PDA

View Full Version : PHONG TỤC & LỄ HỘI HUẾ


thao
27-05-2012, 09:19 AM
<b>LỄ RƯỚC HẾN MỘT PHONG TỤC LỄ HỘI Ở LÀNG CỒN SOI</b><br /><br />Ngày mở hội là ngày 24 tháng 6 âm lịch hàng năm. Ba năm một lần làm lễ lớn, kéo dài từ 2 đến 3 ngày, ngày chính lễ là ngày 24 tháng 6 âm lịch. Năm thường thì làm tiền lễ (chỉ đi rước) và cây Phan giữa sông sẽ nhỏ hơn, không có điểm hội đồng như đại lễ. Lễ tục này được tổ chức là do nguyên nhân sau:<br />Niên hiệu Thành Thái thứ 4 (Nhâm Thìn 1892) ở phường Giang Hến có bà Trần Thị Thẹp đi &quot;tròng&quot; (thuyền nhỏ) ra dũi hến ở vùng sông trước đình Hương Cần (huyện Hương Trà), bị hương lý xã kéo ra bắt, đưa &quot;tròng&quot; của bà Thẹp lên bờ đòi chịu nộp thuế phạt, với lý do &quot;Hến về làng, thành hoàng về miếu&quot;. Dân phường Giang Hến hay tin, làm đơn kéo nhau đi kiện, được châu phê:<br /><br />Cồn hến <br />&quot;Thượng từ nguyên đầu, hạ chí hải khẩu&quot; (Nghĩa là: Từ đầu nguồn đến cuối sông biển, ao hồ chịu thuế, sông nước được dùng).<br />Ðược thắng kiện, phường Giang Hến kết long đình trên thuyền, trang trí cờ lọng đi rước, châu phê xã Hương Cần phải thả bà Thẹp, đưa &quot;tròng&quot; của bà Thẹp xuống nước, dân phường Giang Hến rước về tận đình phường làm lễ tạ. Dân phường cho rằng: sở dĩ làng được kiện là nhờ thần sông phù hộ, cho nên dân làng lấy ngày này làm ngày lễ tế hàng năm. Ý nghĩa ngày tế là loại lễ hội theo phong tục, có tính chất hương lễ, chỉ do dân làng phường Giang Hến cử hành và tham dự.<br />Tiến trình lễ hội bắt đầu bằng việc kết thuyền trang trí long trọng, có án thờ giữa thuyền ở đầu cồn Hến (ngã ba sông Hương). Ở giữa sông cắm cây đại phan, gọi là &quot;Hội đồng thần kỳ&quot; do các bô lão túc trực.<br />Một đoàn thuyền khác, mỗi thuyền đều trang trí cờ lọng, án thờ kết hoa, có trống, chiêng, phường nhạc bát âm, xuất phát từ &quot;Hội đồng thần kỳ&quot; trung tâm, toả đi hai hướng thượng nguyên và hạ nguyên gọi là cung nghinh thần kỳ sông nước các nơi.<br />Khi đến mỗi địa điểm, chọn nơi có điều kiện, bày hương hoa, quả phẩm, gạo muối làm lễ nghinh rước, đủ 3 tuần rượu rồi cung nghinh về điểm xuất phát. Sau dó lên bờ trở về nhà thờ họ Nguyễn (nhà thờ chung 12 họ khai canh của xã Phú Xuân) để làm lễ rước thần khai canh cùng về đình hiệp tế.<br />Tất cả người tham dự hội lễ toàn là nam giới, gồm các vị bô lão, trung niên và lớp thanh niên. Ðám rước thần sông nước gồm một số người mặc áo dài đen, thắt lưng bằng vải đỏ gánh án thờ chính ở điểm hội đồng. Phía trước có một số người mặc áo dài đen, thắt lưng vải đỏ, cầm chèo thuyền phân làm hai hàng, vừa đi vừa làm động tác chèo thuyền và cất giọng hò mái đẩy, có kèn trống, giàn nhạc phụ hoạ gọi là chèo cạn.<br />Ðoạn cuối là các chức sắc trong phường cùng với dân làng, ăn mặc y phục cổ truyền đi theo đám rước để hầu thần. Trước khi đám rước vào đình còn phải ghé vào nhà thờ họ Nguyễn để làm lễ rước thần về hợp tế. Thần khai canh phường Giang Hến là ông Huỳnh Tương, nguyên người làng Diên Ðại, huyện Phú Vang, tới Cồn Hến lập nghiệp bằng nghề dũi hến. Vua Gia Long lên ngôi, vùng Cồn Hến được đặt tên là phường Giang Hến thuộc xã Phú Xuân.<br />Theo &quot; Phú Xuân Sử Ký &quot;

minhchaubeauty
27-05-2012, 09:19 AM
<b>LỄ TẾ TRỜI Ở ĐÀN NAM GIAO</b> <br /><br />Ngày xưa, các bậc đế vương coi mình là thiên tử - con trời, mà trời là đấng chí tôn giữ gìn vận mệnh và ban phát hạnh phúc cho muôn dân nên thường năm họ đều tổ chức long trọng lễ tế trời rất. Vì là con trời, thay trời trị dân nên đích thân nhà vua phải đứng làm chủ tế để chứng tỏ hiếu nghĩa của một người làm con.<br /><br />Dưới triều Nguyễn, lễ tế trời được cử hành tại đàn Nam Giao vào trung tuần tháng hai hàng năm. Trước triều vua Thành Thái, lễ được tổ chức một năm hoặc hai năm một lần. Đến năm Thành Thái thứ 2 (1890), ba năm tế một lần.<br /><br />Đàn Nam Giao được xây dựng xong vào năm Gia Long thứ 5 (1806) ở làng Dương Xuân, phía nam Kinh thành Huế, trong một khuôn viên đất dài 390m, rộng 265m, trên một vị thế cao ráo, thoáng đãng. Chung quanh khuôn viên bao bọc bởi một vòng tường thành bằng đá trổ 4 cửa rộng theo 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc, trước mỗi cửa xây một bức bình phong rộng 12,5m, cao 3,2m, dày 0,8m. <br /><br />Đàn gồm 3 tầng:<br /><br /><br />Đàn Nam Giao<br /><br /><br />Tầng trên cùng gọi là Đàn thượng hình tròn nên còn gọi là Viên đàn, đường kính 9 trượng 6 thước, nền cao 7 thước. Bốn phía đều xây bậc lên xuống, mặt nam 15 cấp, ba mặt bắc, tây, đông đều 9 cấp. Xung quanh Đàn là một vòng lan can màu xanh tượng trưng cho trời (Thiên), cao 2 thước.<br /><br />Tầng thứ 2 gọi là Đàn trung có hình vuông nên được gọi là Phương đàn, vòng lan can màu vàng tượng trưng cho đất (Địa). <br /><br />Tầng dưới cùng gọi là Đàn hạ, cũng hình vuông, vòng lan can màu đỏ tượng trưng cho người (Nhân).<br /><br />Bên trái đàn là Trai cung, nơi vua chay tịnh trước khi hành lễ. Bên phải có Thần khố (kho để đồ tế) và Thần trù (nhà bếp chuẩn bị lễ vật cúng tế).<br /><br />Trước 1 ngày, bắt đầu từ canh 5, Cấm binh cờ xí, giáo mác đầy đủ, dàn bọc xung quanh đàn cả trong lẫn ngoài và các nhà Thần trù, Thần khố, Trai cung. Lính của các quân bộ Binh xếp hàng nghiêm ngặt vào vị trí phân định của mình dọc hai bên con đường xa giá của nhà vua đi qua, kéo dài từ trong Đại Nội đến bến Phu Văn Lâu, qua bến đò bờ nam sông Hương ở xã Dương Xuân, cho tới tận đàn Nam Giao. Đồng thời kỳ lão 6 huyện thuộc phủ Thừa Thiên bày hương án hai bên đường từ bến đò bờ nam đó cho tới tận đàn sở, họ phải quỳ đón và quỳ tiễn xa giá của vua cho đến khi nhà vua yên vị tại Trai Cung.<br /><br />Đám rước bắt đầu vào lúc trời vừa tản sáng, mở đầu bằng việc các Thái giám bưng Đồng nhân trong phòng Trai cung điện Cần Chánh bàn giao cho quan Thái Thường tự; Đồng nhân này sẽ được rước lên đặt ở Trai cung tại đàn Nam Giao. Một không khí chờ đợi, nao nức sống dậy sau một đêm thiếu ngủ trong hàng vạn binh lính, các kỳ lão và các dân chúng từ mọi vùng đến xem. Cờ xí, giáo gươm dựng lên phấp phới. Thế rồi, phút chốc cờ vàng tung bay trên Kỳ Đài báo hiệu giờ phút vua lên đường đến Đàn Nam Giao để tế trời. Đoàn Ngự đạo tiến về Đàn Nam Giao với 3 đạo: Tiền đạo, Trung đạo và Hậu đạo.