PDA

View Full Version : DI TÍCH & PHONG CẢNH HUẾ


sinemb1212
27-05-2012, 09:20 AM
NGÔI NHÀ LƯU NIỆM CỦA HOÀNG THÁI HẬU TỪ CUNG<br /><br />Ngôi biệt thự có số nhà 79B, nay đổi số mới là 147, ở đường Phan Đình Phùng – thành phố Huế, hướng mặt tiền ra sông Lợi Nông (sông An Cựu) từ vài chục năm nay người Huế quen gọi là nhà Đức Từ Cung. <br />Ngôi nhà được xây cất dưới thời thuộc Pháp, đã qua vài lần đổi chủ. Chủ nhân cuối cùng là Đoan Huy Hoàng Thái Hậu. <br /> <br /><br />Nhà lưu niệm Hoàng Thái hậu Từ Cung<br /><br />Bà Từ Cung, nhũ danh là Hoàng Thị Cúc, con ông Hoàng Văn Tích, nguyên quán ở làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế. Ông Hoàng Văn Tích được ban chức Thái Thường Tự Khanh, tước Nghi Quốc Công. <br /><br />Phủ thờ họ Hoàng, họ ngoại vua Bảo Đại, được lập ở đường Nguyễn Du, phường Phú Cát. Dưới thời Duy Tân (1907-1916) bà là phủ thiếp của Phụng Hoá Công Bửu Đảo. Bà sinh hạ công tử Vĩnh Thụy vào ngày 20/10/1913. <br />Năm 1916, khi Phụng Hoá Công lên ngôi, lấy niên hiệu là Khải Định, địa vị của bà Hoàng Thị Cúc trở nên quan trọng trong Hoàng gia. <br />Tháng 3 năm Khải Định thứ 2 bà được phong tước Tam giai Huệ Nhân, tháng 10 năm sau được phong Nhị giai Huệ Phi, tháng 2 năm Khải Định thứ 8 (1923) được phong Nhất giai Hậu Phi. <br />Năm 1925, khi Hoàng tử Vĩnh Thụy nối ngôi vua cha địa vị của bà càng quan trọng hơn. Tháng 2 năm Bảo Đại thứ 8 (1933) bà được triều đình tấn phong Đoan Huy Hoàng Thái Hậu. <br />Từ đó bà được tôn xưng là Từ Cung. Vào ngày sinh nhật hàng năm của bà triều đình tổ chức lễ mừng rất trọng thể, gọi là Lễ Từ Khương.<br />Tháng 8-1945, một ngày sau lễ thoái vị của vua Bảo Đại, gia đình nhà vua ra khỏi Hoàng cung, chuyển về ở tại Cung An Định. Đây là Tiềm để của vua Khải Định và vua Bảo Đại. <br />Công trình này nguyên có tên là Phủ Phụng Hoá, do vua Đồng Khánh xây dựng dành cho Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Bửu Đảo. Khi lên ngôi, vua Khải Định cho cải tạo Phủ Phụng Hoá thành một lâu đài tráng lệ, dành tặng cho Hoàng tử Vĩnh Thụy. <br />Vĩnh Thụy đã ở tại đây cho đến năm 1922 thì qua Pháp học. Khi tại vị, cả vua Khải Định và vua Bảo Đại đều ở trong Điện Kiến Trung. <br /><br />Khi cựu hoàng Bảo Đại ra Hà Nội làm cố vấn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hoàng Thái hậu Từ Cung và Hoàng hậu Nam Phương cùng các hoàng nam, hoàng nữ vẫn ở tại Cung An Định.<br />Những năm 1949 - 1954, khi Bảo Đại trở về làm Quốc trưởng bà Từ Cung trở lại Hoàng cung, ở tại Cung Diên Thọ. Năm 1954, khi Bảo Đại qua Pháp lưu vong bà lại phải ra khỏi Hoàng thành về sống ở Cung An Định. <br />Năm 1955, khi Quốc trưởng Bảo Đại bị lật đổ, ông Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng thì chính quyền (miền Nam Việt Nam) không cho phép bà Từ Cung ở lại trong Cung An Định. Trong tình cảnh này bà đã mua lại ngôi nhà của bà Ân Phi.