PDA

View Full Version : Cố đô Huế


psmvn
27-05-2012, 09:18 AM
Cầu bắc qua sông Hương <br /><br /> <br />Cầu Trường tiền<br /> <br />Trên sông Hương có hai cầu với tuổi thọ khoảng 100 năm là cầu Trường Tiền và cầu Bạch Hổ. Cầu tô điểm cho vẻ đẹp của con sông là cầu Trường Tiền. Cầu thứ ba là cầu Phú Xuân, xây năm 1973, cầu thứ tư là cầu Chợ Dinh và thứ năm là cầu Tuần xây năm 2003.<br /><br />Cầu Bạch Hổ: cầu dành cho đường sắt bắc qua sông Hương vào năm 1908 tại góc tây nam kinh doanh, bờ nam thuộc địa phận Phường Đúc. Cầu sơn màu đen cho nên dân gian cũng gọi là cầu Đen, nhưng ngày nay đã đổi thành màu trắng. Tên chữ của cầu là Dã Viên vì nó đi ngang qua cồn Dã Viên, nơi trước đây có đình tạ, vườn hoa, để làm nơi giải trí của các vua chúa. Các nhà nghiên cứu cho rằng tên Bạch Hổ thuộc về cây cầu Kim Long bắc qua Hộ Thành Hà.<br /><br />Con rùa vàng nằm trên cầu Bạch Hổ<br />Chiếc thuyền rồng đậu bến Thanh Long<br />Mặc ai một dạ hai lòng<br />Em đây thủ tiết loan phòng đợi anh (hò mái nhì).<br /><br />Cầu Chợ Dinh: cầu nối từ đường Nguyễn Gia Thiều sang gặp đường đi về đường đi về Thuận An ở đầu làng La Ỷ ở vị trí nhà máy bia Huda và chùa Ba La Mật. Cầu khánh thành vào tháng 4 năm 2003.<br /><br />Cầu Phú Xuân: cầu bắc qua sông Hương từ đường Lê Thánh Tôn (nay là đường Hà Nội) qua đường Trần Hưng Đạo ở vị trí bến xe Nguyễn Hoàng, được hãng Eiffel xây vào năm 1970-1971. Đường Quốc lộ 1 trước chạy qua cầu Dã Viên bấy giờ chuyển qua cầu này. Dân gian thường gọi là cầu mới.<br /><br />Cầu Trường Tiền: cầu qua sông Hương, đi từ ngã tư Lê Lợi- Hùng Vương ở bờ nam sang đường Trần Hưng Đạo ở bờ bắc. Cầu do công ty Eiffel của Pháp xây từ năm Thành Thái thứ chín (1897) đến năm Thành Thái thứ 11 (1899). Cầu dài 400 mét, rộng 6,2 mét gồm sáu vài (sáu gian), có bộ khung hình vòng cung. Cầu thoạt tiên mang tên vua Thành Thái. Nhưng sau khi vua Thành Thái bị Pháp đày sang đảo Réunion thì người Pháp đặt tên cầu là Clémnceau, theo tên của một Thủ tướng Pháp thời Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Năm 1945, cầu được đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng. Dân gian thì gọi là Trường Tiền vì gần đó, bên bờ bắc, có xưởng đúc tiền của quân Trịnh khi quân Đàng Ngoài vào chiếm đóng Thuận Hóa từ năm 1774 đến năm 1786. Sau này vào năm 1899 vua Thành Thái lại cho lập phố ở đây cũng lấy tên là phố Trường Tiền. Chiếc cầu cũng trải qua những cơn sóng gió: bị bão năm Thìn (1904) làm sập bốn nhịp, sửa chữa năm 1906 rồi sau đó bị đánh mình sập hai lần nữa vào vào năm 1946 trong chiến tranh với Pháp và 1968 trong chiến dịch Mậu Thân. Năm 1995, công ty Cầu Thăng Long trùng tu, xây lại hai nhịp cầu, nhưng lại đổi màu sơn truyền thống màu dụ bạc lấp lánh thành màu lam. Tất cả các bao lơn hình bán nguyệt trên mỗi nhịp cầu dành cho khách bộ hành đứng ngắm cảnh bị phá đi. Nhưng dù sao thì vẫn còn đó chiếc cầu nhìn xa xa trông giống như cái lược cài trên mái tóc sông Hương.<br /><br />Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp<br />Em qua không kịp thì tội lắm anh ơi<br />Ngờ đâu mà duyên trời sớm dứt, đêm em nằm tấm tức luỵ nhỏ tuôn rơi.<br />Bấy lâu ni mang tiếng chịu lời<br />Dẫu có xa nhau đi nữa cũng bởi ông Trời mà thôi. (hò mái nhì).<br /><br />Cầu Tuần: cầu xây phía hạ lưu chợ Tuần, bắc qua sông Hương gần lăng Minh Mạng, ở trên trục đường vành đai thành phố, gọi là đường tranh Huế, hoàn thành năm 2003.

huongttt
27-05-2012, 09:18 AM
KINH THÀNH<br /> <br /> <br />Nằm giữa dải đất miền Trung khí hậu khô cằn, hè nắng dội, đông mưa dầm, là một vùng non xanh nước biếc, phong cảnh kỳ tú trải dọc theo bờ con sông Hương xuôi ra biển Đông. Huế từ thời các chúa Nguyễn đã từng được chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong: Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long năm 1635-1687; Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Khoát dời phủ về Phú Xuân trong những năm 1687-1712; 1739-1774. Huế còn là kinh đô triều vua Quang Trung Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn, rồi một lần nữa chính thức trở thành kinh đô của cả nước Việt Nam khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn kéo dài suốt 143 năm. Với bề dày lịch sử gắn liền với chín đời cha ông nhà Nguyễn ở đây, không có gì khó hiểu khi vua Gia Long chọn mảnh đất nằm ở trung độ đất nước để làm kinh đô cho triều đại mình. <br /><br />Khởi công xây dựng năm 1805, Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha, có 10 cửa chính gồm: <br /><br />- Cửa Chính Bắc (còn gọi cửa Hậu, nằm ở mặt sau Kinh Thành). <br /><br />- Cửa Tây-Bắc (còn gọi cửa An Hòa, tên làng ở đây). <br /><br />- Cửa Chính Tây. <br /><br />- Cửa Tây-Nam (cửa Hữu, bên phải Kinh Thành). <br /><br />- Cửa Chính Nam (còn gọi cửa Nhà Đồ, do gần đó có Võ Khố - nhà để đồ binh khí, lập thời Gia Long). <br /><br />- Cửa Quảng Đức . <br /><br />- Cửa Thể Nhơn (tức cửa Ngăn, do trước đây có tường xây cao ngăn thành con đường dành cho vua ra bến sông). <br /><br />- Cửa Đông-Nam (còn gọi cửa Thượng Tứ do có Viện Thượng Kỵ và tàu ngựa nằm phía trong cửa). <br /><br />- Cửa Chính Đông (tức cửa Đông Ba, tên khu vực dân cư ở đây). <br /><br />- Cửa Đông-Bắc (còn có tên cửa Kẻ Trài) <br /> <br /><br />Ngoài ra Kinh Thành còn có 1 cửa thông với Trấn Bình Đài (thành phụ ở góc Đông Bắc của Kinh Thành, còn gọi là thành Mang Cá), có tên gọi là Trấn Bình Môn. <br /><br />Hai cửa bằng đường thủy thông Kinh Thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. <br /><br />Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Kinh Thành Huế là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học Trung Hoa cùng những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương Tây kiểu Vauban (tên một kiến trúc sư người Pháp cuối thế kỷ XVII) . <br /><br />Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh Thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ, đắp thành... kéo dài từ thời điểm tiến hành khảo sát năm 1803 (triều vua Gia Long) đến khi hoàn chỉnh vào năm 1832 (triều vua Minh Mạng). <br /> <br /><br />Với mục đích phòng thủ là chính, mặt bằng của thành có dạng hình vuông hơi khum ở phía trước theo địa hình dải đất dọc bờ sông Hương, mỗi mặt có các cổng thành, trên có vọng lâu dùng để quan sát. Các mặt thành lại được xây khúc khuỷu với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, kèm theo các pháo nhãn, đại bác, kho đạn... Thêm vào đó, hệ thống hào bao bọc ngay bên ngoài được đào gần 10km chiều dài. Riêng hệ thống sông đào (Hộ Thành Hà) vừa mang chức năng bảo vệ vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều dài hơn 7 km (đoạn ở phía Tây là sông Kẻ Vạn, đoạn phía Bắc là sông An Hòa, đoạn phía Đông là sông Đông Ba, riêng đoạn phía Nam dựa vào sông Hương). <br /><br />Dưới con mắt của các nhà địa lý phong thủy, Kinh Thành Huế nằm trên vùng ‘Vương đảo”, trong phạm vi được tạo ra bởi dòng chảy của sông Hương phía trước mặt và hai chi lưu gồm sông Bạch Yến, Kim Long chảy vòng mặt sau cùng hợp lại ở hạ lưu. Sông Hương đóng vai trò minh đường, cùng hai hòn đảo nhỏ Cồn Hến và cồn Dã Viên có vị thế Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ (rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải) chầu về trước Kinh Thành. Bên kia sông, không xa lắm là ngọn Bằng Sơn được đổi tên thành Ngự Bình, che chắn mặt trước Kinh Thành như một bức bình phong thiên nhiên, giữ chức năng tiền án. Kinh Thành và mọi công trình kiến trúc của Hoàng Thành, Tử Cấm Thành đều xoay về hướng Nam, hướng mà trong Kinh Dịch đã ghi “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ“ (ý nói vua quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ). <br /> <br /><br />Dựa trên các nguyên tắc của thuật phong thủy, các vua nhà Nguyễn đã kết hợp các yếu tố có sẵn trong địa hình tự nhiên như sông, núi, đảo... cùng sự can thiệp đúng chỗ của bàn tay con người khi lấp một số đoạn của sông Bạch Yến, Kim Long, đồng thời đào một loạt hệ thống sông, hào ở trong và ngoài Kinh Thành để phục vụ cho ý tưởng của mình. Tất cả những cố gắng trên không nằm ngoài ý nguyện định đô lâu dài của vương triều Nguyễn. Thật khó nhận ra sự sắp xếp gò ép trong một tổng thể hài hòa kiến trúc- thiên nhiên như thế. Không gây ấn tượng trấn áp tinh thần, cũng không có vẻ hoang sơ dã thảo, Kinh Thành Huế khiến cho người ta cảm nhận được đúng mức không khí tôn nghiêm nhưng không mất đi cảm giác êm đềm thư thái giữa thiên nhiên gần gũi. Bên cạnh đó, phong cách kiến trúc và cách bố phòng khiến Kinh Thành Huế thực sự như một pháo đài vĩ đại và kiên cố nhất từ trước đến nay ở Việt Nam mà Le Rey, một thuyền trưởng người Pháp đã từng đến Huế năm 1819 phải thốt lên: “Kinh Thành Huế thực sự là pháo đài đẹp nhất, đăng đối nhất ở Đông Dương, thậm chí so với cả pháo đài William ở Calcutta và Saint Georges ở Madras do người Anh xây dựng”. <br /> <br /> <br /> Huỳnh Thị Anh Vân