<br /><br />Tiền đạo: <br /><br />Dẫn đầu bởi hai thớt voi trang hoàng rực rỡ, trên mình dựng lầu sơn son, mõi thớt da một viên Quản tượng và 3 tượng binh điều khiển, chúng chậm rãi bước đi với dáng vẻ nghiêm trang. Tiếp theo sau hai thớt voi, tiền đạo được xắp xếp lần lượt như sau:<br /><br />- Hai võ quan cưỡi ngựa cầm cờ Cảnh tất có lính che lọng, theo sau là các võ quan gồm một viên Đô thống và hai viên Chánh quản di hai bên; đến hai toán lính nhung phục, toán bên trái khiêng một cái giá trống, đều che lộng đỏ.<br /><br />- Viên thống chế cưởi ngựa che lọng cầm loa đồng, chung quanh là một toán lính mặc nhung phục, cầm cờ Ngũ hành (cờ Kim, Mộc ở bên phải, cờ Thủy, Hỏa bên trái; cờ thổ ở giữa).<br /><br />- Phường trống ngũ lôi (gọi là Ngũ lôi đồng cổ) mang não bạt, thanh la, trống (đánh hai tiếng một).<br /><br />- 60 lính Ngự lâm áo nỉ đỏ cầm cờ Tam tài, Tứ phương, Vân cẩm, Long vân, Thập nhị thời thần, Phong, Vân, Lôi, vũ và 8 lính Ngự lâm cầm phan Thi huệ, Phu văn, Chấn võ, hành khánh.<br /><br />- 4 cấm binh cầm một lá cờ Bắc đẩu lớn đi ở giữa hai bên là hai hàng lính cầm 28 lá cờ Nhị thập bát tú.<br /><br />- Cổ xe Ngọc lộ do một thớt voi kéo, hai hàng kỵ binh và 14 bộ binh đi theo hộ vệ.<br /><br />- Cỗ xe Long đình do 4 con ngựa kéo, hai bên che quạt lá vả thêu rồng, mây, chữ phúc, chữ thọ, 12 bộ binh đi theo hộ vệ hai bên.<br /><br />- Ban Đại nhạc với trống lớn, ken lớn, thanh la, tù và, nhưng không cử nhạc suốt đường đi.<br /><br />- Một toán lính dàn hàng tư cầm cờ Tam tài, Tứ phương, 10 cái tàn màu vàng.<br /><br />- Cỗ xe Long đình để rượu, gọi là phúc tửu, được che bằng hai cái lọng vàng.<br /><br />- Một Long tiễn che bằng 4 lọng vàng, có 20 bộ binh hộ vệ hai bên.<br /><br />- Cuối cùng là kiệu Cửu long khúc bính che 2 lọng vàng, 4 bộ binh đi theo hộ vệ.<br /><br />Trung đạo: <br /><br />- Đi đầu là viên Thống chế cưỡi ngựa, hai bên có hai con ngựa đóng bành, theo sau là hai viên Chánh quản đi song song.<br /><br />Hai giá trống, giá chiêng che lọng đỏ do một viên suất đội điều khiển đám lính khiêng, theo sau là một toán các võ quan.<br /><br />- Ban Nhã nhạc với đàn, sáo, hồ, nhị, phách, sênh, tiền.<br /><br />- Cỗ Long đình kim bảo đựng các thứ ngọc quý khi làm lễ do 6 người khiêng, hai hàng lính cầm tờ, quạt dàn hai bên để hộ vệ.<br /><br />- Một đoàn lính Hộ vệ, Cảnh tất đi hàng hai, cầm cờ Thanh long, Bạch hổ, Huyền vũ, Chu tước, cờ Bát quái, Long, Phụng, Nhật, Nguyệt.<br /><br />- Cỗ xe long đình che hai lọng vàng, trong đó chở các đồ tế phục của vua.<br /><br />- Hai hàng lính Ngự lâm cầm tàn vàng, quạt vả, gương trường hộ vệ kiểu Cửu long khúc bính che hai lọng vàng, sau kiệu là các vị tôn tước.<br /><br />- Bốn hàng lính Cẩm y mang 4 đèn lồng, 2 lư hương, 2 hộp hương, 2 phất trần, 2 chiếc gươm tuốt trần chuôi mạ vàng, 2 thanh Ngự kiếm, 16 chiếc gậy Kim ngô, 16 chiếc gậy ngự trượng, 8 cái búa vàng, 8 cái vớt vàng.<br /><br />- Kiệu vua, hai bên che 4 chiếc lọng vàng bằng lụa thêu hoa, mây ngũ sắc; 4 chiếc tàn vàng bằng vóc thêu 9 con rồng; hai bên có 20 lính Thị vệ dàn hầu, đi sau là một ban Nhã nhạc vừa tiến hành vừa cử nhạc. Nhà vua ngồi trên long tiễn, đầu chít khăn vàng, mình mặc áo vàng, im lặng, trang nghiêm. Theo hầu sau kiệu vua là các hoàng thân, hoàng tử, các thái giám.<br /><br />- Bốn người lính khiêng Ngự kỷ (ghế của vua) che 4 lọng vàng, một toán lính Túc vệ cầm búa vàng, vớt vàng, trường thương theo hầu.<br /><br />- Xe nhuyễn như che 4 lọng vàng, có lính cầm cờ quạt đi hai bên.<br /><br />- Một cỗ xe Long đình che 4 lọng vàng, chở các đồ Ngự dụng (những vật nhà vua dùng)<br /><br />- 20 lính Thị vệ và hai con ngựa đóng bành.<br /><br />- Cuối cùng là một đám lính cờ, quạt phấp phới, đủ màu.<br /><br />Hậu đạo: <br /><br />- Mở đầu là các quan đại thần ban võ như Đô thống, Thống chế, Đề đốc, Lãnh binh; theo sau là giá chiêng, giá trống và bốn hàng bộ binh dài cầm cờ Tam tài, Nhị thập thời trần, Nhị thập bát tú.<br /><br />- Một cỗ xe Long đình che 2 lọng vàng, 2 quạt vả, bên trong đặt tượng Đồng nhân, tay cầm cái biển ghi hai chữ Trai giới. Theo sau là đông đảo các quan võ tứ phẩm, quan văn ngũ phẩm trở xuống, người cưỡi ngựa, kẻ đi võng do lính khiêng, có che lọng.<br /><br />- Phần cuối của Hậu đạo, cũng là phần cuối của đám rước là một đám lính cầm cờ quạt và 2 thớt voi trang hoàng rực rỡ.<br /><br />Đến giờ quy định, Phương đàn, Hạ đàn các hạng hương, đen, trầm, trà, các lễ phẩm trâu, bò, đèn, lụa, vàng, ngọc, chén, bát, xuôi, rượu…đều được xếp đặt đày đủ, tử tế vào các chỗ đã quy định. Các quan phân hiến, Bồi tế, Chấp sự có mặt ở vị trí của mình. Các ca công cung kính đứng chờ ở hai bên tả, hữu đàn. 30 viên quản cai, quản vệ, cai đội, hiệu úy của Thân binh, cấm binh dàn hàng hai bên Viên đàn. Hai bên bậc cấp Hạ đàn và Phương đàn, mỗi nơi có 8 viên quản vệ, cai đội lính Thân binh, Cấm binh giơ cao đèn, đuốc, kiếm chờ đón vua đến làm lễ.<br /><br />Một vùng đèn đuốc sáng rực giữa bốn phương đắm chìm trong bóng tối, giữa hơi sương mùa xuân nhẹ buông xuống vạn vật… tất cả tạo thành một khung cảnh vô cùng trang nghiêm, huyền ảo… để chờ Vua từ Trai Cung ra Đàn làm chủ tế.<br /><br />Sau khi lễ tế đã xong, chuông trống tại Trai cung gióng giả nổi lên. Đại nhạc, nhã nhạc, quân nhạc cùng nhất loạt cử hành. Kiệu vua đến cửa Bắc thì chuông trống ngưng tiếng; kỳ lão phủ Thừa Thiên quỳ đón, tiễn vua về Đại Nội. Đến bến sông Hương, vua ngự lên thuyền, thay lễ phục bằng thường phục. Thuyền ngự vừa cập bến Phu Văn Lâu, lính Thị vệ, Biền binh đã chực sẵn để nghênh đón. Ngự giá theo cửa Quảng Đức tiến về Ngọ Môn. Chuông trống trên lầu Ngũ phụng nỗi lên. Khi ngự giá vào tới điện Cần Chánh, Vua lên ngai vàng nhận lại kỳ bài do quan giữ thành đem nộp. <br /><br />Có thể nói, lễ tế Nam Giao là đại lễ quy mô nhất, tốn nhiều công của nhất trong số các lễ hội triều Nguyễn.<br /><br />Theo &quot; Huế Xưa và nay &quot;