<br />Ngôi nhà lầu của bà Ân Phi nguyên chỉ có 2 gian. Bà Từ Cung cho xây thêm 1 gian ở bên phải, cho cải tạo một số bộ phận kiến trúc và trang trí nội thất theo lối hiện đại. <br />Bà đã cho mang khá nhiều đồ tự khí và bảo vật từ Cung An Định về trang hoàng trong ngôi nhà này. Nhiều hiện vật trong ngôi nhà hiện vẫn thấy chạm khắc 2 chữ An Định (chữ Hán). <br />Tầng trệt, gian giữa, phần trước thờ bà Từ Cung. Gian bên trái là nơi bà Từ Cung ăn, ở. Gian bên phải dành để tiếp khách quan trọng. Trong phòng khách bà cho treo nhiều hình ảnh của những thành viên trong gia đình, từ vua Khải Định đến các cháu nội của bà. <br />Trong một cái tủ ở giữa phòng khách hiện còn trưng một bức ảnh có giá trị lịch sử, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp chung với cố vấn Vĩnh Thụy tại Phủ Chủ tịch (Hà Nội) năm 1945.<br />Tầng trên của ngôi nhà dùng để thờ phụng. Gian giữa thờ các vua, chúa nhà Nguyễn. Gian bên phải thờ phật, thánh, thờ bà Nghi Quốc Công (mẹ bà Từ Cung); và thờ 2 bà Thánh Cung, Tiên Cung - Bà Thánh Cung là mẹ đích, bà Tiên Cung là mẹ đẻ của vua Khải Định. <br />Gian bên trái sắp đặt một số tượng của vua Bảo Đại và ảnh Hoàng hậu Nam Phương. Sau khi cựu Hoàng Bảo Đại mất, phần trước của gian này được dùng để thờ ông.<br />Bà Từ Cung đã ở trong ngôi biệt thự tư hữu này từ năm 1955 cho đến ngày qua đời - ngày 10/11/1980. <br /><br />Từ khi trở thành Hoàng hậu cho đến những ngày cuối đời bà Từ Cung đã đóng góp rất nhiều công sức và tiền của trong việc thờ phụng, kỵ giỗ các vị vua, chúa nhà Nguyễn; trong việc tu bổ một số miếu, điện; và cả trong việc gìn giữ di sản văn hoá cung đình Huế. <br />Suốt một đời người bà chưa bao giờ bỏ Huế mà đi cho dù chính sự đổi thay, chiến tranh ác liệt. Bà là người nhân hậu, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng làm hết bổn phận của mình đối với các bậc tiên vương và Hoàng tộc.<br />Đạo đức và nhân cách của bà đã làm cho mọi người từ trong cung đến ngoài nội nể trọng. Kể từ khi Tôn Nhơn Phủ bị cháy (vào năm 1975), tại ngôi biệt thự này bà Từ Cung đẫ tổ chức những cuộc lễ kỵ giỗ các vua Nguyễn, chúa Nguyễn và một số nhân vật đặc biệt trong Hoàng tộc Nguyễn. <br />Vì thế, trong một thời gian dài, nhiều người đã coi Nhà Đức Từ như là Từ đường của Nguyễn Phước tộc, là hậu thân của Tôn Nhơn Phủ.<br />Về giá trị lịch sử, ngôi nhà này là nơi ở của bà Hoàng Thái Hậu cuối cùng của triều Nguyễn, triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Ngôi nhà chứng kiến sự “lưu lạc” của một bà Hoàng Thái Hậu trong suốt 35 năm thăng trầm của lịch sử dân tộc. <br />Bên trong ngôi nhà hiện nay vẫn còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật. Trong đó có nhiều đồ ngự dụng, cổ vật còn ghi rõ niên đại thời nhà Thanh, thời vua Thiệu Trị, thời vua Tự Đức. Vì thế, có thể xem ngôi biệt thự này là một bảo tàng mi ni, một điểm tham quan du lịch nhân văn.<br />Được biết, chủ nhân đầu tiên của ngôi nhà này cũng là một vị quan chức quê ở Nghệ An. Ông tậu ngôi nhà hồi đầu thế kỷ XX, khi vào Huế làm việc. Chủ nhân tiếp theo là ông Hồ Đắc Điềm. <br /><br />Là con quan Thượng thư, ông Điềm có điều kiện du học ở Pháp và đã đậu Tiến sĩ Luật. Về nước ông được giữ chức Tham tri Bộ Hình, sau chuyển qua ngành Hành chính của Chính phủ Bảo hộ Pháp tại Đông Dương. Ông đã kinh qua nhiều chức vụ quan trọng. <br />Từ năm 1941 ông làm Tổng đốc tỉnh Hà Đông. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 ông ở lại miền Bắc, làm Phó Chủ tịch UBHC thành phố Hà Nội, sau đó chuyển sang làm Phó Chủ tịch UBMTTQ thành phố, ủy viên trung ương UBMTTQ Việt Nam.<br />Ông mất hồi thập niên 80. Sinh thời, vì thương mến người chị ruột, ông Hồ Đắc Điềm đã mua ngôi nhà này cho bà Ân Phi - người vợ chính thức của vua Khải Định do triều đình cưới hỏi - làm nơi ăn ở. <br /><br />Năm 1975, khi Huế vừa giải phóng ông đã vào công tác kết hợp thăm gia đình. Ông đã tìm bà Ân Phi và quan tâm đến việc sắp xếp chỗ ở cũng như việc phụng dưỡng bà. <br />Về kiến trúc, đây là một công trình mang dấu ấn của 2 nền văn hoá Đông phương và Tây phương. Nội thất và sân vườn ngôi biệt thự thuộc kiến trúc nhà - vườn Huế. Kết cấu công trình có bê tông cốt thép đánh dấu giai đoạn giao thời của kiến trúc nhà ở Việt Nam..<br />Bà Từ Cung chỉ có một người con duy nhất. Khi bà qua đời cựu Hoàng Bảo Đại vẫn đang sống lưu vong ở Pháp. <br />Ở Huế không có ai đủ tư cách thừa kế gia sản cho nên ngôi nhà của bà và các hiện vật bên trong được giao cho Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế quản lý để bảo tồn và phát huy tác dụng. <br /><br />Trong hồ sơ tiếp quản di tích ngôi nhà có tên là Nhà lưu niệm bà Hoàng Thái Hậu Từ Cung, thường được gọi tắt là Nhà lưu niệm bà Từ Cung.<br /><br />( Còn nữa..)

seclhanoi
27-05-2012, 09:20 AM
BÌNH PHONG VÀ NON BỘ TRONG KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ<br /><br />Huế xưa nay vốn nổi tiếng với nghệ thuật kiến trúc cảnh quan mang đậm tính chất phong thủy. Trong các yếu tố của nghệ thuật kiến trúc truyền thống Huế, bình phong và non bộ đương nhiên là những yếu tố không thể thiếu.<br />Bình phong xuất phát từ các yếu tố “triều”, “án” trong phong thủy, chức năng chủ yếu là gia tăng tính bền vững của cuộc đất, ngăn chặn khí xấu và các yếu tố bất lợi cho gia chủ. Non bộ lại là sự kết hợp giữa nước (thủy) và đá (thạch), chức năng ban đầu chủ yếu là kết hợp với bình phong để cản bớt hỏa khí, “tụ thủy, tích phúc” cho gia chủ. Về sau bình phong, non bộ mới kiêm thêm chức năng trang trí mỹ thuật và dẫn dần trở thành một nhân tố không thể thiếu trong kiến trúc truyền thống. <br /> <br />Đối với bình phong cổ, hiện nay Huế vẫn còn giữ được hàng chục chiếc với đủ loại chất liệu: gỗ, đan mây, vải, bạc-vàng, đá, xây gạch...trong đó phổ biến nhất là loại hình bình phong xây bằng gạch đá. Đây cũng là loại bình phong có kích thước lớn, đặt ngoài trời, thường được trang trí công phu bằng cách chạm trổ (đá), ghép sành sứ với các biểu tượng và mô típ của nghệ thuật truyền thống (phúc-lộc-thọ-hỷ hay các linh vật như long, lân, quy, phụng, long mã...).<br />Lăng Tự Đức là khu di tích còn bảo tồn được nhiều bức bình phong cổ có chất lượng nghệ thuật cao. Tiêu biểu là chiếc bình phong phía sau Ích Khiêm Các-thuộc Khiêm Cung. Đây là một trong những chiếc bình phong trang trí tứ linh hiếm hoi còn bảo tồn khá nguyên vẹn.