vuongthaivan
27-05-2012, 09:18 AM
KỲ ĐÀI<br /><br />Kỳ Đài, tục gọi Cột cờ là di tích kiến trúc thời Nguyễn. Kỳ Đài được xây dựng năm Gia Long thứ 6 (1807) ở vị trí chính giữa trên mặt nam của Kinh thành, thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh. Kỳ Đài gồm hai phần: đài cờ và cột cờ. Đài cờ là một cái đài đồ sộ gồm 3 tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau. Tầng thứ nhất cao hơn 5,5m, tầng giữa cao gần 6m, tầng trên cùng cao hơn 6m. Tổng cộng của ba tầng đài cao khoảng 17,5m. Chung quanh mỗi tầng đều có xây lan can, mặt nền của các tầng đài đều lát gạch Bát Tràng. Lối đi từ tầng dưới lên tầng trên cùng trổ ở mặt bắc. ở tầng trên cùng, xưa có hai điếm canh và pháo xưởng để bố trí các khẩu đại bác. Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm 2 tầng, cao gần 30m. Năm Thiệu Trị 6 (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài suốt hơn 32m. Đến năm Thành Thái 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn thổi gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa. Năm 1948, cột cờ bằng bê-tông cốt sắt với tổng chiều cao 37m hiện thấy mới được xây dựng.<br />Thời Nguyễn, trong tất cả các dịp lễ tiết, chầu mừng, tuần du cho đến việc cấp báo đều có hiệu cờ. Trên đỉnh cột cờ còn đặt một trạm quan sát gọi là Vọng Đẩu. Thỉnh thoảng, lính canh phải trèo lên Vọng Đẩu dùng kính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển.<br /> <br /><br />Cùng với những bước thăng trầm của Huế, Kỳ Đài là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Ngày 23/8/1945, lần đầu tiên lá cờ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tung bay phất phới trên đỉnh Kỳ Đài, báo hiệu sự chấm dứt của chế độ quân chủ. Kỳ Đài không chỉ là vị trí trung tâm của Thành phố Huế mà còn là một biểu tượng của mảnh đất Cố đô.

mickey
27-05-2012, 09:18 AM
CỬU VỊ THẦN CÔNG <br /> <br /> <br /> <br />Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, vua Gia Long ra lệnh tập trung tất cả khí dụng bằng đồng tịch thu được đúc thành 9 khẩu thần công để &quot;làm kỷ niệm muôn đời&quot; về chiến thắng của mình. Công việc được bắt đầu vào ngày 31-1-1803, hoàn tất vào cuối tháng 1 năm 1804. Mỗi khẩu dài 5,10m, nặng hơn 17.000 cân được đặt trên một giá súng và giá súng đều được chạm trổ cực kỳ công phu, tinh xảo.<br /><br />Cửu vị thần công được chia thành 2 nhóm: Nhóm bên tả xếp phía sau cửa Thể Nhơn gồm 4 khẩu, được đặt tên theo 4 mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông. Nhóm bên hữu xếp phía sau cửa Quảng Đức gồm 5 khẩu, được đặt tên theo ngũ hành: Kim - Mộc - Thuỷ - Hỏa - Thổ. Vào năm 1816, vua Gia Long sắc phong cho cả 9 khẩu đại bác này danh hiệu: &quot;Thần Oai Vô địch Thượng tướng quân&quot;. Danh hiệu này và nội dung bài sắc phong đều được khắc trên cả 9 khẩu.<br /><br /> <br />Triều đình cử riêng một đội hình thường xuyên túc trực bên cạnh Cửu Vị Thần công để bảo vệ, đồng thời cấp tiền để tổ chức lễ cúng tế có cả trâu (hoặc bò), lợn và dê. Kể từ sau năm 1886, lễ cúng tế này bị triều đình bãi bỏ do khó khăn về tài chính. Tuy nhiên, những người lính bảo vệ vẫn tự góp tiền mua hoa, quả, hương, trầm để cúng, vì họ sợ &quot;oai linh&quot; của Cửu vị Thần công. Cửu vị Thần công được đánh giá là một tác phẩm nghệ thuật bằng đồng có giá trị cao.

petrosetco
27-05-2012, 09:18 AM
HOÀNG THÀNH <br /> <br /> <br /> <br />Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đinh, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia. Người ta thường gọi chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là Đại Nội. <br /><br />Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833, mọi việc mới được hoàn tất. <br /><br />Hoàng Thành có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt. Cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy. <br /><br />Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong là khu vực cực kỳ trọng yếu, được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ nguyên tắc (tính từ trong ra): “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”. Ngay cả trong các miếu thờ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự “tả chiêu hữu mục” (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian). Các khu vực đó là: <br /><br />- Khu vực phòng vệ: gồm vòng thành bao quanh bên ngoài, cổng thành, các hồ (hào), cầu và đài quan sát. <br /><br />- Khu vực cử hành đại lễ: gồm từ Ngọ Môn, cửa chính của Hoàng Thành - nơi tổ chức lễ Duyệt Binh, lễ Truyền Lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), lễ Ban Sóc (ban lịch năm mới)... đến điện Thái Hòa - nơi cử hành các cuộc lễ Đại Triều một tháng 2 lần (vào ngày 1 và 15 Âm lịch ), lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ, lễ Quốc Khánh... <br /><br />- Khu vực miếu thờ: được bố trí ở phía trước, hai bên trục dọc của Hoàng Thành theo thứ tự từ trong ra gồm: bên trái có các miếu thờ Nguyễn Kim (Triệu Tổ Miếu), miếu thờ các vị chúa Nguyễn (Thái Tổ Miếu); bên phải có các miếu thờ Nguyễn Phúc Luân (Hưng Tổ Miếu) và miếu thờ các vị vua nhà Nguyễn (Thế Tổ Miếu). <br /><br />- Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua (phía sau, bên phải), gồm hệ thống cung Trường Sanh (dành cho các Thái hoàng Thái hậu) và cung Diên Thọ (dành cho các Hoàng Thái hậu). <br /><br />- Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí như vườn Cơ Hạ, điện Khâm văn... (phía sau, bên trái). <br /><br />- Ngoài ra còn có kho tàng (Phủ Nội Vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia (phía trước vườn Cơ Hạ) <br /><br />Khu vực Tử Cấm Thành nằm trên cùng một trục Bắc-Nam với Hoàng Thành và Kinh Thành, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều), điện Càn Thành (chỗ ở của vua), cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý phi), lầu Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương), nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường (nhà hát hoàng cung) ... <br /><br />Mặc dù có rất nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành nhưng tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm. Mặc dù quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu “trùng lương trùng thiềm” (hay còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” - kiểu nhà kép hai mái trên một nền), đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói Thanh lưu ly (nếu có màu xanh) hoặc Hoàng lưu ly (nếu có màu vàng). Các cột được sơn thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây). Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời. <br /> <br />Điều đáng nói ở đây là sự phân biệt nam nữ, lớn nhỏ, trên dưới theo địa vị, thứ bậc rõ ràng, áp dụng cho mọi đối tượng cho dù đó là thành viên trong hoàng tộc, là mẹ vua hay hoàng tử, công chúa. Nam có lối đi riêng, nữ có lối đi riêng, quan văn một bên, quan võ một bên. Tất cả nhất nhất đều chiếu theo quy định mà thực hiện, thể hiện rõ nét ý thức tập trung quân chủ, mọi quyền lực về tay nhà vua, đặc biệt là dưới triều vua Minh Mạng. <br /><br />Đến nay, trải qua bao biến động và thời gian, hàng trăm công trình kiến trúc ở Đại Nội chỉ còn lại ít ỏi chiếm không đầy một nửa con số ban đầu. Nhưng với tư cách là tài sản vô giá của dân tộc, là thành quả lao động của hàng vạn người trong suốt một thời gian dài, khu di tích Đại Nội đang dần được trả lại dáng xưa cùng các di tích khác nằm trong quần thể kiến trúc đã được cả nhân loại công nhận là Di sản Thế giới. Được sự đầu tư của nhà nước và sự giúp đỡ của bè bạn gần xa trong cộng đồng quốc tế thông qua các cuộc vận động nhằm cứu vãn, bảo tồn và phát huy những giá trị vật chất và tinh thần của di sản văn hóa Huế, nhiều di tích ở hoàng cung Huế đã từng bước được phục hồi, trở lại nguyên trạng cùng nhiều công trình khác đang được bảo quản, sửa chữa, góp phần gìn giữ khu di tích lịch sử thuộc triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