chinh186
27-05-2012, 09:19 AM
<b>LỄ ĐĂNG QUANG</b><br /><br /><br />Với ý nghĩa chính thức mở đầu một triều vua, mở đầu một giai đoạn mới của chế độ, lễ Đăng Quang (vua lên ngôi), được coi là một đại lễ trang trọng hàng đầu, không chỉ liên quan tới cuộc sống cung đình mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ cuộc sống xã hội của đất nước.<br /><br />(Thế tổ Cao Hoàng Đế - vua Gia Long – đăng quang ngày 12-5-1806.<br /><br />Thánh tổ Nhân Hoàng Đế - vua Minh Mạng – đăng quang ngày 1 tháng Giêng – 1820.<br /><br />Hiến tổ Chương Hoàng Đế - vua Thiệu Trị - đăng quang ngày 20 tháng Giêng – 1841.<br /><br />...)<br /><br />Nhìn chung, nghi tiết, điển lễ lên ngôi qua các đời vua không thay đổi nhiều lắm. Lễ Đăng Quang của vua Thiệu Trị (1841-1847) – vị vua kế thừa ngôi báu của Minh Mạng, kế thừa giai đoạn thịnh trị nhất của vương triều Nguyễn được tổ chức theo nghi thức.<br /><br />Trước mấy ngày, bộ Lễ cử người đến làm lễ tế ở đàn Nam Giao, Thái Miếu, Triệu Miếu để kính cáo thiên hạ, liệt thánh, dọn dẹp trong và ngoài Kinh thành cho sạch đẹp, nhất là những địa điểm được chọn làm nơi tổ chức các nghi lễ cần thiết. Trước lễ một ngày, tại điện Thái Hòa, bộ Lễ đặt sẵn 2 hoàng án trước ngai vàng; 2 châu án ở hai gian tả, hữu; 2 đội tiểu nhạc ở tả, hữu bệ rồng; 2 đội đại nhạc ở tả, hữu thềm điện.<br /><br />Vào canh năm ngày lễ, ở lầu Ngọ Môn vừa gióng lên 3 hồi trống, trên Kỳ Đài lập tức treo cờ khánh hỷ, biền binh đưa đại giá lỗ bộ đến sân sau điện Thái Hòa, đặt một long đình có che tàn lọng trước cửa Ngọ Môn và dàn bày nghi thức thường triều tại sân điện Cần Chánh.<br /><br />Tờ mờ sáng, Nội Các cử người đến điện Cần Chánh lĩnh hòm ấn ngọc, hộp son, ống kim phụng đựng tờ chiếu đưa ra điện Thái Hòa, hòm ấn ngọc đặt trên hoàng án chính giữa, hộp son trên châu án ở gian bên tả. Đồng thời, bộ Lễ cử người nhận hòm kinh sách, hòm biểu mừng, lễ mừng đặt lên các án còn lại trong điện. Các viên quan tuyên chiếu, đọc biểu đứng chực ở chái đông. Hoàng tử, hoàng thân, hoàng công, hoàng đệ và bách quan văn, võ theo ban tập hợp đông đủ trong, ngoài điện Thái Hòa. Các tôn nhân, tôn sinh, giám sinh đứng ở tả, hữu phía nam cầu Kim Thủy. Quan Kinh Doãn phủ Thừa Thiên hướng dẫn kỳ lão các huyện thuộc phủ đến chực hầu ở hai bên sân Phu Văn Lâu.<br /><br />Đến giờ, sau khi bộ Lễ và viên Thị vệ đại thần cho vua biết công việc sửa soạn đã nghiêm chỉnh, đầy đủ vua Thiệu Trị trong phẩm phục đại triều từ nội điện bước ra, uy nghi lên ngự tọa ở điện Cần Chánh. Ty Loan giá đưa kiệu tới thềm điện, tâu mời vua lên xa giá. Chuông trống gióng giả vang lên trên lầu Ngọ Môn. Đến thềm phía bắc điện Thái Hòa, nhà vua ung dung bước lên các bậc cấp. Chuông trống ngừng bặt trên lầu Ngọ Môn, 9 tiếng súng lệnh nổ vang. Bây giờ, vua ngự lên ngai vàng. Thái giám đốt lò trầm hương nghi ngút. Bách quan, trong tư thế bày hàng định sẵn, đồng loạt lạy 5 lạy làm lễ tấn tôn, xong tất cả đều quỳ.<br /><br />Một viên quan Nội Các kính cẩn bưng hòm đựng Kim sách đặt lên trên hoàng án ở phía trước ngai vàng. Quan đọc kim sách bước đến thềm điện ở gian giữa, mặt hướng về ngai vàng, quỳ xuống tiếp nhận kim sách do quan Nội Các giao, sau đó sang sảng tuyên đọc:<br /><br />“Trộm nghe: đặt ra vua thầy là chí lý của thượng đế thương dân chúng, lên ngôi hoàng đế là danh hiệu của thánh nhân”.<br /><br />Sau khi nêu rõ di chiếu truyền ngôi cho đức kim thượng của vị vua quá cố (Minh Mạng), đức độ của vua kế nhiệm và ý nghĩa suy tôn của bề tôi, sách văn kết thúc bằng những lời trang trọng.<br /><br />“Cúi xin: trước thì nghĩ lo tính kế lâu dài cho nhà nước, sau thì chiếu cố lòng suy tôn của thần dân. Danh hiệu vẻ vang, sớm lên ngôi báu. Noi theo nghiệp lớn, trời Nam soi sáng bốn phương, bảo vệ nhân dân vận nước muôn phúc hưởng thụ. Bọn tôi hết mực trông mong, không xiết vui mừng”.<br /><br />Bách quan đứng dậy lễ 5 lạy.<br /><br />Tiếp theo, làm lễ Khánh hạ. Hai quan Nội Các chia nhau bưng hòm biểu mừng và hòm lễ mừng trên các châu án, sau đó giao cho viên quan đọc biểu quỳ ở thềm điện trước ngai vàng. Vị này mở hòm biểu và đọc to. Đọc xong, bách quan quỳ vái rồi đứng dậy làm lễ 5 lạy.<br /><br />Một viên quan bộ Lại quỳ tâu: Xin vua dùng ấn ngọc. Hai quan Nội Các mở hòm ấn ngọc và ống kim phụng đựng tờ chiếu vua ban, lấy ấn ngọc đóng vào tờ chiếu. Lễ Khánh hạ mừng vua lên ngôi đến đây hoàn tất. Vua Thiệu Trị rời ngai vàng. Trên lầu Ngọ Môn phát 9 tiếng súng lệnh. Đến diện Cần Chánh, nhà vua ngự lên bảo tọa để các hoàng tử nhỏ tuổi, các hoàng đệ, công tử vào làm lễ 5 lạy. Xong, vua rời bảo tọa vào nghỉ ngơi ở nội cung.<br /><br />Tại điện Thái Hòa, sau khi vua Thiệu Trị rời ngai vàng vào điện Cần Chánh, bộ Lại và Nội Các cử người giao ngay các hòm ấn ngọc, hộp son, hòm đựng ân chiếu vua ban tới các trực, tỉnh cho các quan Thái giám đưa vào cung vua. Một đoàn rước tờ chiếu đựng trong ống kim phụng ra Ngọ Môn được thành lập bao gồm đại biểu các bộ, nha, ty, sở, các hoàng thân, hoàng công, hoàng tử, hoàng đệ. Đoàn rước vượt qua sân Đại Triều, cầu Trung Đạo, chia ban đứng trên lầu Ngũ Phụng, trước và sau cửa Ngọ Môn.<br /><br />Sau khi lập ban xong, viên quan Tuyên chiếu bước tới gian chính giữa lầu Ngũ Phụng xướng to: “Có chiếu vua ban”. Bách quan nhất nhất quỳ xuống. Tờ ân chiếu được hai quan Nội Các bưng ra. Quan Tuyên chiếu hướng mặt về phía nam đọc to. Sau khi ca ngợi công đức, sự nghiệp của vua tiền nhiệm và vua cha Minh Mạng vừa quá cố, việc chuẩn bị đại lễ Đăng Quang, mục đích và ý nghĩa mình nhận ngôi thiên tử, nguyện vọng của thần dân cả nước, bản tuyên chiếu công bố 23 điều ân thưởng:<br /><br />1. Ban thưởng cho hoàng thân công, quận công, hoàng đệ, phủ Tôn Nhơn.<br /><br />2. Gia cấp bậc cho hoàng tử, thân phiên và quan viên văn,võ.<br /><br />3. Kính tế đàn Xã Tắc, miếu Đế vương các đời, Văn Miếu, miếu Thành Hoàng ở Kinh đô và vật thần kỳ trong tự điển ở Kinh và các trấn.<br /><br />4. Kính tế ở danh sơn, đại xuyên.