<br />Bình phong được xây gắn với tường thành giới hạn phía sau của Khiêm Cung, hình chữ nhật, kích thước lớn mỗi chiều đến vài mét. Trên đầu bình phong đắp nổi hình đôi rồng chầu về mặt trời. Hình tượng tứ linh với 4 linh vật long-lân-quy-phụng được thể hiện hết sức sinh động bằng cách ghép mảnh sành sứ ngay trên phần thân của bình phong. Bốn linh vật này được bố trí theo các cặp phạm trù đối xứng: Long (Thái dương)-Quy (Thiếu âm) và Phụng (Thái âm)-Lân (Thiếu dương), và cùng hướng vào biểu tượng Thái cực được thể hiện cách điệu dạng hình mặt trời có các cụm mây xoắn viền quanh.<br />Ngoài chiếc bình phong trên, phía trong cửa Huy Khiêm thuộc Khiêm Cung còn có chiếc bình phong trang trí long mã rất đẹp. Long mã hình dáng tựa kỳ lân nhưng đang chạy trên mặt nước, trên lưng chở Hà đồ, thần thái hết sức sinh động.<br />Khu vực lăng Khiêm Thọ của Lệ Thiên Anh hoàng hậu ở phía bên kia hồ Lưu Khiêm cũng có bức bình phong Loan-Phụng rất độc đáo nằm sau cổng chính. Đây là bức bình phong được trang trí bằng cách ghép sành sứ màu với số lượng rất lớn. Hình loan, phụng được thể hiện thành một đôi theo tư thế đối xứng, đầu chầu về hình mặt trời đặt ở chính giữa, đuôi vươn cao và xoè rộng như đang múa. Toàn bộ mô típ trên được đặt trong một hình tròn biểu tượng cho bầu trời, bên ngoài có 4 dây hoa cúc đặt ở 4 góc làm giới hạn cho hình vuông, biểu tượng của mặt đất theo quan điểm phương Đông truyền thống.<br /> <br />Bình phong ở Lăng Khiêm Thọ<br />Ngoài lăng Tự Đức, tại các khu di tích cung đình khác như cung Diên Thọ, cung Trường Sanh, Thái Bình Lâu (trong Hoàng Thành), điện Voi Ré, lăng Cơ Thánh (tức lăng Sọ)...cũng còn giữ được một số chiếc bình phong được xây dựng công phu và có giá trị nghệ thuật cao. <br />Non bộ trong kiến trúc cung đình có mặt ở rất nhiều nơi trong các cung điện, vườn cảnh, với trình độ nghệ thuật điêu luyện, hàm chứa những triết lý nhân sinh độc đáo. Trải qua thời gian với các biến động lịch sử, hầu hết các non bộ nguyên thủy đã bị hủy hoại hay bị biến dạng qua các lần sửa sang trước đây. Hiện trong quần thể di tích cố đô chỉ còn một số ít non bộ còn bảo tồn tương đối nguyên vẹn và đây là nguồn tư liệu vô giá cho công tác nghiên cứu, bảo tồn loại hình kiến trúc nghệ thuật đặc biệt này.<br />Một trong những non bộ tiêu biểu hiện còn là hòn non bộ lớn phía sau Thái Bình Lâu. Đây là một non bộ có quy mô lớn, hình dáng được tạo dựng công phu, có giá trị khá cao về mỹ thuật. Tuy nhiên non bộ trên đã trải qua một số lần tu sửa và những đợt tu sửa này đã gây ảnh hưởng đến mỹ thuật cùng tính nguyên gốc của công trình.<br />Ở hồ Tân Nguyệt, phía trước cung Trường Sanh cũng có một non bộ được tạo dựng công phu. Quy mô của non bộ này cũng khá lớn, hình dáng kỳ vỹ, có cầu đá bắc qua mặt hồ để nối với bên kia bờ. Đáng tiếc là non bộ này đã bị một số cây lớn mọc lâu năm làm phá vỡ khá nhiều chi tiết.<br />Tại cung Diên Thọ, trong hồ vuông của Trường Du Tạ cũng có một non bộ có cấu trúc và phong cách khá giống non bộ của cung Trường Sanh. Xem xét về cấu trúc thì có thể thấy chiếc non bộ này đã được chỉnh sửa một số lần, mới đây nó lại được tu bổ qua đợt trùng tu cụm di tích cung Diên Thọ.