huongttt
27-05-2012, 09:18 AM
<!--coloro:#993399--><span style="color:#993399"><!--/coloro--><b>Dưới đáy sông Hương có san hô hóa thạch</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />[attachment=179:attachment]<br />Ông Hồ Tấn Phan, nhà nghiên cứu ở thành phố Huế vừa thu gom được hàng trăm di vật san hô hóa thạch có nguồn gốc từ đáy sông Hương. <br /> <br />Những san hô này bên trong có nhiều sinh vật biển cũng đã hóa thạch, nhiều nhất là loài hải sâm vốn rất hiếm gặp.<br /><br />Một số ý kiến cho rằng san hô hóa thạch này sở dĩ có ở đáy sông Hương là do thuyền chở đá từ biển ngược lên bị chìm…. Theo ông Hồ Tấn Phan, san hô hóa thạch này có ở sông Hương từ trước. <br /><br />Con sông này hình thành cùng lúc với sông Hồng và sông Cửu Long, với khoảng 50 triệu năm tuổi. <br /><br />Vì vậy, sông Hương là một di chỉ lớn, bảo lưu dưới đáy sông nhiều trầm tích địa chất và nhiều nền văn hóa, trong đó có nền văn hóa Sa Huỳnh xuất hiện ở Thừa Thiên - Huế. Việc tìm thấy san hô hóa thạch sẽ giúp cho việc nghiên cứu sông Hương có thêm nhiều nhiều tư liệu mới.<br /><br />Theo SGGP

tiemkinhduongquang
27-05-2012, 09:18 AM
<!--coloro:#003300--><span style="color:#003300"><!--/coloro--><b><!--coloro:#993300--><span style="color:#993300"><!--/coloro-->Những ốc đảo trên sông Hương <!--colorc--></span><!--/colorc--> <br />13/02/2007 </b> <br /> <br /> <br />Cồn Hến, nơi người dân làm nghề cào hến, để có cơm hến Huế nổi tiếng <br />Những ốc đảo trên sông Hương từ lâu đã làm nên những điểm nhấn tuyệt vời trong kiến trúc hài hòa của Huế. Có điều, ít ai có thể ngờ rằng trên sông Hương không chỉ có hai hòn đảo Dã Viên- Cồn Hến từng mệnh danh là “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ”, mà có đến 5 ốc đảo xuôi dòng nước xanh, chứa đựng trong nó biết bao dấu tích rêu phong của cố đô Huế và bao số phận con người... <br /><br /> [attachment=210:attachment]<br /><br /><b>“Dữ dã viên ký” và tâm sự người cồn Hến.</b><br /><br />Về địa lý phong thủy, cồn Dã Viên cũng như cồn Hến đã đóng vai trò tâm linh trong kiến trúc cố đô, các nhà quy hoạch kiến trúc đầu thế kỷ thứ 19 đã siêu nhiên hóa và hình tượng hóa chúng thành con rồng và con cọp ở trong thế rồng chầu hổ phục để bảo vệ vương quyền. Không hiểu vì đâu mà người Huế gọi “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” là hai cái cồn, song lại gọi những cồn khác cũng trên con sông này là đảo? Cũng không biết cồn Dã Viên hình thành từ bao giờ, chỉ biết nó được nhắc đến nhiều trong các văn tự thời Nguyễn và ngày 5-1-1750 đã từng có trận đấu giữa voi và cọp do chúa Nguyễn tổ chức. Hôm đó 40 con voi đã quật chết hết 18 con cọp. Một trong những tư liệu quan trọng khác gắn với Dã Viên là bài “Dữ dã viên ký” do vua Tự Đức viết sau khi vườn ngự trên cồn này xây dựng xong. Trong đó có nói rằng khởi thủy của cồn này có bảy ngôi nhà dân ở, nhỏ hẹp và xiêu vẹo. Lầu ngự của vua nghe nói tồn tại đến năm 1900, còn từ 1925 thì bỏ mặc cho mưa nắng. Ngày nay, trên đảo cũng chỉ có 8 hộ dân sinh sống. Các di tích xưa đều đã biến mất, chỉ có tháp nước Dã Viên cung cấp nước cho dân thành phố là còn đứng sững giữa sông xanh. <br /><br />Xuôi về phía dưới không xa, cồn Hến lớn hơn nhiều so với Dã Viên, cũng chia sông Hương ra làm hai nhánh. Nhánh phía Đông là ranh giới giữa Vĩ Dạ và cồn Hến, nhánh phía Tây là ranh giới giữa cồn Hến và phường Phú Cát. Ngày xưa, hai khe nước giữa cồn phù sa lấp cạn, tôm cá rất nhiều, đêm đêm người đến đây soi, đơm bắt, đèn đuốc sáng cả góc trời nên người ta còn gọi là “xứ cồn cạn”. Phường Giang Hến ra đời trên đất “xứ cồn cạn” lại không theo nghề tôm cá mà lại làm nghề cào hến dọc sông Hương. Bởi nghề này mà cồn Hến trở thành cái nôi của món cơm không nơi nào có được là cơm hến Huế. Từ một ốc đảo nhỏ thuở xưa, nay cồn Hến đã là một vùng đất đai cao ráo với diện tích gần 33 ha, gồm 5 tổ của khu vực 6, phường Vĩ Dạ. Ở đó dân cư đông đúc, có trường học, đền chùa. Từ sau khi bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử được truyền tụng, với câu: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”, cồn Hến ngoài nổi tiếng cơm hến, còn nổi tiếng món chè bắp với tên gọi “chè bắp xứ cồn” thơm và rất chi thanh ngọt. Kể từ sau khi đất nước mở cửa, kinh tế thị trường tràn ra đảo thì cồn Hến ngoài nơi cào hến và trồng bắp ra, còn là “đảo ẩm thực”. Du khách ra đảo này có thể vừa soi mặt mình xuống sông Hương vừa ăn cơm hến, chè bắp... Bởi vậy năm 1997, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế dự định mở khu du lịch ở ốc đảo này nhưng chưa thực hiện được do không có vốn. Người cồn Hến mấy năm trở lại đây thất bát vì nghề cào hến không còn cho thu nhập như xưa. Do đánh bắt ráo riết với các dụng cụ không hợp lý, hến trên sông Hương đang ít dần. Một người đàn ông Giang Hến tên là Trai đã khóc trong bóng chiều, nói rằng thật đáng buồn khi một vài năm lại đây hến ở cồn Hến không còn là hến sông Hương nữa, mà người ta đi mua hến từ xứ khác về thay vào. Bây giờ con hến sông Hương đã bỏ đi, biết bao giờ nó sẽ quay về?... <br /><br /><b>Cụm đảo bên cạnh cồn Hến.</b><br /><br />Phía trên cồn Hến, ngang qua phường Phú Cát có cụm đảo 5 cồn nổi nhỏ, người Huế gọi đó là “Đảo ông Sắt”. Tên gọi này xuất phát từ việc ông Võ Sắt là người dân vạn đò thường xuyên kè chắn, lập miếu thờ Thiên Y A na và lo hương đèn trên đảo rồi sau đó trở thành người vạn đò đầu tiên ở khu vực này lên đảo làm nhà ở. Bây giờ trên đảo này còn có một lớp học tình thương với khoảng 50 chỗ ngồi do UBND phường Vĩ Dạ xây dựng. Có một người thầy đã nhiều năm, dù mưa hay nắng, ngày nào cũng đi ghe ra đảo để dạy những đứa trẻ rất mê học chữ ở đây. Học tập ông Sắt, ông Võ Mốc cũng kè chắn những hòn đảo nhỏ xung quanh, dựng miếu thờ Thiên Y A na và đàn Âm hồn. Năm cụm đảo này bây giờ là đất lành cho 400 thuyền thuộc tổ 21, 22 khu vực 7, phường Vĩ Dạ neo đậu, sinh sống. Các hộ đò ở đây giờ đã biết hình thành các quỹ tiết kiệm, chẳng hạn mỗi đò một ngày đóng 200 đồng, đến cuối năm “đổ ống” ra mổ heo ăn Tết. Cũng có một số chương trình xã hội do thanh niên Huế thực hiện ở đây, đưa được một số thanh niên trên đảo vào đất liền học các nghề may, điện lạnh... Đảo đang ngày càng gắn với đất liền. <br /><br /> <br />Cồn Dã Viên, nơi từng tổ chức trận đấu giữa voi và cọp do chúa Nguyễn tổ chức năm 1750 <br />Hai ốc đảo khác.