<br /><br />5. Miễn thu thuế tiền thóc năm Thiệu Trị thứ nhất.<br /><br />6. Miễn các thuế lệ tiền thóc, sản vật trước đây còn thiếu và số thóc công vay mượn.<br /><br />7. Chuẩn mở ân khoa thi Hương, thi Hội.<br /><br />Gia thưởng lương bổng cho các quan viên từ thất phẩm đến cửu phẩm.<br /><br />8. Gia thưởng tiền lương cho các vị nhập lưu thư lại các nha và lễ sinh, y sinh, tượng y, pháp lục, chiêm hậu, nha lại các phủ, huyện.<br /><br />9. Gia thưởng tiền thưởng cho các giám sinh, ấm sinh, học sinh, cử nhân, tú tài làm việc ở bộ và các tỉnh.<br /><br />10. Gia thưởng tiền lương cho các biền binh ở Kinh, các trấn, và nhân công lò mổ ở Kinh.<br /><br />11. Cấp đủ tiền hàng tháng cho lính giản ngũ.<br /><br />12. Cấp tiền lương cho các phu trạm.<br /><br />13. Gia thưởng tiền lương cho tráng hạng thuộc các hộ biệt nạp, dân đinh già ốm.<br /><br />14. Cho khôi phục các nhân viên bị giáng.<br /><br />15. Miễn cho số tiền bị xử phạt bổng.<br /><br />16. Bổ dụng các nhân tài, phẩm hạnh tốt ẩn dật nơi rừng núi.<br /><br />17. Bổ sung các nhân sĩ tinh thông võ nghệ, tài sức hơn người.<br /><br />18. Lượng bổ tú tài 40 tuổi làm chức dạy học.<br /><br />19. Miễn giảm mức phạt cho các tù tử hình và các tù phạm đang bị giam giữ.<br /><br />20. Tha bổng cho phạm nhân bị tội quân, tội lưu trở xuống.<br /><br />21. Miễn giảm cho kẻ trốn tránh, tự ra đầu thú.<br /><br />22. Miễn giảm cho các án xử bôi lang chưa thanh toán.<br /><br />Đọc xong, tờ chiếu được treo vào sợ dây tơ, do quan bộ Lại, bộ Hộ từ từ thả xuống sân Ngọ Môn. Bộ Lễ đón nhận tờ chiếu đặt lên phong đình. Ty Loan Nghi từ từ rước long đình ra Phu Văn Lâu giữa hai hàng tàn lọng, nghi trượng theo hầu. Sau đoàn rước là quan viên hai bộ Lại, Hộ.<br /><br />Đến Phu Văn Lâu, tờ chiếu được dán lên, công bố rộng rãi cho dân chúng trong Kinh và các tỉnh biết. Quan Kinh Doãn phủ Thừa Thiên, quan đứng đầu các huyện hướng dẫn các kỳ lão nghe đọc chiếu và làm lễ 5 lạy. Tờ chiếu được bộ Lại, bộ Hộ đem phân phát cho các địa phương trong cả nước.<br /><br /><br />Theo Huế Xưa Và Nay

jgcvnr
27-05-2012, 09:19 AM
<b>LỄ TỊCH ĐIỀN </b><br /><br />Lễ Tịch Điền là lễ nhà vua đích thân cày ruộng nhằm khuyến khích dân chúng chăm lo việc cày cấy, phát triển nông nghiệp. Vua Minh Mạng từng xuống Dụ coi việc này “thực là chính sự quan trọng của đấng vương giả”. Xem xét nghi thức cử hành đại lễ này dưới triều đại Trần, Lê thuở trước, vua Minh Mạng cho rằng “nghi lễ phàn nhiều giản lược”, do đó vào năm 1828, nhà vua giao cho bộ Lễ soạn thảo chu đáo các điển lễ làm thành luật lệ lâu dài.<br /><br />Ruộng Tịch Điền dưới thời vua Gia Long được đặt ở hai phường Hòa Thái, Ngưỡng Trị trong Kinh thành, đến năm 1828 nhận thấy nơi đây là chổ đất thấp trũng, vua Minh Mạng ra lệnh chuyển về hai phường An Trạch và Hậu Sinh.<br /><br />Lễ được tổ chức vào tháng 5 âm lịch, gọi là tháng trọng xuân. Ngày, giờ cử hành được bộ Lễ xem xét cẩn thận, tâu lên vua chuẩn định ngay từ cuối tháng tư.<br /><br />Trước lễ 5 ngày, các nhân viên, kỳ lão nông phu, ca sinh…phải có mặt đầy đủ tại sở ruộng Tịch Điền dưới sự điều khiển của quan viên bộ Lễ.<br /><br />Trước một ngày, quan phủ Thừa Thiên phái thuộc hạ đến Võ Khố nhận roi, cày cùng thóc, thúng và các vật dụng khác, sau đó cung nghinh tới án vàng trước thềm điện Cần Chánh, báo cáo cho bộ Hộ rõ để bộ này tâu “rước vua thân hành duyệt đồ cày”. Duyệt xong, toàn bộ các vật dụng được chuyển đến sở ruộng. Cũng như ngày hôm đó, nhà vua đến cung Khánh Ninh chuẩn bị cho việc làm chủ lễ vào rạng sáng hôm sau. Bộ lễ cùng với phủ Nội Vụ, Võ Khố phối hợp với nhau xắp xếp bàn thờ, đồ thờ, bố trí chổ vua nghỉ bên phia trái đàn Tiên Nông là nơi diễn ra nghi lễ chính. Chúc văn được đưa tới án thờ trong đàn sở, cùng lúc các nhân viên đều phải có mặt để diễn tập nghi tiết. Binh lính và voi hầu dàn chầu ở bên ngoài vòng tường bao quanh. Đêm hôm ấy, toàn bộ tế phẩm được xắp đặt đầy đủ; 8 viên chánh, phó Vệ úy, Vệ Cẩm Y mang gươm, cầm đuốc túc trực ở 4 cửa của đàn sở.<br /><br />Canh 5, ba hồi trống gióng giả vang động một góc trời. Trâu vàng, trâu đen, kỳ lão nông phu đồng trang phục cùng cày, bừa mỗi loại 6 chiếc có mặt tại vị trí đã định. Ca sinh gồm 14 người cất lên bài ca về lúa, cùng với8 nhạc sinh, 30 người cầm cờ ngũ sắc dàn hàng hai bên sở ruộng Tịch Điền.<br /><br />Tại cung Khánh Ninh, sau khi nghe tiếng quan viên bộ Lễ tâu “Bên ngoài đã xong”, vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, thắt đai ngọc lên ngồi ở ngai vàng. Thị vệ đưa kiệu đến cửa cung, mời vua lên, rước tới đàn sở. Bảy tiếng trống lệnh nổ vang khi đạo ngự rời khỏi cửa cung. Hai bên đường ngự đạo đi qua, bá quan văn võ và dân chúng đều quỳ lạy đón tiễn. Ngự đạo dừng lại ở phía đông đàn sở, nhà vua vào ngự tọa tại nơi nghỉ dành riêng, tiếp chậu nước rửa tay; xong lên đàn tế, ở phía đông, mặt quay về hướng tây, làm lễ dâng rượu 3 tuần. Lễ xong, đại nhạc và tiểu nhạc cử lên rước vua đến điện Cụ Phục là nơi để nhà vua thay mũ cửu long, áo hoàng bào và nghỉ ngơi một lúc. Tại sở ruộng, mọi việc được bố trí lại lần cuối, thật nghiêm cẩn. 4 kỳ lão nông phu đỡ cày, dắt trâu. 2 viên đường quan bộ Hộ lo dâng tiến cày và gieo giống đứng bên hữu sở ruộng, quay mặt về hướng đông. Phủ doãn phủ Thừa Thiên bưng roi, thúng lúa đứng ở bên tả, quay mặt về phía tây. Khi nghe tiếng “Xin vua làm lễ ruộng”, nhà vua rời khỏi điện Cụ Phục, đến chỗ ruộng cày, mặt hướng về phía nam. Một viên đường quan bộ Hộ dâng cày, Phủ doãn phủ Thừa Thiên dâng roi. Nhà vua tay phải cầm cày, tay trái cầm roi bắt đầu cày ruộng; phụ giúp có 2 kỳ lão nông phu dắt trâu và 2 người đỡ cày. Viên Phủ doãn phủ Thừa Thiên bưng thúng thóc, một viên đường quan bộ Hộ đi bên cạnh để gieo giống. Nhà vua cày ba lượt, giữa tiếng nhạc trầm vang. Xong việc, bộ Lễ tâu rước vua đến đài Quan canh. Tiếp theo là lễ cày của các hoàng tử, thân công, quan viên văn võ và nông phu ở xã Phú Xuân. Các hoàng tử, thân công cày 5 lần, các quan viên văn võ cày 9 lần. Lễ xong thì tới trước đài lạy 5 lạy.