<br />Nhưng có lẽ đẹp nhất và còn bảo tồn được nguyên vẹn nhất là non bộ sau gác Ích Khiêm của lăng Tự Đức. Tức là non bộ đặt phía trước chiếc bình phong tứ linh đã đề cập. Đây là chiếc non bộ được xếp đặt cực kỳ công phu và gần như chưa có bất kỳ sự tu sửa nào.<br />Cũng tương tự như các non bộ ở cung Diên Thọ, cung Trường Sanh về kỹ thuật xây dựng (đều dùng kỹ thuật xây đắp đá trên nền bệ đỡ bằng gạch vồ), nhưng non bộ này không thể hiện theo kiểu “Tam sơn” (3 hòn núi thần trên biển theo truyền thuyết), mà có chủ đề kiểu “Quần long đại hội” (9 con rồng họp về). Hình tượng 9 con rồng được thể hiện bằng các khối đá với những hình dáng phong phú, có sức gợi mở trí tưởng tượng rất cao. Rõ ràng là ở đây đã có sự phối hợp khăng khít giữa các hình tượng được thể hiện trên bình phong và non bộ (Thái cực-Lưỡng nghi-Tứ linh-Cửu long).<br />Vốn xưa khi vua Tự Đức còn tại thế, Khiêm Cung đóng vai trò là một ly cung đặc biệt của hoàng đế triều Nguyễn. Trong suốt 16 năm cuối đời, vua Tự Đức thường lên đây, mỗi đợt thường ở lại nhiều ngày để tránh xa chốn kinh thành náo nhiệt và đa sự. Khiêm Cung có đầy đủ các yếu tố của một cung điện hoàn chỉnh, lại có cả cấu trúc của một ngự uyển để nhà vua nghỉ ngơi, thư giãn. Hồi ấy, ngoài khu vực cảnh quan lớn bố trí dọc theo và bên kia hồ Lưu Khiêm, khu vực phía sau điện Lương Khiêm cũng là một hoa viên với trung tâm là gác Ích Khiêm, có trường lang nối ra hai phía, xung quanh có cả chục bồn hoa lớn nhỏ, hàng chục chậu cảnh chạm từ đá thanh rất cầu kỳ . Non bộ và bình phong tứ linh là điểm nhấn quan trọng của hoa viên, đấy là lý do vì sao chúng đều được xây dựng, tạo tác hết sức công phu. <br /> <br />Một phần non bộ và Long Quy<br />Việc nghiên cứu hệ thống bình phong, non bộ cổ sẽ góp phần giải mã nhiều vấn đề thú vị của phong thủy được áp dụng trong kiến trúc truyền thống, nhất là trong kiến trúc cung đình Huế. Bên cạnh đó, những bình phong, non bộ cổ nói trên còn là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, vì vậy nghiên cứu kỹ những tác phẩm này sẽ giúp chúng ta lí giải được nhiều vấn đề về mỹ thuật truyền thống Huế. Nhưng vấn đề đang đặt ra hiện nay là chúng ta chưa chú ý đầu tư nghiên cứu kỹ những tác phẩm nghệ thuật nói trên. Mặt khác, phần lớn người chơi cây cảnh, non bộ hiện nay đều chịu ảnh hưởng của trường phái non bộ, cây cảnh của Nhật Bản (trường phái mới du nhập vào nước ta từ thập niên 60 của thế kỷ XX) mà lại ít am hiểu về nghệ thuật non bộ, cây cảnh truyền thống với những triết lý rất sâu sắc và nhân ái của người Việt. Thực trạng hệ thống cây cảnh, non bộ được trưng bày trên nhiều di tích Huế hiện nay đã và đang thể hiện rất rõ điều này. Vì vậy, chúng ta cần có sự điều chỉnh kịp thời trong công tác nghiên cứu và bảo tồn hệ thống bình phong, non bộ trong kiến trúc cổ. <br />Người viết muốn nhấn mạnh rằng, để phục nguyên các di tích thì không chỉ phục hồi các công trình kiến trúc mà cảnh quan, môi trường và các yếu tố phụ trợ cũng hết sức quan trọng. Việc nghiên cứu, bảo tồn hệ thống bình phong, non bộ cổ của Huế sẽ góp phần quan trọng trong việc trả lại cho các di tích xưa đúng diện mạo vốn có, đồng thời chuẩn bị cho công tác phục hồi các khu vườn ngự uyển của cố đô.<br /><br />( Còn nữa...)