<br /><br />Đứng ở Đập Đá nhìn về hướng Đông Nam, cách không xa (khoảng 600 m) có một hòn đảo nhỏ là đảo Bảo An Định. Đảo này nằm giữa dòng sông Như Ý, một nhánh của sông Hương mà cả khởi đầu và kết thúc đều ở sông Hương. Khởi thủy, đảo chỉ là một mô đất cạn giữa dòng, ông Võ Văn Đồng, làm nghề sông nước đã nhọc công lặn đá chắn kè khiến đảo ngày một lớn. Lúc rộng nhất của đảo là 150 m2, ông Đồng đưa cả gia đình ra đảo sống. Năm 1967, ông Đồng xin chính quyền hồi ấy lập miếu thờ thần rắn trên đảo và được chấp nhận. Hiện, con trai ông Đồng là Võ Văn Thư đã xây một ngôi nhà trên đảo. Tuy nhiên, sống ở trên đảo vào mùa lũ là rất nguy hiểm. Năm 1999, lũ đã cuốn trôi 4 mạng người trên đảo Bảo An Định cùng với 50% diện tích đảo (đảo giờ chỉ còn 80 m2). UBND TP Huế đã quyết định cấp tốc giải tỏa các hộ ở trên đảo này và đã cấp đất cho gia đình ông Đồng, ông Thư ở phường Vĩ Dạ. Dù đã nhận đất, dựng nhà, con cháu đã đến ở, ông Thư vẫn cứ sống và làm ăn trên đảo. <br /><br />Xuôi dọc sông Như Ý, về đến ngã ba sông Vân Dương có một hòn đảo nhỏ gọi là đảo Phao Võng. Vào thời Gia Long, ông Nguyễn Hữu làm nghề sông nước ở thôn Phao Võng, xã Hiền Vinh (Phú Lộc) cùng 5 gia đình khác chuyển lên vùng đất nổi ở ngã ba sông này làm nơi neo đậu, sinh sống bằng nghề chài lưới, lập nên thôn mới gọi tên là Phao Võng (để nhớ thôn cũ). Hòn đảo nhỏ giữa ngã ba sông này cũng mang tên Phao Võng từ đó. Lâu ngày, đảo hẹp dần, hậu sinh của họ Nguyễn lên cạn làm ăn sinh sống, chỉ còn lại một hòn đảo nhỏ với cây mân trên trăm tuổi và một am thờ Thiên Y A na khá lâu đời. <br /><br /><b>Lãng mạn cùng ốc đảo.</b><br /><br />Trên những ốc đảo đó, người ta thờ thần Thiên Y A na, thần rắn cầu mong mưa thuận gió hòa, thuận thuyền xuôi chèo để làm ăn, đánh bắt tôm cá... Lâu ngày, người trên cạn cũng ra đảo thờ cúng các lễ như: cúng bạc vớt, cúng xai-phan (cầu hồn), lễ thành, đám chay... Bởi vậy, những ốc đảo nói trên ngoài việc tạo vẻ mỹ quan độc đáo cho sông Hương, còn là những vùng đất tâm linh trên sông nước. <br /><br />Năm 1995, giữa lúc các đảo, cồn trên sông Hương mai một dần, có một người chợt nhớ ra là kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn. Bấy giờ, với tư cách là chủ nhiệm đồ án “Quy hoạch tôn tạo cảnh quan hai bờ sông Hương”, ông Huấn đề nghị đưa cồn Dã Viên vào khai thác văn hóa du lịch. Trong đó, có đề xuất chuyển tuyến đường sắt qua Dã Viên sang hướng khác, giải tỏa tháp nước Dã Viên trên cồn... hình thành một hoa viên trên sông Hương, tháp nước cao 35 m sẽ cải tạo thành một khu vui chơi, giải trí, nhà hàng trên cao... Rất tiếc là những ý tưởng ấy giờ vẫn còn nằm trên giấy. Nhưng rõ ràng trong mắt nhiều nhà du lịch, rất có thể thiết kế một tour du lịch bằng thuyền đến các đảo trên sông Hương. Có thể tận mắt nhìn thấy những phế tích về một lầu đài xưa kia cực kỳ hoa lệ trên Dã Viên, những con người trên các đảo, những làng nghề sông nước ở cồn Hến và tất nhiên, thưởng thức tại đây những món ăn hải sản tươi sống vừa đánh bắt từ sông Hương lên, hay cũng chỉ cần ăn cơm hến, chè bắp xứ cồn là đủ... Nếu may mắn hơn, có thể dự một buổi lễ cúng tâm linh miền sông nước. Đó không phải là những cái thú sao? <br /><br />(NLĐ) <br /> <!--colorc--></span><!--/colorc-->

camlyvt
27-05-2012, 09:18 AM
<!--coloro:#990000--><span style="color:#990000"><!--/coloro--><b>Hổ Quyền</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><b><!--coloro:#660000--><span style="color:#660000"><!--/coloro-->Huế: Một đấu trường hoàng cung hoang phế <!--colorc--></span><!--/colorc--> </b> <br /><br /><!--coloro:#333300--><span style="color:#333300"><!--/coloro-->Có người đã ví von rằng: Ngoài đấu trường giác đấu nổi tiếng thời La Mã cổ đại như Coloseum, không đâu tìm được một đấu trường quy mô như Hổ quyền, một đấu trường của hoàng cung có chỗ đứng hết sức quan trọng trong quần thể di tích Huế.. Thế nhưng địa danh oai linh với những cuộc thư hùng long trời lở đất giữa voi và cọp thuở xưa đang từng ngày dần hóa thành phế tích...<br /><br />Hổ quyền là một đấu trường giữa voi và cọp ra đời dưới thời vua Minh Mạng, vừa là chỗ vua quan nhà Nguyễn giải trí, đồng thời cũng là nơi luyện tập cho voi quen với không khí chiến đấu lúc lâm trận. Theo ông Pierre Poivre nhà buôn phương Tây từng đến Huế vào thời các chúa Nguyễn thuật lại rằng: Vào năm 1750, chúa Nguyễn Phúc Khoát và các quan trong triều đã đi trên 12 chiếc thuyền, đến đậu gần cồn Dã Viên để xem voi và cọp đấu nhau. Trận ấy có 40 con voi &quot;lâm trận&quot; và chúng đã quật chết 18 con cọp.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--coloro:#990000--><span style="color:#990000"><!--/coloro--><b>Hổ Quyền ở Huế</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--coloro:#003300--><span style="color:#003300"><!--/coloro-->Thời Gia Long (1802 - 1919), các trận thư hùng giữa voi và cọp được tổ chức ngay trên dải đất trống trước mặt Kinh thành. Đấu trường không có phòng thành, nhà vua bắt lính đứng vây quanh thành một vòng tròn đỡ?? làm hàng rào cho đấu trường hết s?c nguy hiểm. Một người được xem cuộc thư hùng ấy là ông Michel Đức Chaingeau.<br /><br />Về sau viết cuốn hồi ký Hoài niệm Huế, ông đã thuật lại một kỷ niệm hết sức rùng rợn: Trong trận đấu hôm ấy, mặc dù con cọp đã bị tước bỏ hết nanh vuốt và cột chặt vào một cái cọc đóng kiên cố... Nhưng không ngờ nó mạnh và dữ quá, gồng mình bứt đứt sợi dây rồi nhảy phóc lên tát anh nài đang ngồi trên đầu voi. Anh nài hoảng hốt chưa kịp kêu cứu thì đã bị tấn công bay xuống đất và bị con voi của chính anh giẫm chết tại chỗ. Con cọp còn gây cho nhiều binh sĩ bị thương và vua quan triều Gia Long phải một cơn thất đảm kinh hồn.<br /><br /><br />Toàn cảnh Hổ quyền được họa sỹ dưới thời Nguyễn vẽ lại. Về sau này, để bảo đảm an toàn cho người xem, năm Canh Dần (1830), vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hổ quyền ở gần đồi Long Thọ và Thành Lồi của người Chiêm Thành xưa, gần với điện Long Châu. Hổ quyền là một đấu trường lộ thiên hình vành khăn. Vòng tường ở bên trong cao 5,90m và vòng tường bên ngoài cao 4,75m (kể cả lan can) có khuynh độ 1/10 chúc đầu vào nhau, ôm chặt lấy mô đất ở giữa. Bề dày đỉnh tường ngoài là 35cm và đỉnh tường trong 47cm.<br /><br />Cả hai cộng với mô đất ở giữa tạo thành một bề dày 4m ở đỉnh và 5m ở mặt đất thường. Mặt trên của mô đất ấy cao bằng tường ngoài, tạo thành con đường chạy vòng tròn (chỉ gián đoạn ở khán đài nơi vua ngồi xem) để khán giả đi quanh trên đấu trường và để xem voi cọp đánh nhau trong lòng chảo. Mô đất chạy vòng ấy cũng đã được dùng để trổ thành 5 chuồng cọp và một cửa vòm lớn dành cho voi ra vào chiến đấu. Đường kính trong lòng chảo 44m, chu vi ngoài Hổ quyền 140m.<br /><br /><br />Lúc thịnh thời, các trận đấu tại Hổ quyền được tổ chức hàng năm, nhưng cũng tuỳ sở thích của từng ông vua triều Nguyễn, có khi một năm tổ chức vài ba trận đấu nhưng cũng có khi vài ba năm mới tổ chức một trận đấu tại Hổ quyền.<br /><br />Trận đấu cuối cùng tại Hổ quyền diễn ra vào năm 1904 dưới thời vua Thành Thái. Từ đó về sau, một phần vì kinh tế khó khăn không thể chi phí cho việc săn bắt thêm voi, cọp để thi đấu, một phần vì sự mâu thuẫn ngày càng trầm trọng giữa vua Thành Thái và chính quyền Bảo hộ nên Hổ quyền cũng bị bỏ hoang cho đến ngày nay.<br /><br />Thật đáng tiếc là cho đến bây giờ vẫn chưa phát hiện thấy có sử liệu nào ghi chép cụ thể đã có bao nhiêu trận đấu giữa voi và cọp diễn ra ở Hổ quyền trong suốt nhiều đời vua triều Nguyễn từ Minh Mạng đến Thành Thái.<br /><br />Theo một số truyền thuyết dân gian thì cũng chính tại đấu trường của hoàng cung này đã từng diễn ra các cuộc đấu của các mãnh tướng chống lại triều đình với những con cọp dữ. Những truyền thuyết, dã sử xoay quanh Hổ quyền còn rất nhiều nhưng thực tế chỉ có một. Đó là di tích văn hóa quý giá này đang ngày một xuống cấp nghiêm trọng. Lớp phong mờ của thời gian và sự tàn phá của con người đã và đang làm cho nơi đây hoang tàn nhanh chóng.<br /><br />Trước đây, bên cạnh Hổ quyền, phía trước mặt Long Châu Miếu có hồ sen rất rộng, đó là nguồn nước ăn của cả vùng Long Thọ. Ngoài ra, lợi tức bán hạt sen của cái hồ này cộng với tiền cúng tế do triều đình cấp cũng đủ để dùng vào việc lễ tế voi diễn ra khá lớn hàng năm ở đây. Sau này, cùng với sự thờ ơ của người đời, mặt nước linh thiêng biến thành hồ nuôi cá, hương sen thơm ngát bị lấn át bởi vô vàn mùi xú uế của rác thải sinh hoạt khiến cho mạch nước hồ ô nhiễm và cạn dần. Với tốc độ đô thị hóa chóng mặt, rất nhiều nhà dân đã lấn chiếm xây trùm lên đất đai di tích, muốn vào thăm chốn này, du khách phải chui qua cái kiệt 373 nhỏ bé nằm khuất lấp trên đường Bùi Thị Xuân.<br /><br />Xin được nhắc lại rằng: Khắp các nước Đông Á, kể cả Trung Quốc và Nhật Bản, không thấy ở quốc gia nào có đấu trường tương tự. Hổ quyền ở Huế chẳng những là một di tích đặc biệt và độc đáo của Việt Nam, mà còn là một di tích quý hiếm của thế giới nữa.<!--colorc--></span><!--/colorc-->