<br /><br />Sau khi nghe nhân viên bộ Lễ quỳ tâu “ Lễ thành” nhà vua rời đài Quan Canh về điện Cụ Phục thay áo, mão rồi lên xe trở về cung Khánh Ninh. Về tới điện, khi nhà vua đã an tọa trên ngai vàng, bắn 5 tiếng trống lệnh. Bá quan bày hàng ở trước sân cung, khi nghe tiếng “Lễ cày ruộng tịch đã thành xin làm lễ mừng” thì đồng quỳ lạy 5 lạy. Sau đó, phủ doãn phủ Thừa Thiên lĩnh vải thưởng cho các kỳ lão nông phu (hạng 1 (8 người) được 4 tấm vải mỗi người; hạng 2 (66 người) được 3 tấm mỗi người). Sau đó, toàn thể được nhà vua ban cho ăn yến một bữa.<br /><br />Sau lễ, các hạng trâu (vàng và đen) chuyển cho phủ Thừa Thiên tiếp nhận rồi giao cho nông phu xã Phú Xuân chăm nuôi. Còn roi, cày, thúng, thóc thì giao cho Võ Khố cất giữ. Lúa gieo ở ruộng Tịch Điền giao cho nông phu xã Phú Xuân chăm bón, đến mùa lúa chín thì thu hoạch dưới sự quản lý của quan phủ. Phủ Thừa Thiên phối hợp với bộ Hộ lựa chọn số lúa lúa này làm giống gieo cho mùa cày năm sau, nếu còn thừa thì trữ lại đem xay để cúng tế trong lễ tế trời ở đàn Nam Giao và ở các miếu.<br /><br />Theo &quot; Triều Nguyễn Và Các Nghi Lễ &quot;

dogothanhhien
27-05-2012, 09:19 AM
<b>LỄ TẾ ĐÀN XÃ TẮC </b><br /><br />Cũng như các triều đại trước, triều Nguyễn coi trọng xây dựng đàn Xã Tắc và tế Xã Tắc. Đàn Xã Tắc thời Nguyễn được xây dựng vào năm 1806 dưới triều vua Gia Long, tọa lạc ở phía tây – nam Kinh thành Huế thuộc địa phận phường Ngưng Tích (sau đổi thành Thuận Cát), nay là phường Thuận Thành. Đàn có dạng hình vuông, gồm 2 tầng chồng lên nhau, được đắp một thứ đất tinh sạch do các doanh, trấn trong cả nước mang về dâng tiến theo lệnh của vua Gia Long. Lễ tế đàn Xã Tắc được tổ chức mỗi năm hai lần vào các tháng trọng xuân (tháng 2) và trọng thu (tháng 8) âm lịch. Để chuẩn bị như sau: bộ Lễ cùng với phủ Tôn Nhân kê khai danh sách các viên Chấp sự, riêng phủ Tôn Nhân còn lo thêm danh sách các viên Bồi tế là các thân phiên, hoàng thân, hoàng thân công; bộ Lại cùng với bộ binh kê chọn danh sách các viên bồi tế trong bộ của mình, văn từ ngũ phẩm, võ từ tứ phẩm trở lên.<br /><br />Trước lễ một ngày, vào lúc sáng sớm, Thái Thường Tự chuyển cho Thái giám nội cung Trai giới bài đồng nhân chuyển dâng lên nhà vua. Cùng ngày, bộ Lễ cùng với phủ Nội Vụ và Võ Khố đén đàn sở bày đặt kỷ, án, đồ thờ, sắp xếp vị trí sao cho nghiêm chỉnh. Buổi chiều hôm ấy, Thái Thường Tự rước bản văn tế tới điện Cần Chánh xin nhà vua phê chuẩn; xong giao cho ty Loan Nghi rước tới đàn sở, cử người kính cẩn coi giữ.<br /><br />Vào giờ Thân (từ 15 đến 17 giờ), những người dự tiệc đều phải có mặt tại đúng vị trí đã định để định để diễn tập. Từ cửa Ngọ Môn đến đàn, đèn đuốc đốt sáng suốt đêm.<br /><br />Đến giờ Tý (từ 23 giờ đến 1 giờ sáng), nhân viên bộ Lễ và Viện Hàn Lâm phẩm phục chỉnh tề đến đàn kính đề bài vị thần. Tám viên Suất đội mang gươm, cầm đuốc đứng chờ ở 4 cửa tầng hai. Tám viên Quản vệ quân Cấm binh đứng chờ ở 4 cửa tầng một.<br /><br />Khắc đầu canh năm (từ 3 giờ đến 5 giờ sáng) trên Kỳ Đài kéo cờ vàng lên. Tại đàn sở, cửa Ngọ Môn, cầu Kim Thủy, bá quan văn võ đều quỳ xuống chờ đón nhà vua.<br /><br />Khắc tư canh năm, tại điện Cần Chánh, sau khi có lời tâu “Trung nghiêm ngoại biện” (trong, ngoài đã nghiêm chỉnh), nhà vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, tay cầm hốt trấn khuê ra ngồi lên ngai vàng, sau viên quản vệ ty Loan Giá kính cẩn mời nhà vua rời bệ ngọc ra ngự liễn. Ngự giá ra tới cử Đại Cung thì bắn 7 phát ống lệnh. Trên lầu Ngọ Môn, chuông trống dồn lên vang lừng, cho đến khi ngự giá tới gần cửa đàn sở thì mới dừng lại. Đến đàn, nhà vua được cung nghinh tới nơi tạm nghĩ một lúc trước giờ hành lễ.<br /><br />Nghi tiết lễ tế đàn Xã Tắc khá rườm rà, phước tạp. Đại thể có 11 bước như sau:<br /><br />- Lễ thánh tiến: là lễ nhà vua rửa tay cho tinh sạch, sau đó mới được tới vị trí làm chủ lễ.<br /><br />- Lễ Ế mao huyết: là lễ bưng hai khay lông và huyết của con vật tế đem chôn ở một cái hố được đào sẵn.<br /><br />- Lễ Dâng hương: Sau khi lông và huyết con sinh được chôn xong, vua làm lễ dâng hương. Các lư hương và hộp hương do hai hoàng thân công giữ vai Chấp sự quỳ dâng.<br /><br />- Lễ Nghinh thần: là lễ bắt đầu nghinh đón thần linh – tất cả vua, quan, đồng lạy 4 lạy.<br /><br />- Lễ Hiến ngọc bạch và Truyền chúc: là lễ dâng ngọc lụa lên thần linh và đọc bài văn tế. Cả hai lễ này có cùng chung ba tuần dâng rượu. Dâng rượu tuần thứ nhất gọi là “hành sở hiến lễ”, tuần thứ hai gọi là “hành á hiến lễ” và tuần cuối cùng là “hành chung hiến lễ”. Mỗi khi hành lễ,nhà vua đều quỳ, chắp tay giơ lên ngang trán. Tuần dâng rượu thứ hai và tuần cuối có 8 hàng múa văn múa hát giữu tiếng đại nhạc làm nền.<br /><br />- Lễ Tứ phúc tộ: là lễ nhận phần lộc thần linh ban cho, gọi là “ẩm phúc”. Vua quỳ nhận chén rượu “lộc thần cho” từ tay các vị hoàng thân công và cung kính uống cạn, rồi làm lễ tạ ơn.<br /><br />- Lễ triệt soạn: là lễ thu dọn bàn cỗ. Các hạng ngọc khuê, các hộp lụa và cỗ bản lần lượt được đem đặt trên án kỷ.<br /><br />- Lễ Tống thần: là lễ tiễn đưa thần linh.<br /><br />- Lễ Phúng nghệ ế sở: là lễ đem chôn văn tế, lụa là và cỗ bàn, các tế phẩm lần lược được đưa tới hố chôn lông, huyết con sinh, đem đốt đi, rồi lấy cát rải lên trên.<br /><br />- Cuối cùng là lễ kết thúc. Các bạc bản trên án thờ được cung nghinh đến lò thiêu đốt đi.<br /><br />Sau khi hoàn tất mọi lễ nghi thức tế lễ, Hoàng đế rời đàn sở trở về hoàng cung. Ngự đạo đến Đại Cung Môn thì bắn 3 phát ống lệnh chào mừng.<br /><br />Theo Lễ Hội Truyền Thống Huế

soncuoc2003
27-05-2012, 09:19 AM
