọc Duyên. Cả hai pho tượng đều ngồi theo dáng toạ thiền.<br /><br />Từ thượng điện, đi qua một chiếc cầu đá có ba nhịp uốn cong dẫn đến ngôi nhà gọi là Tích Thiện am. Trên cầu có 12 bức phù điêu đá chạm chim muông hoa lá. Tích Thiện am là một ngôi nhà có ba tầng mái.<br /><br />Trong Tích thiện am, có cây Cửu Phẩm Liên Hoa, là một tháp bằng gỗ 9 tầng, 8 mặt, có thể quay tròn quanh một trục, có gắn tượng Phật và chạm những cảnh dân gian hay lấy đề tài trong Phật thoại.<br /><br />Tháp Bảo Nghiêm<br /><br />Tháp Bảo Nghiêm chùa Bút ThápChùa có tháp Bảo Nghiêm thờ Hoà thượng Chuyết Chuyết, trông tháp giống như cây bút khổng lồ vươn thẳng tới trời cao thanh vắng. Tháp cao 13,05 m, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh; ngoài tầng đáy rộng hơn, bốn tầng trên gần giống nhau, rộng 2 m. Năm góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29 m. Ngoài kỹ thuật xây dựng đá, phần bệ tượng được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của toà tháp này có mười ba bức chạm đá với lấy đề tài chủ yếu là các con thú. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br />Bac Ninh co nhieu ngay le vay ah bac. hom nao co dip bon em sang ben do bac lam huong dan vien cho bon em nhe!

qpham
27-05-2012, 09:01 AM
Dear all<br />Các bạn có thể cho up thông tin các tour tuyến tham quan đền chùa tại Bắc Ninh thời gian tham quan 01 ngày khởi hành từ HN cũng như dịch vụ ăn uống nhé...<br /><br />Many thanks.

thaogii
27-05-2012, 09:01 AM
<!--quoteo(post=42946:date=17/08/2009 - 09:19 AM:name=Go play)--><div class='quotetop'>QUOTE(Go play @ 17/08/2009 - 09:19 AM) <a href="index.php?act=findpost&amp;pid=42946"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->Dear all<br />Các bạn có thể cho up thông tin các tour tuyến tham quan đền chùa tại Bắc Ninh thời gian tham quan 01 ngày khởi hành từ HN cũng như dịch vụ ăn uống nhé...<br /><br />Many thanks.<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Ok. Ban de lasi dia chi Mail di minh gui cho ban.

utes
27-05-2012, 09:01 AM
To DULICHMINHTAM<br /><br />Bạn vui lòng gửi vào mail: <a href="mailto:asiaadventures.tung@yahoo.com">asiaadventures.tung@yahoo.com</a><br />Many thanks<br />Mr Tung

ngphk
27-05-2012, 09:01 AM
<!--quoteo(post=42979:date=17/08/2009 - 12:45 PM:name=DULICHMINHTAM)--><div class='quotetop'>QUOTE(DULICHMINHTAM @ 17/08/2009 - 12:45 PM) <a href="index.php?act=findpost&amp;pid=42979"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->Ok. Ban de lasi dia chi Mail di minh gui cho ban.<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br />anh ơi em nữa. em cũng đang có ý định thăm quan 1 ngày tại bắc ninh.em chưa bao giờ tới đó cả. lên em tò mò và mún tìm hiểu.ok <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/wink.gif" style="vertical-align:middle" emoid=";)" border="0" alt="wink.gif" /> <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/tongue.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":P" border="0" alt="tongue.gif" />

chanvietco
27-05-2012, 09:01 AM
<!--quoteo(post=43581:date=27/08/2009 - 11:32 AM:name=kung_iu)--><div class='quotetop'>QUOTE(kung_iu @ 27/08/2009 - 11:32 AM) <a href="index.php?act=findpost&amp;pid=43581"><{POST_SNAPBACK}></a></div><div class='quotemain'><!--quotec-->anh ơi em nữa. em cũng đang có ý định thăm quan 1 ngày tại bắc ninh.em chưa bao giờ tới đó cả. lên em tò mò và mún tìm hiểu.ok <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/wink.gif" style="vertical-align:middle" emoid=";)" border="0" alt="wink.gif" /> <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/tongue.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":P" border="0" alt="tongue.gif" /><!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br /><!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Mấy ngày bận quá không up chương trình cho các bạn được:<br /><br />Lịch trình cụ thể:<br /><br />- 6h30 xuất phát từ Hà Nội.<br />- 7h30 thăm và dâng hương tại Đền Đô ( Nơi thờ 8 vị vua đờ Lý) ( Có thể thăm thêm di tích lịch sử đình làng Đình Bảng )<br />- 9h30 thăm chùa Tiêu Sơn Tự ( Nơi Vua Lý Công Uẩn sống lúc nhỏ, tại đây còn lưu giữ nhục thể của Thiền Sư Thích Minh Trí hóa thân khi về cõi Niết Bàn )<br />- 11h ăn trưa. ( Sau hoặc trong bữa trưa có thể nghe hát hoặc giao lưu cùng các Liền Anh, Liền Chị Quan Họ. 1 canh hát Quan Họ giá khoảng 1000K )<br />- Buổi chiều có thể lựa chọn một trong số những ngôi chùa cổ tại Bắc Ninh như: Phật Tích, Bút Tháp, Dâu .....<br />- 18h về tới Hà Nội kết thúc chương trình du lich.<br /><br />Giá trọn gói cho 1 khách: 270k/ pax ( Áp dụng cho đoàn 15 pax)<br />Bao gồm: xe đưa đón, ăn trưa, nước uống, HDV, bảo hiểm, Vé thắng cảnh.<br />Không bao gồm chi phí tổ chức canh hát Quan họ.<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc-->