tuyetha06sg
27-05-2012, 09:18 AM
<!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->TÌM HIỂU TẾ ĐÀN NAM GIAO<!--sizec--></span><!--/sizec--><br />[attachment=1256:attachment]<br />[attachment=1257:attachment]<br />[attachment=1258:attachment]<br /><br />ba ngày trước khi đại tế( thời Bảo Đại rút lại còn một ngày). Vua tự đại giá lên Trai cung để trai giới và dự bị hành lễ. Các quan trợ tế thì ở lại trong các nhà tranh làm tạm ở chung quanh Đàn Nam Giao ( Vua, Bồi tế, Phân Hiến, trước đó 3 ngày đều ăn chay). Đến hôm đại tế gần giờ tý. Vua ngự ngọc liễn từ trai cung qua cửa phía Tây, lúc bấy giờ chuông ở trai cung đánh mãi cho đến khi Vua tới Giao Đàn. Đi đầu có thị vệ cầm đèn lồng, quạt lông, hai quan văn võ cầm kiếm và mấy vị đại thần<br />Đạo ngự quanh sang hướng Nam, rồi lên tầng thứ 3 đàn Nam Giaovề phía bên hữu, Vua sẽ làm lễ Quán tẩy tại nhà đại thứ, Lễ Quán tẩy tức là lễ rửa tay, lễ này do một vị đại thần bưng thau và một vị khác dâng khăn đỏ để Vua lau tay. Xong, Vua sang Hòang ốc tức là tầng 2( Phương Đàn) làm lễ nghinh thần trươc ngoại hưong án. Trong khi Vua hành lễ thì có 3 hồi trống, kế tiếp là 3 hồi chuông, rồi các vị Nội tán, Thông tác bắt đầu xưong tế. KHi sướng tế đến &quot; Phần sài&quot; thì tại liệu sở bắt đầu thui con nghé, củi để thui con nghé dùng tòan gỗ quế, một ít lông và huyết nghé sẽ được chôn yểm một nơi gọi là Ế sở. Quy định tế &quot; tam sinh&quot;( trâu , heo, dê) có từ năm Gia Long thứ 5( 1806). Vua hạ lệnh cho dân Quảng Đức( Nam Mịnh Mạng thứ 2-1821 đổi làm phủ thừa thiên) chọn mua một con trâu non và 8 con trâu đực nuôi ở chuồng rất tinh sạch để chuẩn bị cúng đại tế. Cũng cần nói thêm, theo lệ lễ tế Giao Duy Tân năm thứ 2( 1908) Bộ lễ phải lo mua trước 19 con nghé, 8 con trâu, 7 con dê, 7 con heo, 1 con bò và 1 con hươu<br />Xong phần sài và Ế sở, Vua nghiêm chỉnh bước lên thanh Thanh Ốc( tầng nhất - viên đàn) theo sau là các vị chấp sự, bồi tế, 2 bên có 8 vị Phân hiến &quot; từng đàn bát án&quot; rồi đợi thông tác xứong mà hành lễ<br />Khi hành lễ tại Viện đàn, Vua thường đứng trước nội hưong án, một thờ trời( hiển thiên thượng đế) và một thờ đất ( Hòan địa kỳ) , trên Viên đàn có dựng 1 cái nhà nhỏ gọi là tiểu thứ để Vua ngội một khi mệt mỏi. Tất cả nghi lễ trong lúc Vua hành lêđều do nội tác xướng hầu, và nới Vua đứng đợi xướng gọi là Ngự lập vị<br />Trước khi tế , các quan thi tập theo thứ tự, cung kính cất khăn lụa phủ trên các thần bài<br />lễ tập ngày 13-4-1942 quy định người nào muốn xem phải có giấy phép, phải ăn mặc chỉnh tề. Tuy nhiên giấy phép ấy không đựoc dùng để xem đại tế vào lúc 1h sáng

doanhphuong
27-05-2012, 09:18 AM
E xin đóng góp 1 ít về Huế,các bác tham khảo nhé!!!<br /><br /><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Cầu Ngói Thanh Toàn<!--sizec--></span><!--/sizec-->[size=4]<br /><br />Du khách đã đến thăm cố đô Huế, sau khi tham quan các đền đài, miếu mạo và lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn nhưng chưa đến tham quan cầu ngói Thanh Toàn thì đó là một thiếu sót đáng tiếc. <br /><br />Cầu ngói Thanh Toàn là một công trình kiến trúc độc đáo của Huế, có giá trị về mặt lịch sử và văn hóa, đồng thời là một thắng cảnh nổi tiếng, từ lâu nó đã ăn sâu vào đời sống tinh thần và văn hóa của nhân dân địa phương như là một biểu tượng truyền thống cao quý. <br /><br />Cầu nằm ở cuối làng Thanh Thủy, thuộc xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, cách trung tâm thành phố Huế chừng 8km về hướng đông. Tên cầu chính là tên làng trước đây khi chưa bị đổi tên. <br /><br />Cầu ngói Thanh Toàn được xây dựng cách đây hơn 200 năm, bắc qua một con rạch chảy giữa làng. Đây là một chiếc cầu bằng gỗ dài 17m, rộng 4m, hai bên thân cầu có hai dãy bục gỗ và lan can để ngồi tựa lưng. Trên cầu có mái che, lợp ngói ốp tráng men, chia làm bảy gian. Do kiến trúc như vậy nên các nhà nghiên cứu đã xếp cầu này vào loại &quot;thượng gia, hạ kiều&quot;, tức phía trên là nhà, phía dưới là cầu. <br /><br />Tương truyền, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa có mang theo 12 người xứ Thanh vào đây lập nghiệp và lập nên làng Thanh Toàn. Đến thế kỷ 18, khi quân Chúa Trịnh chiếm lấy Phú Xuân, một viên quan có người vợ là Trần Thi Đạo bỏ tiền bạc ra xây cầu để làm phúc, nối liền đôi bờ rạch. Về sau, cứ đến rằm tháng tám hàng năm thì làm đám giỗ bà. Lễ được rước từ đình ra cầu rồi trở lại đình. Đến đời Lê Cảnh Hưng (1740-1786), có sắc tuyên dương bà và miễn tập vụ cho cả dân làng để tập trung công sức tu sửa cầu. Ngày nay, ở gian giữa cầu có lập bàn thờ thờ bà, quanh năm hương khói. <br /><br />Năm 1844, vua Thiệu Trị cho tu sửa lại sau khi gió bão đã làm hỏng một phần cầu. Năm 1956 và năm 1971 cũng có tu sửa khá qui mô, và mỗi lần tu sửa có thay đổi chút ít về kích thước, song cầu vẫn là bảy nhịp ứng với bảy gian. <br /><br />Cầu nằm trên một hệ thống trụ đỡ có sáu hàng, mỗi hàng có ba trụ bằng đá, tất cả đều có chung một khối mộng để chống lún. Hai đầu là hai mố cầu, có bảy hệ thống thoát nước. Nối liền các đầu mố cầu là hệ thống trụ đỡ có các thanh bê tông chạy dọc từ hai đầu vào giữa, dốc dần lên đến gần gian giữa thì nằm ngang tạo sự gãy khúc cả mặt cầu lẫn mái cầu, đồng thời nâng cổng giữa lên cao để tạo cho độ cong khỏe, đẹp và cho ghe thuyền qua lại dễ dàng. <br /><br />Trên cầu, các hệ thống trụ cầu có dầm gỗ bắc ngang để trên đó dựng cột làm khung nhà. Mỗi vi có bốn hàng cột ở giữa hai cột cái là lòng cầu để làm lối đi lại, và từ hai bên cột cái trở ra cột hiên thì được nâng cao làm chỗ hóng mát, bên ngoài có lan can chấn song kiểu con tiện, bình hoa để ngồi khỏi ngã. Chỉ có phần sườn cầu làm bàn thờ thì bịt kín, còn đều để cho thông thoáng. Các hệ thống xà thượng, xà hạ đều là hệ thống xà kép, xà trên nằm trên đầu cột, xà dưới thì đi xuyên qua mộng cột. <br /><br />Các bộ phận kiến trúc bằng gỗ không chạm khắc, trang trí mà chỉ gồm hai loại tiết diện tròn và vuông để tạo vẻ đẹp. Trên mái, trước đây lợp ngói ống, nay đã được thay thế bằng ngói liệt. Về trang trí mái, trước đó chỉ có con giao, sau này thay bằng con rồng ở hai đầu và đôi phượng chầu mặt trời ở giữa. <br /><br />Năm 1970, khi xây dựng chiếc cầu bằng bê tông ở bên cạnh thì cầu ngói Thanh Toàn càng thưa thớt khách bộ hành qua lại. Tuy nhiên, cảnh quan cây cầu cổ xưa đó dẫu sao cũng đáng để lớp hậu sanh đến chiêm ngưỡng, tham quan. <br /><br />Ai về cầu ngói Thanh Toàn<br />Cho em về với một đoàn cho vui. <br /><br />(Ca dao xứ Huế)<br /><br /><br />Về một tượng đài công chúa Huyền Trân[size=5]<br />Trần Kiêm Đoàn<br /><br /><br /><br />Thật thú vị, tôi nhận được tin mình &quot;chết&quot;, sau buổi cơm chay với thầy Thiện Niệm, thầy Tịnh Quang, anh Cao Huy Thuần và anh Cũng ở chùa Khuông Việt tại Paris. Thư &quot;email&quot; của Hà Trọng Được từ Huế báo tin rằng: &quot;Vừa ngồi lai rai trên sân thượng của khách sạn Hương Giang với thầy Tường, thầy Dũng, cô Lan mới nhắc đến anh xong, ghé đến anh Xuân thì anh ấy cho biết là nhà thơ Nguyệt Đình báo tin TKĐ... chết rồi!