<b>HỘI VẬT LÀNG SÌNH </b><br /><br /><br /><br /><i>“Dù ai đi đó đi đây<br /><br />Ngày Mười hội vật nhớ quay về Sình”</i><br /><br /><br /><br />Đó là câu ca dao ở Huế nhắc nhở mọi người hãy nhớ ngày mồng mười tháng giêng âm lịch hằng năm quay về làng Sình (Lại Ân), xã Phú Mậu, huyện Phú Vang để xem đấu vật. <br /><br />Đầu xuân mới cũng là thời điểm các Lễ hội, hội làng khởi sắc. Ngoài các lễ nghi truyền thống, các tiết mục biểu diễn nghệ thuật, các môn thể thao dân gian truyền thống như thi kéo co, chọi gà, chọi trâu, thả diều, đá cầu, cờ người, vật... đã thu hút đông đảo người xem trên cả nước. Trong đó, đấu vật là một trong những môn thể thao rất được ưa chuộng và trở thành một tục lệ, truyền thống không thể thiếu trong các Lễ hội đầu năm. Trải qua hơn 400 trăm năm phát triển, sới vật làng Sình đã trở thành một trong những hoạt động văn hoá mang đậm tinh thần thượng võ của người dân xứ Huế, đồng thời phát huy những truyền thống văn hóa của dân tộc. <br /><br />Được tổ chức vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, Lễ hội đấu Vật làng Sình được tổ chức tại khu vực đình làng Lại Ân (còn gọi là làng Sình), xã Phú Mậu, huyện Phú Vang (TT-Huế). Các đô vật sẽ thi đấu theo thể thức vòng tròn. <br /><br />Hội vật làng Sình về cơ bản cũng áp dụng theo nguyên tắc của luật thi đấu vật dân tộc, các đô vật muốn vượt qua vòng đấu loại phải giành chiến thắng trước 3 đối thủ, để giành chiến thắng, các đô vật phải đánh bại đối thủ của mình với đòn đánh làm cho đối phương &quot;lấm lưng, trắng bụng&quot; (nghĩa là một phần hoặc cả hai phần lưng của đối phương phải lấm đất, bụng ngửa lên trời). Nếu vượt qua vòng đấu loại, các đô vật sẽ bước vào vòng bán kết. Ở vòng bán kết, các đô vật phải vượt qua 1 đối thủ nữa mới lọt được vào vòng chung kết.<br /><br />Hội vật làng Sình rất chú trọng tinh thần thượng võ vì thế các đô vật không được ra các đòn đánh nguy hiểm đến tính mạng như bẻ, vặn, khoá trái khớp, tấn công bằng đầu, bấm các huyệt, nắm tóc, tấn công vào hạ bộ, yết hầu, mắt.... Một nét độc đáo ở lễ hội làng Sình là tinh thần đồng đội ở các địa phương, một đô vật của làng nào bị thua sẽ có đô vật khác lên tiếp sức. Nếu để thua một trận các đô vật phải chờ đến năm sau mới &quot;phục hận&quot; được, vì thế các đô vật thường rèn luyện suốt năm, tu dưỡng đạo đức để chờ đầu xuân tham dự, tranh tài.<br /><br />Hội vật Làng Sình ngoài yếu tố tâm linh như mong cho dân khoẻ, làng yên, mùa màng tươi tốt, hạnh phúc đến với muôn người còn là một hoạt động vui, khoẻ đầy tinh thần thượng võ, kích thích việc rèn luyện sức khoẻ, lòng dũng cảm, sự tự tin, mưu trí đối với lớp trẻ. Lễ hội càng có ý nghĩa hơn khi đình làng Sình đón nhận bằng di tích lịch sử do Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế trao tặng.

vietgate
27-05-2012, 09:19 AM
<b>ÁO DÀI HUẾ NHỮNG ĐỀU ÍT AI BIẾT </b> <br />Thời Minh Mạng, để sửa đổi cách ăn mặc thiếu đồng nhất tại các miền sau giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhà vua ra sắc chỉ quy định y phục trên toàn quốc: Các phi tần, người hầu kẻ hạ đều mặc áo dài ngay khi vừa bước chân khỏi cấm cung. Dân gian phải mặc quần, cấm váy. Riêng với người lớn, áo dài trở thành trang phục bắt buộc khi ra đường.<br /><br />Ngày ấy, áo dài Huế cũng như ở các vùng miền khác thường đậm màu và có đến 5 tà (sau này thành áo tứ thân - 4 tà). Mỗi thân trước và sau đều có 2 tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Tà thứ 5 ở bên phải, trong thân trước. Tay áo may nối dưới khuỷu tay (do ngày ấy các loại vải rộng nhất cũng chỉ đến khổ 40cm). Cổ áo cao khoảng 2-3cm cùng tay và thân áo trên ôm sát người. Tà áo được may rộng ra từ sườn đến gấu và không chiết eo, dài đến đầu gối. Gấu áo thường võng, vạt rộng đến 80cm. <br /><br />Về quần mặc cùng áo dài, phụ nữ Cố Đô thường chọn màu trắng đầy nữ tính. Riêng người trong hoàng tộc và các gia đình giàu có còn may quần chít ba (có 3 ly dọc 2 mép ngoài quần) để tạo dáng quần xòe rộng, trông yểu điệu mà cử động lại thoải mái hơn.<br /><br />Đến đầu thế kỷ XX, từ khi có trường Nữ sinh Trung học Đồng Khánh (1917), nữ sinh Trung kỳ đều dồn về Huế học, áo dài trở thành đồng phục sử dụng hàng ngày. Các nữ sinh đều mặc quần trắng, áo dài tím khi đến trường, sau này đổi thành áo trắng mùa khô, xanh nước biển mùa mưa.<br /><br />Đến những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, kiểu dáng của áo dài xứ Huế cũng như các vùng miền không thay đổi, tuy nhiên, màu sắc và chất liệu phong phú hơn hẳn. Một điều đáng lưu ý là áo dài xứ Huế sẽ không có kiểu dáng như ngày nay nếu không trải qua một cuộc cách tân, do một họa sĩ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương, chủ tiệm may Le Mur danh tiếng ở Hà Nội và Hải Phòng tên là Cát Tường khởi xướng. Ông đã đem đến Hội chợ Huế 1939 một bộ sưu tập áo dài cách điệu lối Âu châu, với 2 tà thay cho 5, cổ khoét hình trái tim (có khi gắn thêm cổ bẻ và một chiếc nơ), tay nối trên vai bồng, hàng khuy chạy dọc theo vai và sườn phải đầy khêu gợi. Thời trang mới này được phụ nữ Cố Đô tiếp nhận, tuy nhiên, do ảnh hưởng của nếp sống kín đáo, áo dài Huế chỉ cách tân trong chừng mực, bằng cách giảm số tà còn 2 và mở khuy từ vai xuống eo.<br /><br />Những năm 1950, áo dài xứ Huế bắt đầu lượn eo theo thân người mặc, cổ cao hơn, vạt thu hẹp lại để tôn dáng thiếu nữ. Đến khoảng những năm 1960, các tiệm may Huế mới chít eo áo dài, tạo sức quyến rũ cho người mặc. Cuối thập niên 1950, theo mốt Sài Gòn, vai áo dài Huế lại được cắt raglan để tránh nhăn cho phần ngực và nách. <br /><br />Ngày nay, chiếc áo dài xứ Huế gần như không thay đổi về kiểu dáng, dù vắng bóng hơn trong đời sống (theo nhiều người Huế, có thể do mức sống thấp hơn). Phụ nữ Cố Đô vẫn ''kín'' toàn thân với những chiếc áo dài vải không quá mỏng, vạt gần chấm gót, cổ vươn cao lượn tròn kín đáo, eo hạ thấp để giảm đến mức ít nhất khoảng lưng, bụng hở khi tà áo bay. <br /><br />Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chiếc áo dài Huế vẫn luôn hiện diện trong đời sống hàng ngày người dân xứ Huế. Từ những bà hoàng, công chúa đến những mệnh phụ quan trong triều, những tiểu thư khuê các quanh năm trong phòng the, cung cấm ngày xưa đến các chị buôn thúng bán bưng với những gánh bún bò, cơm hến, bánh canh, những giỏ trái cây, xách bánh bèo, bánh lọc một nắng, hai sương từ mọi nẻo ngoại ô Văn Thánh, Kim Long, Nam Giao, Nguyệt Biều, Vĩ Dạ, lên những chuyến đò Thừa Phủ... Ai nấy đều kín đáo đến cao sang, nhỏ nhẹ đến nhẫn nhịn trong những tà aó dài Huế.<br /><br />(Tham khảo tài liệu của nhà biên khảo Phan Thuận An)