chinh186
27-05-2012, 09:20 AM
LĂNG TẨM HUẾ - MỘT KỲ QUAN<br /><br />Cách đây gần 80 năm, một người Tây Phương tên là Ph. Eberhard đã viết: &quot;Huế là một trung tâm du lịch hấp dẫn, nơi có Kinh Thành, Hoàng Thành và lăng tẩm, có một sức cuốn hút sự chú ý đặc biệt của du khách và các nhà mỹ thuật. Chỉ riêng lăng tẩm các vua nhà Nguyễn không thôi cũng đã đủ có giá trị đối với cuộc du lịch rồi, theo ý kiến chung lăng tẩm Huế đẹp hơn lăng tẩm các vua nhà Minh ở Trung Quốc&quot;. <br /><br />Mãi cho đến ngày nay, ý kiến chung của những nhà làm công tác văn hóa nghệ thuật trong nước và trên thế giới cũng khẳng định rằng lăng tẩm Huế là một thành tựu rực rỡ nhất của nền kiến trúc cổ Việt Nam. <br /><br />Lăng Gia Long.<br /><br />Triều Nguyễn (1802-1945) có đến 13 vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp khác nhau cho nên hiện nay ở Huế chỉ có 7 khu lăng tẩm. <br /><br />Triều Nguyễn (1802-1945) có đến 13 vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp khác nhau cho nên hiện nay ở Huế chỉ có 7 khu lăng tẩm. Đó là các lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức (ở đây còn có mộ vua Thành Thái, Duy Tân), Đồng Khánh và Khải Định. Theo ý đồ quy hoạch kiến trúc kinh đô nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ XIX, 7 khu lăng ấy nằm trong một vùng đất khá riêng biệt ở phía Tây Huế, nhìn từ vị thế Trung ương của cố đô. Nhiều thể hiện trên di tích tại chỗ cho thấy vua là đấng chí tôn được biểu trưng bằng hình ảnh mặt trời cao cả. Và hình ảnh mặt trời lặn biểu thị khái niệm vua băng hà. Khi đã băng hà, vua cùng mặt trời đi về phía tây để an giấc ngàn thu nơi vùng núi đồi tĩnh mịch. ở góc trời yên ả đó có dòng sông Hương êm đềm thơ mộng chảy qua. <br /><br />Lăng Minh Mạng.<br /><br />Theo quan niệm &quot;tức vị trí lăng&quot; phần lớn các lăng tẩm đều được xây dựng khi nhà vua còn ở trên ngai vàng. Hầu hết nhân lực, vật liệu nhà nước và năng lực của chính nhà vua nữa, đều được đổ ra trong nhiều năm để thực hiện. Chủ đề tư tưởng nghệ thuật do nhà vua đưa ra, đồ án kiến trúc do vua duyệt khán và chính nhà vua cũng thường đi giám sát thi công, <br /><br />Điều mà các nhà kiến trúc dưới thời nhà Nguyễn phải tuân thủ triệt để trước tiên là nguyên tắc phong thủy. Đó là phần việc chuyên môn của các quan ở bộ Lễ, Khâm Thiên Giám và một vài cơ quan khác. Âm phần của các vua có phát hay không, hậu vận của hoàng tộc tốt hay xấu đều do sự lựa chọn cuộc đất &quot;vạn niên cát địa&quot;, do việc định đặt phương hướng và việc coi ngày khởi công xây dựng. Lăng tẩm nào cũng phải theo đúng những quy luật liên quan đến các thực thể địa lý thiên nhiên: sông núi, ao hồ, khe suối, và nhất là &quot;huyền cung&quot; ở trung tâm điểm của mặt bằng kiến trúc phải tọa đúng long mạch. Các thầy địa giỏi nhất bấy giờ phải bỏ ra hàng tháng nếu không nói là hàng năm, đi khắp vùng núi đồi tây và tây nam Kinh Thành để chọn cho ra một địa hội đủ các nguyên tắc sơn triều thủy tụ, tiền án hậu chẩm, tả long hữu hổ, huyền thủy minh đường... Dù có lý thuyết phong thủy cổ xưa ấy được nhận định, đánh giá như thế, hệ quả tốt đẹp của nó cũng đã tạo ra được cho kiến trúc Huế nói chung hùng vĩ và tráng lệ. <br /><br />Đi tham quan nghiên cứu lăng tẩm Huế, không nên chỉ chú mục vào các công trình kiến trúc gần gũi trước mắt trong phạm vi vòng la thành diện tích hơn chục ha, mà phải phóng tầm mắt ra