&quot; Hơn 35 năm chưa gặp lại thầy cô và bạn bè một thuở xôn xao xuống đường, xuống hố đã vội &quot;xuôi vè&quot; thì đời mất hết cả mùa vui. Nếu nói &quot;làm đày&quot; theo kiểu Huế thì: &quot;Lang thang cũng ngang bến đò, lò dò cũng tới chợ Dinh. Lật đật lanh chanh đi mô cho vội&quot; !<br /><br />Cái ga chính của những chuyến tàu đời rồi ai cũng phải tới. Cõi đi về đó ngỡ như quá xa xăm, nhưng có khi lại gần trong nháy mắt ấy không biết có đẹp như chốn Thiên Thai của hai chàng Lưu Nguyễn hay đầy cả lữa hận như cõi A Tỳ của Mục Liên Thanh Đề, nhưng lại có một sức mời gọi thật kỳ bí: Không ai biết cõi đó mô tê như thế nào, vậy mà ai cũng xăng văng lo dọn đường đi tới. Những con đường thập tự chông gai, những con đường tu trì khổ hạnh hay những đại lộ phong quang nạm ngọc dát vàng – về thiên đàng hay niết bàn – rất mơ hồ nhưng lại cứ hiển hiện trêu ngươi như một thách đố siêu hình với kiếp người èo uột. Về trước hay về sau thì cũng phải về thôi. Nhưng về mà chưa mua sẵn vé tàu &quot;suốt&quot; một đi không trở lại; hay chưa chuẩn bị hành lý là cái tâm rỗng lặng và hai bàn tay không, bất ngờ bị ông số phận hối hả lôi đi trong cảnh dùng dằng nửa ở nửa về thì còn chi là... thơ mộng!<br /><br />Chiều Paris, cũng là những buổi chiều New York, San Francisco... đối với người mang tâm sự &quot;u ẩn chiều lưu lạc&quot;. Nhưng với tâm lý mơ màng từ quá khứ thì &quot;Paris by Night&quot; là một viễn ảnh huy hoàng, một nếp đời có vẻ như văn minh và sang cả đối với biết bao nhiêu người bạn nghèo của tôi đang còn ngày lại ngày tranh sống ở làng quê. Để biết rõ là mình đang về Tây phương trần thế, chứ chẳng phải Tây phương... Cực lạc, tối hôm đó, tôi theo thầy Thiện Niệm và anh Cũng ghé quán nước bên bờ sông Seine trong lớp khói sương váng vất heo may của một Paris chuẩn bị vào thu. Tôi uống một ngụm cà phê hè phố Tây, rồi thở thật sâu để cho hương vị cà phê Ba Lê báo với ông Tây nhà đèn ở cầu Kho Rèn Huế là gã Cơm Hến vẫn còn sống đai hoai bên xứ nầy cho tới khi nào không thích lang bạt kỳ hồ nữa mới sửa soạn khăn gói quả mướp để bương chải về quê... với mạ. Gã chỉ đội đàng than dạ từ Mỹ qua Tây – Đây quả tình là Tây Phương cực nhọc chứ không phải Tây Phương cực lạc đâu nhé– để tối nay ngồi lặng lẽ cảm thương cho một chiếc cầu còn hiện hữu mà đã như hạc vàng của Thôi Hiệu khuất bóng từ xưa: Cầu Mirabeau của Appolinaire! &quot;Sous le pont Mirabeau coule la Seinẹ..&quot; – Dưới cầu Mirabeau, sông Seine thầm lặng chảy, tình chúng ta đi mãi, vui với buồn theo nhau.<br /><br />Sông Seine cũng dài và nhỏ nhắn, nước xanh, nhưng không trong vắt tới độ nhìn thấy được cả những đàn cá bơi lội quanh đám rong rêu vật vờ theo con nước như sông Hương. Thế nhưng giòng sông đó có đến 37 chiếc cầu bắt qua và những hàng cây giam bóng tối thời Napoléon đã thành những dãy lâu đài san sát . Tiếc thật, cầu nhiều quá, trông như những hàng nhẫn hột xoàn lóng lánh vô tri che khuất nét ngây tròn, kiều mỵ của ngón tay búp măng chỉ đẹp vì một bàn tay trần phong sương khác! Cầu Mirabeau đã theo những vần thơ của Appolinaire để đi vào văn học sử thế giới. Thế nhưng đêm nay, ngay cả những người sống ở Paris hơn 30 năm mà vẫn tìm không ra chiếc cầu tình tự đó. Chạy loanh quanh hoài hai bên bờ sông Seine lưng cả bầu xăng chiếc xe Renault của anh Cũng, chúng tôi mới tìm ra cầu Mirabeau. Cầu Mirabeau đã mất tên và chỉ còn hàng chữ &quot;Mirabeau&quot; nhạt mờ nằm khuất bên lề đường Convention cũ kỹ như chiếc áo the thâm tàn tạ của anh hàn sĩ ngày xưa. Đợi càphê rơi từng giọt trong quán càphê giữa hè phố bên cầu, bằng một tâm trạng lãng tử, cạnh một nhà tu và một chàng yêu văn nghệ, tôi lơ mơ suy nghĩ về chuyện ban chiều và chút triết lý còm về ý nghĩa của sự sống chết. Chết không phải là khuất bóng, mà khuất bóng cũng chưa hẳn đã là chết. Chết là còn sống sờ sờ ra đó hay đi đâu mất đất từ khuya mà không ai thấy, như chiếc cầu Mirabeau trơ vơ nhìn sông Seine thầm lặng chảy. Khách qua cầu hình như chẳng còn ai &quot;ngã nón trông cầu&quot;. Người đời ngắm nhìn dòng sông đang chảy mà quên đi cầu kia vàsông nước ấy đã một quấn quýt bên nhau...<br /><br />Phố xá Paris ngủ sớm hơn tôi nghĩ. Có lẽ trời vào Thu về đêm hơi lạnh nên dân Parisien thích ngồi bên nhau dưới những mái nhàấm áp hơn làlang bạt trên đường phố về khuya. Có vẻ như đêm Á Châu dài hơn đêm Âu Châu vì sự trầm mặc và đêm Âu Châu dài hơn đêm Mỹ Châu vì sự cổ kính. &quot;Nằm gắng cũng không thành mộng được...&quot;, nên tôi khoác áo đi lang thang trên đường lúc 2 giờ sáng. Tôi ước chi Paris là Sàigòn giữa mùa bóng đá để kiếm được một cốc cà phê ho hen của ông già bán cà phê đêm đầu ngõ hẻm.<br /><br />Cái cảm giác về đêm của chàng nghệ sĩ lãng tử da đen, Vince Milton, truyền qua tôi: &quot;Đêm Âu Châu trò chuyện. Đêm Mỹ Châu lạnh lùng. Đền đài lên tiếng nói. Mây cúi xuống giòng sông...&quot; Cố đi tìm một quán hàng nào đó mở thường trực (24 hours) như ở Mỹ nhưng không có, tôi không hiểu được Milton vì đêm Mỹ Châu có bao giờ nằm ngủ mà sao đến nỗi lạnh lùng.<br /><br />Giữa lòng đêm, một mình tôi mà sao lại nhiều bóng thế. Bóng in trên vách, bóng đổ bên đường, bóng trãi dài với lá. Có lẽ vì đèn nhiều quá nên ánh sáng tranh nhau soi bóng một người chưa quen. Đêm nơi đây có mùi hương quyến luyến và cảm giác heo may của một mệnh phụ chưa về chiều nhưng đã qua tuổi mùa thu không còn nóng bỏng. Mùa Thu ở đâu cũng thế, đó là mùa trở về. Lá trở về cội và con người trở lại với chính mình. Khi tôi không còn dáo dác tìm quanh một đối tượng ngoài mình, tôi bỗng trở lại với sự lắng đọng trong trí tưởng và cảm nhận của chính mình thì bỗng nghe nỗi xôn xao vừa đến. Có ai đó trò chuyện. Có ai đó rất quen. Có ai đó trỗi dậy từ một cõi sơ xưa tưởng như không còn trong ký ức. Đêm rực rỡ ngã vàng với ánh đèn chiếu hắt qua những hàng cây phong thẳng tắp khắp các con đường làm nổi bật một nét đặc thù rất Âu Châu, đó là sự phong phú quá độ của tượng đài kỷ niệm. Những khuôn mặt của nhiều thế kỷ lao xao trò chuyện với nhau suốt canh trường bằng một ngôn ngữ của rêu phong, mây và gió. Nơi đây, chiến công hiển hách cũng như gục ngã đau thương, huy hoàng cũng như khổ nhục, ngai vàng cũng như pháp trường, thánh cũng như quỷ, địa ngục cũng như thiên đường... đều được ghi khắc lại trên thạch cao, trên bia, trên vách, trên đá, trên đồng. Ô! Thì ra đêm Âu Châu đang trò chuyện. Những tượng đài và miếu đền kỷ niệm đang nói với nhau, nói với người viễn khách bằng một ngôn ngữ vắng lặng phi thường. Tượng đài nơi đây không xa cách như Mỹ Châu, không trùm khăn vải điều im lìm trong am miếu như Á Châu mà đứng dưới vòm trời mở rộng, đối diện với sự phong quang và u ám giữa cuộc đời thường. Hầu như đặc tính chung của các hình tượng nơi đền đài kỷ niệm ở Âu Châu đều ở trong tư thế hành động. Nhà nghệ sĩ tạo hình nắm bắt những giây phút gây ấn tượng sâu xa và mạnh mẽ nhất trong dòng sống và hành động của đối tượng được tạo hình để tạc tượng.<br /><br />Tôi nghĩ đến Huế, Quảng Trị, Hội An... đến sự vắng bóng tượng đài trong những cổ thành u tịch. Xa Huế, tôi chỉ còn nhớ hàng tượng đá đứng trơ vơ trên sân chầu lăng Gia Long, Minh Mạng. Một thế hệ chiến tranh Việt Nam sắp đi qua, tôi vẫn chưa nhìn được môt tượng đài kỷ niệm có tầm cỡ &quot;dễ nhớ mà khó quên&quot; nơi vùng đất mà nhiều người đã không tiếc giấy mực để thổn thức nầy. Nghĩ về một tượng đài Huyền Trân Công Chúa ở Huế mà nhiều người vẫn thiết tha đề xướng trong bao năm rồi nhưng vẫn còn trong lòng đất của sơ đồ và ý tưởng... tôi muốn được nói lên niềm mong ước và chia sẻ.<br /><br /><br />Am miếu và tượng đài <br /><br />Khái niệm tượng đài cổ xưa nhất xuất phát từ bản năng sinh tồn của loài người. Con người dùng thực thể thiên nhiên để ghi dấu chân và kinh nghiệm của mình: Nhớ một ngọn núi cao có nước ngọt và cây trái; ghi dấu mỏm đá có nhiều thú vật dễ săn; để ý một lùm cây có kẻ thù rình mò ẩn núp... Dần dà, khi con người đã thắng được cái ăn thì nhu cầu tinh thần thể hiện. Am, miếu, tượng, đài xuất hiện sớm nhất là những sản phẩm nghệ thuật dân gian phục vụ cho sự chiêm bái thần linh và lên cao một bước nữa là đức tin tôn giáo.