camlyvt
27-05-2012, 09:19 AM
<b> NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ</b> <br /><br />Âm nhạc cung đình Việt Nam là một bộ môn âm nhạc truyền thống đặc sắc của Việt Nam, có giá trị cao về nghệ thuật và phương diện lịch sử.<br /><br />Nhạc cung đình còn xuất hiện trong triều đình của một số quốc gia châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cho biết, theo sử sách để lại thì nhạc cung đình xuất hiện lần đầu tiên vào đời nhà Trần (thế kỷ 14), nhưng mãi đến đời Nguyễn (cuối thế kỷ 18) nhạc cung đình mới chính thức được phổ biến và phát triển mạnh tại cung đình Huế. Tuy được sử dụng trong cung đình, nhưng việc sáng tác và biểu diễn hầu hết đều do những nhạc sĩ, nghệ sĩ dân gian nhờ có tay nghề cao mà được sung vào cung để phục vụ triều đình. Vì vậy, nhạc cung đình tuy mang tính bác học nhưng cũng mang đầy âm hưởng các làn điệu dân gian của các miền Việt Nam. Nhạc cung đình Việt Nam sử dụng những nhạc cụ dân tộc như đàn tam, đàn nhị, đàn nguyệt, đàn tỳ bà, sáo trúc, bộ gõ. Các nhạc cụ này thể hiện đầy đủ các âm vực từ tiếng kim, tiếng thổ, tiếng trong, tiếng đục, tiếng trầm, tiếng bổng. Điều khác biệt giữa nhạc cụ biểu diễn trong cung đình với nhạc cụ sử dụng trong dân gian là nhạc cụ dùng trong cung đình được làm kỹ, chạm khắc cẩn thận, khéo léo, tinh xảo hơn.<br /><br />Nhạc cung đình Huế có hai loại là Đại nhạc và Tiểu nhạc. Dàn Đại nhạc gồm có khèn, trống, bộ gõ và có thể có thêm đàn nhị. Khèn là loại khèn bầu và khèn bát làm bằng gỗ, được chia làm 3 loại là khèn đại, khèn trung và khèn tiểu. Trống cũng có nhiều loại từ trống lớn nhất là trống đại đến trống tiểu, trống vỗ, trống một mặt. Đại nhạc thường được dùng trong dịp Tết và những ngày lễ lớn. Dàn Tiểu nhạc gồm những nhạc cụ dùng dây tơ, sáo trúc và bộ gõ. Loại nhạc cụ dây tơ có loại đàn gảy như đàn nguyệt có hai dây, đàn tam có ba dây, đàn tỳ bà có bốn dây, có đàn dùng cung để kéo như đàn nhị. Bộ gõ bằng gỗ có mõ và phách tiền, bằng kim khí có chuông các cỡ. Các dàn nhạc biểu diễn thường có kèm theo đội múa. Dàn nhạc và đội múa là cả một sự phối hợp hài hòa giữa âm nhạc, vũ điệu và màu sắc trang phục.<br /><br />Nhạc cung đình có nhiều thể loại khác nhau được biểu diễn trong những dịp lễ hội khác nhau. Giao nhạc được dùng trong tế Lễ Nam Giao khi nhà Vua làm lễ tế trời đất được thực hiện ba năm một lần; Miếu nhạc được dùng trong các lễ tế miếu; Ngũ tự nhạc sử dụng trong năm lễ tế thần; Đại triều nhạc được tấu trong các lễ lớn như Lễ Vạn thọ, tiếp Sứ thần; Thường triều nhạc được tấu khi Vua lâm triều thường lệ; Đại Yến nhạc được tấu trong các buổi yến tiệc; Cung trung chi nhạc được dùng trong cung phủ; Cứu nhật nguyệt giao trung nhạc được dùng trong các dịp nguyệt thực và nhật thực; và còn bao gồm tất cả các bộ môn âm nhạc khác như nhạc thính phòng, sân khấu và múa. <br /><br /> Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, đây là bộ môn âm nhạc duy nhất được ghi vào sử sách từ xa xưa, trải qua bao thăng trầm của các triều đại, bao biến thiên của thời cuộc mà vẫn còn lưu lại được một di sản đáng kể có thể sử dụng để nghiên cứu về nhạc khí, cách sắp xếp dàn nhạc, nhạc ngữ và quan điểm thẩm mỹ.

minhkhago
27-05-2012, 09:19 AM
<!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>Lễ Hội Điện Hòn Chén</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br />Lễ hội Điện Hòn Chén mỗi năm tổ chức 2 kỳ. Lễ cầu an đầu xuân được tổ chức vào tháng 2 âm lichgoij là Xuân tế, lễ hội đua trải cầu mưa được tổ chức vào tháng 7 âm lịch gọi là thu tế. Núi Ngọc Tràng và đỉnh Cát Hải là hai nơi thuộc huyện Hương Trà được chọn làm nơi tổ chức cho 2 kỳ tế lễ. Lễ hội Điện Hòn Chén cũng là nơi suy tThieriên Yana Thánh Mẫu. Theo truyền thuyết dân gian đây là vịi thần sáng tạo ra đất đai, rừng và dậy cho dân nghề trồng trọt. Lễ Hội Điện Hòn Chén được tổ chức vào tháng 3 và tháng 7 âm lịch hàng năm đã trở thành nghi lê tôn giáo thiêng liêng thu hút rất đông người đến xứ Huế và khách thập phương đến dự

henry_le1
27-05-2012, 09:19 AM
<!--coloro:#FF0000--><span style="color:#FF0000"><!--/coloro--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->TÃN MẠN TẾT HUẾ XƯA<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><br /><!--coloro:#CC33CC--><span style="color:#CC33CC"><!--/coloro--><b>Huế vốn là mảnh đất của kiểu cách , nề nếp trong mọi sinh hoạt, nhất là vào các dịp tết lễ thì điều này càng thể hiện đậm nét qua sự chuẩn bị rất công phu, vô cùng tỉ mỉ và khá cầu kỳ của người phụ nữ cho những ngày tết ấm cúng đầy đủ hương vị sắc xuân.<br /> Bà mẹ Huế lo toan cho gia đình ăn tết từ tháng 9 âm lịch, đầu tiên là món rượu bách nhật mà dân gian thường gọi là rượu nếp , nguyên vật liệu đơn giản , không đắt tiền nhưng phải khéo léo tính toán thời gian , từ lúc bắt đầu cất cho đến lúc rượu lên men đến độ ngon ngọt tròn chẳng 100 ngày, vị rượu đằm nhẹ nhưng ngấm say nên người ta thường ví ly rượu nếp như tình yêu của thiếu nữ Huế , dịu dàng mà nồng thắm.<br /><br /> Thường vào độ cuối đông, xen lẫn giữa những cơn mưa lê thê, thi thoảng cũng có một vài ngày hanh nắng ngắn ngủi đủ cho mẹ vội vàng gọt tỉa đu đủ, cà rốt, kiệu, hành phơi khô làm dưa món, nếu được nắng sẽ có một thẩu dưa món thơm phứt, trắng phau trông rất hấp dẫn, nếu lỡ như trời thất thường nũng nịu đang nắng chợt mưa thì đám con gái trong nhà nhanh nhẹn giúp mẹ quạt than hong sậy khô dòn cho đẹp màu ngon miệng , có cả dưa món chay mời ông bà thời trong ngày mồng một, đây là món căn cơ của ngày tết, không hẵn là món ngon tuyệt nhưng nếu thiếu vắng sẽ là một sự sơ suất lớn của ngày xuân đầm ấm.