xa cả chục km để thấy hết các thực thể địa lý thiên nhiên gắn liền với nó và thưởng thức được vẻ hoành tráng của cả tổng thể rộng hàng trăm, hàng nghìn ha mà lăng tẩm có ảnh hưởng về mặt nghệ thuật. ít ai nghĩ rằng ngọn núi Gia Long rộng tới 2,875 ha và có đến 42 ngọn núi chầu vào trung tâm điểm là mộ địa. Vùng lăng Thiệu Trị rộng 475 ha, có ngọn núi đứng làm tiền án cách xa lăng đến 8km. Trước mặt lăng Khải Định là dòng Khe Châu Ê chảy khuất khúc từ trái sang phải rồi lại rẽ lại theo thế &quot;chi huyền thủy&quot;, và hai bên là dãy núi Chóp Vung và Kim Sơn nằm trong tư thế rồng chầu hổ phục. <br /><br />Hầu hết các núi đồi, khe suối, sông hồ, cây cỏ ở miền cận sơn xứ Huế đều được tận dụng hoặc chỉnh trang lại, cải tạo thành để làm bối cảnh cho kiến trúc lăng tẩm. Các nghệ nhân tài ba ngày trước đã khai thác không gian và thiên nhiên ngoại cảnh một cách chủ động, bắt chúng phải phục tùng ý định của tác giả công trình. Đồng thời nơi nào thiên nhiên thiếu sót thì họ uốn nắn lại, hoặc đưa kiến trúc vào để tạo nên một mỹ quan thích đáng:&quot; Không gian bên ngoài luồn vào không gian của kiến trúc, kéo kiến trúc về với thiên nhiên góp phần tổ chức lại không gian chung&quot; <br /><br />Trong quyển &quot;Mỹ thuật Viễn Đông&quot;; Jeannine Auboyer nhận xét rằng: Người Việt Nam đã biết lựa chọn những khung cảnh thiên nhiên xinh đẹp nhất để xây dựng những công trình kiến trúc thờ phụng của mình. Điều này được chứng thực rõ ràng nhất qua nghệ thuật kiến trúc lăng tẩm Huế. Nơi đây công trình kiến trúc nào cũng nằm trên một ngọn đồi cỏ non dưới rừng thông yên ả, ẩn mình sau nhưng cây đại thụ cành lá sum sê hay soi mình xuống mặt hồ trong xanh phẳng lặng. Và toàn cảnh bao phủ một màu xanh tươi mát chan hòa. <br /><br />Năm 1918, Phạm Quỳnh đã nhận xét trên tạp chí Nam phong: &quot;Lăng đây là gồm cả một màu giời, sắc nước, núi cao, rừng rậm, gió thổi, ngọn cây, suối reo hang đá...Lăng đây là bức cảnh thiên nhiên tuyệt khéo. Lăng đây là cái nhân tô diểm cho sơn thủy...không biết lấy nhời gì mà tả được cái cảm lạ, cái êm đềm vô cùng...Không đâu cái công dựng đặt của người ta với cái vẻ thiên nhiên của giời đất khéo điều hòa nhau bằng ở đây, cung điện đình tạ cũng một màu, một sắc như núi non, cây cỏ...&quot; <br /><br />Kiến trúc cổ Việt Nam nói chung là kiến trúc phong cảnh,còn gọi là kiến trúc cảnh vật hóa (architecure paysagée). Nghệ thuật kiến trúc này đã đạt đỉnh cao ở lăng tẩm Huế. Vào năm 1981, sau khi đến thăm Huế, ông Tổng Giám Đốc UNESSCO Amadou-M'Bow đã viết:&quot; Lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn ...biển hiện những biến tấu độc đáo trên một chủ đề thống nhất. Mỗi một lăng vua với đặc tính riêng của nó là một thành tựu tuyệt mỹ của nền kiến trúc cảnh vật hóa, và mỗi lăng tẩm khơi dậy trong cảm xúc khách quan một âm vang đặc biệt. Lăng Gia Long giữa một khu vực thiên nhiên bao la, gợi lên một ấn tượng hùng tráng và thanh thản, lăng Minh Mạng đầy vẻ trang nghiêm và lăng Tự Đức đem đến cho du khách một hồn êm thơ mộng&quot;Theo quan niệm duy tâm, người xưa cho rằng chết chưa phải là hết. Cho nên lăng tẩm Huế không phải chỉ là chốn mộ địa u buồn. <br /><br />Bố cục mặt bằng khu lăng tẩm nào cũng chia làm hai phần chính: phần lăng và phần tẩm. Khu vực lăng là khu chôn thi hài nhà vua. Khu vực tẩm là chỗ xây nhiều miếu, điện, lầu, gác, đình, tạ...