<br /><br />Có lẽ ít người đồng ý với một nhà khảo cứu tượng đài gốc Á Châu, Ronald D. Young, khi ông viết trong &quot;Methods of Modern Sculpture&quot; ( các phương pháp điêu khắc hiện đại) rằng, sự nghèo khổ và lạc hậu của Châu Á đã làm vắng bóng ngành điêu khắc trong kho tàng tượng đài ít ỏi của vùng đất nầy. Young chỉ đứng trên bình diện kinh tế và xã hội để bình luận mà quên đi rằng tượng đài cũng là một phần &quot;thượng tầng kiến trúc&quot; của văn hóa. Tượng đài là cách thể hiện cụ thể mối cảm nhận quá khứ, sự định hình khái niệm nghệ thuật của hiện tại và dự phóng về tương lai theo dòng lịch sư.<br /><br />Từ tự nhiên khách quan thuần túy, đến bàn tay nghệ thuật sáng tạo của con người thuần túy là cả một quá trình đầy gian nan và khổ hạnh. Đó là một cuộc hành trình dài thăm thẳm để những nhà nghệ sĩ thay mặt cho nhân loại thổi linh hồn vào đất đá vô tri. Hay nói một cách văn vẻ như Jane Whitney, những người &quot;thổi linh hồn vào thế giới hoang lạnh (the blowers of souls to the cold) là những cánh tay nối dài của đấng Sáng Thế để bắc cầu ký ức từ quá khứ đến hiện tại và về tương lai. Những nghệ sĩ khắc họa tài danh của nhân lọai như Michelangelo, Leonardo da Vinci, Donatello, Bernini... đã &quot;giải phóng&quot; những chân dung, hình tượng, đường nét tuyệt vời ra khỏi những khối đá vô tri.<br /><br />Tuy nhiên qui mô thực hiện công trình tượng đài, mức độ diễn cảm và nghệ thuật tạo hình tùy thuộc vào tài năng của nhà nghệ sĩ đã đành; nhưng ảnh hưởng tính thời thượng của xã hội, khuynh hướng của quần chúng và sự khống chế của thế lực lãnh đạo đương thời cũng có một tác động sâu rộng trên sự hình thành các mô thức tượng đài. Bởi vậy nhà nghệ sĩ khắc họa tượng đài vừa có tự do, vừa bị khống chế trong sáng tạo. Nhưng chính chân tài mới là đôi cánh vạn năng đủ sức bay đến những chân trời tự do xa thẳm của nghệ thuật. Như Michelangelo cũng đã bị lôi kéo mãnh liệt giữa hai thế lực thế quyền và giáo quyền của Florence và Roma trong bối cảnh tôn giáo và chính trị tác động lên nhau của thế kỷ 16 tại Âu Châu. Nhưng tài năng kiệt xuất của Michelangelo đã giúp ông vượt qua những hệ lụy nhân sinh để bay lượn thênh thang trong cung trời sáng tạo nghệ thuật. Tác phẩm Ngày Phán Xét Cuối Cùng ( The Last Judgement) của Michelangelo trong nhà thờ Sistine ở Tòa Thánh La Mã với hơn 400 hình tượng – từ Chúa Jesus thánh thiện đến kẻ có tội bị đày xuống hỏa ngục – là một sự thắng lợi huy hoàng của nghệ thuật bao la trước sức mạnh của quyền lực và định kiến giới hạn của con người. <br /><br />Tượng đài là ấn kiếm tượng trưng của một nền văn minh và một bối cảnh văn hóa trong từng thời kỳ nhất định. Từ những dấu tích của người vượn Bắc Kinh 500 nghìn năm trước đến dấu chân của Columbus đến Mỹ châu năm 1492 là một dòng lịch sử chằng chịt vô số mảng văn minh và văn hóa muôn màu muôn vẻ của nhân loại. Nhưng hai cái khung văn hóa lớn nhất vẫn là hai vùng địa lý: Đông và Tây.<br /><br />Văn hóa Đông Tây khác nhau từ bản chất, nên tính cách thể hiện những công trình văn hóa cũng phản ánh hai thế giới tinh thần và thể chất khác nhau. <br /><br />Bản chất văn hóa giữa Đông và Tây thuộc về hai thái cực. Văn hoá Đông phương thiên về mặt tĩnh, trong lúc văn hóa Tây phương ở phía động. Đông phương chọn đêm làm mốc thời gian, chọn ngày chết làm ngày tưởng nhớ. Cõi trầm tư và im lặng là cõi vĩnh hằng. Nên người phương Đông cất dấu những hình tượng, danh xưng, gia tài quý báu vào chỗ trú ẩån riêng tư như kiêng tên, cữ họ; phủ mặt những tượng ảnh thờ. Tây phương thì ngược lại, họ lấy ngày làm mốc thời gian, chọn ngày sinh làm ngày kỷ niệm. Khi sùng kính một nhân vật nào đó thì người phương Tây đem ra chốn phồn hoa đô hội; nhận diện, nêu danh để phô trương thanh thế, trưng bày ảnh tượng giữa những công trường. Bởi vậy, khi nói đến nghệ thuật tượng đài, nhân loại vẫn có cái chung là ý hướng ghi khắc để nhớ. Nhưng ghi khắc như thế nào và nhớ theo cách suy tưởng của từng thời kỳ và hoàn cảnh văn hóa cụ thể ở đâu vẫn còn là một câu hỏi và một câu trả lời không đơn giản. <br /><br />Tại Á Châu, đặc biệt là Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ… tượng đài xuất hiện rất sớm, từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên. Ở Trung Hoa, đến đời nhà Chu thì việc ghi khắc xây dựng tượng đài đã được thực hiện và hoàn thành đến mức chuẩn mực. <br /><br />Theo truyền thống cổ điển Việt Nam, mỗi nhà đều có bàn thờ tổ tiên; mỗi xóm đều có am miếu, mỗi làng đều có đình chùa để thờ phụng các đấng tiền nhân có công khai sáng hương thôn và những anh hùng liệt nữ đã hy sinh cho đất nước. Thật ra, Việt Nam và các nước ở phương Đông không thiếu vắng tượng đài như Young nhận định. Nhưng tượng đài phương Đông ở dưới dạng tiềm ẩn trong núi non, hang động; hay chỉ được đặt để ở chốn tôn nghiêm như đình chùa am miếu.<br /><br />Tượng đài là một công trình nghệ thuật kết hợp cả ba loại hình nghệ thuật: Hội họa, điêu khắc và kiến trúc. Ở các nước Âu Châu mà đứng đầu là Ý, khái niệm tượng đài được thực hiện một cách rõ nét và chặt chẽ. Nét điển hình nhất cho một công trình tượng đài hoàn chỉnh là tượng đứng trên đài. Thường &quot;Tượng&quot; là một tác phẩm điêu khắc và &quot;Đài&quot; là một tác phẩm kiến trúc nghệ thuật minh họa cho bối cảnh lịch sử của tượng. Lý tưởng nhất là khi một công trình tượng đài hoàn chỉnh được dựng lên tại một ngôi đền, trước một cung điện hay giữa một khung cảnh lịch sử. Khái niệm &quot;đền đài, cung điện&quot; trở thành tiêu biểu ở Âu Châu và Mỹ Châu hơn là ở Á Châu. Nếu tượng David không được đặt ở giáo đường Saint Peter ở Florence của Ý; tượng Jeanne d’Arc không đặt ở Paris của Pháp; tượng Churchill không đặt ở công trường Parliament – London của Anh; tượng Nữ thần Tự do không đặt ở cảng New York của Mỹ... thì linh hồn tượng đài sẽ mất đi sự rung cảm vô hình nhưng rất thiêng liêng và mãnh liệt của con người giới hạn đối diện với dòng lịch sử vô cùng.<br /><br /><br />Xung quanh tượng đài Huyền Trân Công Chúa <br /><br />Một tượng đài điển hình thường mang ba đặc tính tiêu biểu có thể xếp theo thứ tự ưu tiên như sau:<br /><br />1. Có giá trị về nghệ thuật<br />2. Có ý nghĩa về lịch sử<br />3. Có tính đại chúng<br /><br />Trong lịch sử khoảng chừng 5000 năm trở lại của nhân loại, tính từ thời kỳ Đồ Đá cổ Ai Cập và Trung Hoa đến nay, đã có hằng hà sa số những tác phẩm mỹ thuật điêu khắc, những tượng đài lớn nhỏ dựng lên từ trong hang động thâm u đến những công trường chói sáng. Vật liệu có thể thay đổi từ dạng đất sét nung, đá, gỗ, đồng, thạch cao và hiếm hoi hơn là vàng hay ngọc. Sự gạn lọc của nghệ thuật cũng rất khắt khe từ phía người đương thời và lớp lớp đời sau. Những tượng đài còn tồn tại trong ký ức nhân loại qua sách vở hay bằng hình dáng hiện thực sống động ngày nay đều là những tác phẩm nghệ thuật thời danh và bất hủ. Đã có biết bao nhiêu tượng đài xuất hiện và mai một vì thiếu vắng công trình và tài năng nghệ thuật tác tạo ra chúng, nên đã bị quên lãng như những khối vật chất nguyên sơ chưa từng được khai phá. Tuy nhiên, khái niệm về tượng đài được phô diễn một cách hòan chỉnh và đại chúng xuất hiện từ khoảng năm 600 trước Tây Lịch tại Ai Cập. Người Ai Cập quan niệm rằng, chân dung của con người là tiêu chuẩn của tất cả thế giới vật lý. Hình tượng Appolo đứng vươn vai, không một mảnh vải che thân hay những bức tượng Nhân sư (đầu người, mình sư tử), Nhân ngư (nửa người nửa cá) trong ngành điêu khắc cổ Hy Lạp thường được xem như là khởi điểm nghệ thuật của ngành điêu khắc sau nầy. Và con đường thiên lý đó kéo dài cả 15 thế kỷ sau mới có những Auguste Rodin, Daniel Amony, Michel Colombe (Pháp); Giovannni Bernini, Michelangelo (Ý)... xuất hiện.