<br /><br />Không khí tết rộn rã thật sự đến với mọi nhà sau đêm 23 tháng chạp - tiễn đưa ông táo về trời. Cả nhà cùng tíu tít, mỗi người mỗi việc, những việc dành riêng cho phe nam giới thường vất vả, cần phải có sức vóc - như quét vôi, kê dọn tủ bàn, chăm sóc cây cối... phái mạnh mà ! công việc của phụ nữ nhẹ nhàng hơn nhưng đòi hỏi sự khéo tay, sự chịu thương chịu khó và lòng ham mê sáng tạo, là sự hào hứng và nhộn nhịp, thu hút mọi người trong nhà quan tâm: cả nhà cùng vui vẻ tự nguyện tham gia làm bánh mứt, chỉ đạo và bếp trưởng vẫn là mẹ, chị em gái trổ tài nữ công gia chánh và lũ con trai xúm xít hít hà xuýt xoa bởi mùi thơm của những chảo mứt làm náo nứt lòng, một tí mứt rẻo, vài lát mứt lỡ tay bị gãy vụn... chao ôi là ngon! trẻ con cứ lân la nịnh nọt xin mẹ một ít để sáng mai đến lớp khoe và ăn vụng với bạn bè trong giờ học, lệ thường cái dấm dúi, cái ít ỏi hiếm hoi luôn mang đến sự thú vị và hương vị tuyệt vời. Mứt tết Huế lại vô cùng phong phú nên mỗi ngày bạn bè lại được dịp kháo nhau, khoe tài nhà mình... vị thơm cay của mứt gừng đầy ấn tượng, chua chua ngọt ngọt của mứt me, cam quật làm trẻ con mãi thòm thèm, cái beo béo của mứt dừa mứt khoai, mứt bí ... luôn khoái khẩu mọi người. Trong gió chiều thoang thoảng mùi thơm của bánh thuẩn từ bếp nhà láng giềng đủ để làm ngơ ngẩn bao người, tiếng bà con lối xóm gọi nhau i ới mượn cái nọ, xem cái kia thân thiết rộn ràng - một mai trong ký ức ai đó luôn vấn vương đến một mùi hương, giọng nói lạ mà quen, quen mà lạ của một thời, của một người thương mến rất gần đã xa.<br /><br />Mâm ngũ quả chất đầy trái cây tươi roi rói, đủ màu sắc và đủ chủng loại mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp về một năm mới hứa hẹn ăn nên làm ra , phát tài phát lộc luôn được đặt ở gian thờ tổ tiên càng tăng thêm phần trân trọng ngày tết.<br /> <br /> Phụ nữ Huế hiếm khi chọn mua bánh mứt tết ở chợ, nhà nghèo làm theo kiểu nhà nghèo, ít vị, rẻ tiền, nhà khá giả sang trọng thì bánh mứt đủ chủng loại hơn và mọi người dù ở địa vị, hoàn cảnh nào họ đều có sở thích và thói quen tự chế biến cho riêng gia đình mình các loại bánh mứt tết - do vậy mà cùng với một loại mứt mỗi nhà có mỗi hương vị riêng, bí quyết nghệ thuật riêng. Ai cũng gói ghém bánh trái, chăm chút làm mứt món với tất cả sự đam mê, sự nâng niu bởi ngoài ý nghĩa thiêng liêng để dâng cúng tổ tiên đất trời, chiêu đãi khách khứa bẹn bè nhân năm mới còn là dịp để khoe tài nữ công gia chánh một cách tế nhị và kín đáo nhất. Các bà mẹ chồng thích chọn con dâu tương lai tiêu chuẩn ưu ái đầu tiên là sự tài hoa bếp núc mà.<br /> <br />Hầu như mọi người đều có thú vui đi chợ tết, người có nhiệm vụ đã đành, lắm kẻ hăng hái bởi thích ngắm nhìn khung cảnh sinh hoạt và tự thưởng thức hương vị ngày xuân của riêng mình, cả nam lẫn nữ cứ chu du hết hàng mứt này sang tiệm bánh nọ, chợ hoa luôn đông khách, bao nhiêu kỳ hoa dị thảo - những loài hoa trong thơ văn cổ - những loài hoa tân kỳ với vô số làn hương: hương mai vàng thắm thiết làm mê mẩm hồn người, hương hoa hồng ngào ngạt, hoa cúc, hoa lan, hoa cẩm chướng dịu dàng .... rất nhiều người đã bị vẻ đẹp rực rỡ của hoa tết hút hồn níu chân. Thiên hạ cứ thoải mái chiêm ngưỡng hàng hoá tết và thầm ngắm nhìn nhau ... chẳng biết những lần &quot;đi thâm nhập thực tế &quot; như vậy họ có suy gẫm được triết lý gì, tích luỹ được kinh nghiệm nào, có ai cảm thấy xúc động vì sự quyến rũ của cảnh và người ngày xuân.?<br /><br /> Cho đến ngày 27 âm lịch, bếp tết bắt đầu khẩn trương từ bình minh cho đến tận hoàng hôn, suốt ngày hết phố đến chợ, chuẩn bị thịt để gói chả, làm nem, tré, thực đơn ngày tết luôn được các bà nội trợ nhắc nhở đến vấn đề dinh dưỡng hợp lý khi chọn lựa thực phẩm nêm nấu, chú ý đến an toàn thực phẩm, bảo ban con cháu quan tâm đến món ăn ngon lành bởi ngon được tạo ra do nghệ thuật nấu nướng, lành là bảo đảm vệ sinh sạch sẽ để những ngày tết mọi người trong gia đình và khách khứa không bị ốm đau hay ngộ độc vì thức ăn. Bởi quá đảm đang và khéo tay, hay lo xa nên chỉ ba ngày tết mà các mẹ sắm sanh đủ thứ, nhiều món có khi dùng đến cuối tháng giêng hẵn còn phủ phê.<br /><br /> Ngày 30 tết là ngày bận rộn nhất, từ sáng tinh mơ chợ đã tấp nập người mua bán bởi ai cũng muốn chọn được của ngon vật lạ tươi tốt để làm mâm cơm thịnh soạn cúng đón ông bà. Không khí chiều 30 thật vô cùng trang trọng, mùi trầm nhang nghi ngút trên bàn thờ, hương thơm hoa trái toả ngát khắp vườn nhà khiến lòng ai cũng lâng lâng một cảm giác khó tả, dường như có điều gì huyền bí giữa cõi âm - dương đang hiện hữu không những trong lòng ta mà còn ở khắp mọi vật xung quanh đang tồn tại mỏng manh , cả những điều không nói nên lời trong tâm thức và vô thức, vừa dễ hiểu giản đơn vừa thâm trầm sâu sắc ... Thói quen vô cùng đáng yêu của nhiều nam thanh nữ tú là có cảm hứng chiều cuối năm thích tản bộ một mình thanh tịnh để tìm dư hương ngày cũ và tìm lại chính mình trên các nẻo đường thân quen.<br /> <br />Ðể tăng thêm phần ý nghĩa đậm dà của việc đón giao thừa nên bánh tét, bánh chưng thường được mỗi nhà gói và nấu vào đêm cuối cùng của năm cũ, cả nhà quây quần trên chiếc chiếu bày biện đầy đủ: lá, nếp, đậu, thịt mỡ, lạt buột... mỗi người mỗi tay, mỗi việc chính, phụ ... rất vui vẻ, hạt nếp trắng ngần, đậu xanh vàng rực, thịt mỡ, hành, tiêu thơm lừng, dù chưa nấu chín, chưa được ăn chỉ mới thoáng nhìn đã thấy rất ngon lành.<br /><br /> Trên thế gian này có lẻ không có gì hơn nét đẹp của hình ảnh đêm cuối năm, bên bếp lửa hồng tí tách, đôi má cô gái ửng hồng như e ấp thẹn thùng và trong đôi mắt đỏ cay vì khói đang ẩn kín điều diệu kỳ riêng tư. Và cũng không gì thi vị hơn, đêm giao thừa ngồi canh nồi bánh tét, nhìn ánh lửa bập bùng mà thả hồn theo nhớ nhung, hồi tưởng, mộng mơ.<br /><br /> Cúng giao thừa là giây phút thiêng liêng nhất của đất trời và của hồn người, trong mùi trầm hương thơm ngát, lòng ai cũng ngậm ngùi bâng khuâng luyến tiếc như muốn níu kéo cái đã qua sắp mất sẽ không bao giờ tìm lại được, song cũng rộn lên niềm hân hoan rộn ràng đón chào niềm vui năm mới. Tống cựu nghinh tân - trong tâm tưởng người vô tình vô tâm cũng thoáng chút buồn vui vu vơ lạ kỳ.<br /><br /> Và ba ngày tết, xúng xính quần áo mới, tràn đầy niềm vui đầm ấm gia đình - trời đất đã ban cho con người nguồn hạnh phúc vô bờ - một mùa xuân thần tiên.<br /><br />TK</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />[attachment=4871:attachment]