<br /><br />Mỗi tượng đài đều mang theo một dòng lịch sử, dù là thực chất hay huyền thoại, xung quanh. Tượng đài có thể mang nội dung lịch sử thần kỳ của một xã hội, một đất nước, một tổ chức. Hoặc tượng đài để vinh danh, tri ân, tôn sùng một nhân vật lịch sử của một thời kỳ, một xã hội hay một quốc gia hay một tôn giáo nào đó như tượng Phù Đổng Thiên Vương, Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng (Việt Nam); David, Moses (Ý); Napoleon, Jeanne d’Arc (Pháp); George Washington, Abraham Lincoln (Mỹ)...<br /><br />Trong một số trường hợp, tượng đài là một biểu tượng nói lên một cách vừa trực tiếp, vừa gián tiếp nội dung của lịch sử, của một biến cố, một sự kiện hay một nghĩa cử. Như đài kỷ niệm Monument du Lion ở Luzern, Thụy Sĩ là một biểu tượng đầy xúc động về sự hy sinh của những chiến sĩ can trường đã chết một cách anh dũng cho quê hương được tồn tại và hồi sinh. Đến viếng đài kỷ niệm nầy vào một sáng trời mưa, nhìn hình tượng xuyên qua đôi dòng lịch sử &quot;chiến sĩ vô danh&quot; khắc sâu trên đá, tôi cảm thấy xúc động đến lạnh người. Tất cả biểu tượng chỉ là hình ảnh một con sư tử già được tạc ngay trong núi đá, lớn ngang tầm trái núi. Con sư tử nằm chết một cách can trường với vẻ mặt vừa uy nghi vừa đau đớn; chuôi đao còn cắm phập trên lưng. Nét thần kỳ tỏa ra trên bức tượng nầy là dáng gục ngã hào hùng như người xưa thường nói: &quot;Luận anh hùng chớ kể hơn thua!&quot; Có những tượng đài gây một ấn tượng lạ lùng và sâu lắng vì nghệ thuật kiến trúc độc đáo một cách bất ngờ như &quot;Tháp bút chì&quot; – Đài kỷ niệm Washington hay &quot;Bức tường tiếc thương&quot; đen tuyền và lạnh bóng đặt sâu dưới lòng đất – ghi tên 55 nghìn lính Mỹ tử trận trong cuộc chiến Việt Nam được xây dựng tại Washington DC. Hoặc tượng đài chỉ nhằm nói lên một ý niệm như tượng Nữ thần Tự do ở New York. <br /><br />Tính đại chúng cũng là một nét tiêu biểu không thể vắng bóng trong thế giới tượng đài. Tượng đài rất khác với một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc thuần túy vì đối tượng quan chiêm tượng đài là quần chúng đủ mọi trình độ học vấn, mọi trường phái nghệ thuật, mọi thành phần và giai cấp xã hội. Một tượng đài được xem có tính đại chúng cao khi cái &quot;thông điệp&quot; mà những nhà xây dựng tượng đài muốn nói lên có thể truyền đạt đến được cả tâm hồn và nhận thức của mọi lớp quần chúng từ kẻ mù chữ đến hàng thức giả; từ khách phương Đông đến khách phương Tây. Ngôn ngữ của tượng đài, vì thế, là một loại ngôn ngữ phổ cập và đại chúng vượt ra ngoài biên giới của thời gian, không gian và chủng tộc.<br /><br />Khi nói đến một tượng đài Huyền Trân Công Chúa có khả năng xây dựng ở Huế, mọi người đều có những ý tưởng vừa rất rõ nét, vừa rất mơ hồ; vữa lãng mạn, vừa thực tế một cách... đáng yêu!<br /><br />Trước hết là động cơ xây dựng tượng đài có vẻ như đã chín muồi sau một chuỗi thời gian dài suy tư... 700 năm! Những học giả có thẩm quyền như các nhà Huế học, cổ học, sử học, mỹ học và... &quot;tư&quot;ï học ... đã nhiệt thành nói lên ý kiến của mình qua phương tiện truyền thông đại chúng hay riêng tư đều đồng ý rằng thời gian chờ đợi suốt bảy thế kỷ có... hơi lâu. Từ ý niệm đến hiện thực có thể chỉ là một chiếc cầu ao, mà cũng có thể là chiếc cầu Ô Thước &quot;thấy có mà ngó không&quot; thêm dăm ba thế kỷ nữakhông chừng! <br /><br />Nếu mượn tạm cái đề cương &quot;5W&quot; của chủ nghĩa thực dụng Mỹ mỗi khi lập đề án cho một công trình thì vấn đề được đặt ra là: (1) Cần xác định rõ ràng nội dung, ý nghĩa của công việc sắp thực hiện (What); (2) mục đích và yêu cầu của công trình (Why); (3) ai sẽ là người đứng ra thực hiện và cung cấp tài chánh (Who); (4) khi nào thì mới có thể thực hiện và hoàn thành được (When); (5) công trình sẽ được thực hiện ở đâu (Where).<br /><br />Một khi chuyện &quot;5W&quot; đã giải quyết rồi thì vấn đề còn lại là công trình sẽ được thực hiện như thế nào để thể hiện được cả 3 mặt nghệ thuật, lịch sử và đại chúng.<br /><br />Truyền thống Huế là nghèo mà sang, không phải &quot;sang&quot; theo lối kiêu kỳ, hợm hĩnh của &quot;trưởng giả học làm sang&quot; mà chỉ là những nét đơn sơ và đạm bạc trong tinh thần &quot;áo rách khéo vá hơn lành vụng may&quot; thôi! Bởi vậy, Huế sẽ không cưu mang nổi một công trình tượng đài nặng phần trình diễn về hình thức mà nội dung rỗng không và phi nghệ thuật.<br /><br />Tượng đài thường xuất hiện dưới 3 hình thức phổ biến nhất, đó là: Hiện thực, hiện thực kết hợp với biểu tượng và thuần biểu tượng.<br /><br />Thật không dễ dàng và đơn giản để chọn lựa một mô thức tượng đài Công Chúa Huyền Trân theo một trong ba dạng ấy. <br /><br />Nếu theo dạng hiện thực thì nhân dáng của Huyền Trân sẽ như thế nào? Hình ảnh một nàng công chúa tuyệt trần được mô tả trong chuyện thần tiên chung chung chăng? Hay là một khuôn mặt đẹp có dáng vẻ mượt mà, thuần hậu, yêu kiều, đăm chiêu, trẻ trung, cương nghị, lắng đọng, sâu thẳm... của một David mà chỉ có thiên tài Michelangelo mới mong thực hiện nổi? Nếu chọn theo dạng hiện thực kết hợp với biểu tượng đại khái như mái tóc là dòng sông Hương; khuôn mặt là hình ảnh cô gái Huế dịu dàng; gót chân là những đóa hải đường hàm tiếu hay mãn khai; tà áo là dáng mây bay qua núi Ngự... thì liệu có dễ dàng tìm ra một mảnh đất chung cho một khái niệm về biểu tượng hay không?<br /><br />Nghệ thuật vẫn phong phú và bao la như bầu trời vô tận, nên không ai biết phải đi bao xa và tìm kiếm bao lâu mới tìm ra &quot;bí quyết&quot; để đạt đến vẻ đẹp toàn bích, chân và mỹ, của nghệ thuật. Những nghệ sĩ thiên tài dường như đều tìm thấy cái đẹpï ấy trong chính sự sâu thẳm của mình và trong thế giới riêng tư của mình để diễn đạt vẻ đẹp ấy bằng cảm quan nghệ thuật &quot;tự tại&quot; theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.<br /><br />Biểu tượng chiến đấu trong thiên hùng sử &quot;David chống Goliath&quot; đã được Bernini dùng những đường nét của khuôn mặt mình để khắc họa nên tác phẩm tượng đài bất hủ này khi nhà nghệ sĩ điêu khắc tài danh nầy mới 21 tuổi. Michelangelo cũng phản ánh hình tượng của chính mình để khắc tượng David. Và Frederic Auguste Bartholdi, người Pháp, cũng đã dùng khuôn mặt của mẹ mình để dựng nên tượng Nữ Thần Tựï Do ở Mỹ. Ước mong sao nguồn suối nghệ thuật để khắc họa một chân dung tượng đài Công Chúa Huyền Trân là những chất liệu đang tiềm tàng trong lòng đất quê hương.<br /><br />Nếu cuộc đời vẫn &quot;suông sẻ&quot; thì thế hệ Chiến Tranh Việt Nam của chúng ta cũng chỉ còn đủ sức kiên gan đợi chờ tối đa là vài ba chục năm nữa rồi sẽ rủ nhau về đất. Chúng ta có được dịp say sưa đứng ngắm một tượng đài Huyền Trân Công Chúa ở Huế hay không là tùy thuộc vào khả năng vận động và kết hợp trong bước khởi đầu đầy khó khăn và trở ngại ngày hôm nay. Ngày xưa, nước non nghìn dặm vẫn không làm chùn bước chân son lịch sử của nàng công chúa họ Trần bẻ quế lên đường. Một ngày đang đến là một ngày đang qua, nước non trước mặt, đâu còn truông sâu vàsóng dữ để chúng ta phân vân thấp thỏm đợi chờ một ngày mai lập lại ngày hôm nay.<br /><br />Rồi ba trăm năm sau – Tam bách dư niên hậu – thời gian mà thi sĩ Nguyễn Du nghĩ rằng đủ dài để nhớ hay quên thì những tóc xanh tóc trắng, yêu thương mơ mộng, mùa Thu và lá vàng… đang bay ngoài cửa sổ hôm nay sẽ còn chi lưu dấu hay còn chăng &quot;một nấm cổ khâu xanh rì&quot;! Những người qua Huế có chăng một chuyến dừng chân lại một nơi nào đó ở Huế ngắm nhìn bức tượng Huyền Trân rêu phong đã ba thế kỷ. Hay vẫn còn nghe vọng âm tiếng chuông lạnh cả hư không từ phía đồi xa mà bâng khuâng tự hỏi rằng: &quot;Một nghìn năm qua rồi mà Huyền Trân còn ai quên, ai nhớ?!&quot; <br /><br />California, Đông 2002