để nhà vua lúc còn sống thỉnh thỏang rời bỏ hoàng cung lên đây tiêu khiển ở khu vực tẩm của vua Tự Đức chẳng hạn có đến mấy chục công trình kién trúc lớn nhỏ để phục vụ và giải trí cho nhà vua, trong đó có điện Hòa Khâm, nơi vua làm việc, điện Lương Khâm, nơi vua ăn ngủ; tạ Xung Khiêm, tạ Dũ Khiêm, những nơi vua ngồi câu cá, hóng mát, làm thơ, ngắm cảnh; Hồ Lưu Khiêm nơi vua dạo thuyền hái hoa; có Minh Khiêm Đường (nhà hát); Y Khiêm Viện; Trì Khiêm viện nơi tá túc của đám cung nữ đi theo vua lên đó để chầu hầu... Nhưng sau khi vua băng hà, tất cả các công trình kiến trúc trong khu vực tẩm vẫn phải lên đây ăn ở để khói hương, phụng trực cho đến trọn kiếp người. Họ phải &quot;sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn&quot; với tất cả những ý nghĩa của giáo điều này với lòng trung thành, sự thủy chung của họ đối với vị &quot;Tiên đế&quot; vừa về thế giới bên kia. <br /><br />Như vậy, sau khi vua băng hà, lăng tẩm mới trở thành cõi sống của người đã chết. Sinh phần của vua Tự Đức sau khi bắt đầu xây dựng năm 1864 chỉ được gọi tên là Vạn Niên Cơ hoặc Khiêm Cung. Mãi đến năm 1883, sau khi vua băng hà, nó mới được phép gọi tên là Khiêm Lăng. <br /><br />Như vậy mỗi lăng tẩm Huế còn là một Hoàng cung của vua nhà Nguyễn ở thế giới bên kia, nơi họ trở về để sống cuộc sống muôn thuở. Vì nhận định về sự sống và cái chết như vậy cho nên lúc sinh thời, khi còn tại vị, vua nào cũng nghĩ đến việc xây dựng lăng tẩm cho mình. <br /><br />Gần đây, một nhà bình bút của ủy ban UNESSCO thuộc trung tâm văn hóa Á châu đã nhận định một cách vắn tắt nhưng rất thâm uyên và chính xác về triết lý trong kiến trúc lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn như sau: <br /><br />&quot;Với cảnh thiên nhiên chóng qua trên dương thế, các lăng tẩm uy nghi đã được xây dựng để làm chốn thiên đường vĩnh cửu mai sau&quot; . <br /><br />Kiến trúc lăng tẩm Huế có ngôn ngữ riêng biệt và ý nghĩ sâu xa của nó. Có hiểu thấu thì mới giải thích được tại sao ở chốn âm phần lại có cả hệ thống cung điện để ăn chơi hưởng thụ, có cả nhà hát để thưởng thức nghệ thuật sân khấu và sắc đẹp giai nhân, mới lý giải được tại sao phần nội cung Thiên Định ở lăng Khải Định giống như một viện bảo tàng mỹ thuật trông vui mắt, sống sít và mới biết được tại sao khắp các lăng tẩm đều trang trí rất nhiều hoa văn chữ &quot;thọ&quot; (nghĩa là sống lâu) và chữ &quot;hỷ&quot; (nghĩa là vui mừng) <br /><br />Vào thăm lăng tẩm Huế, người ta không hề gặp những hình ảnh gây ấn tượng chết chóc, sợ hãi, lạnh lùng như vào viếng &quot;Minh thập tam lăng&quot; ở Trung Quốc, người ta cũng không cảm thấy mình trở nên nhỏ bé, bị áp lực nặng nề, và bị &quot;dọa nạt&quot; như khi đứng trước những Kim Tự Tháp quá đồ sộ của các Hoàng Đế Ai Cập. Trong lăng tẩm Huế, con người vẫn là chủ để của kiến trúc và thiên nhiên. Ở đây, người ta bắt gặp những hình ảnh quen thuộc gần gũi, có được cảm giác lâng lâng thích thú giữa thực và mộng. Một du khách Tây phương đã từng nói lăng tẩm Huế là nơi &quot;tang tóc mỉm cười và vui tươi thổn thức&quot; (le deuil sourit et la soupire) Charles Patris trong một bài thơ viết về lăng tẩm Huế cũng đã cho rằng: <br /><br />&quot;Ces rois d'Annam tres sages. <br />Qui font sourir la mort&quot; <br /><br />Tạm dịch: <br /><br />&quot;Các vua nhà Nguyễn khôn ngoan <br />Làm cho cảnh tang tóc biết cười&quot; <br /><br />Tóm lại, nhờ có chủ đề tư tưởng bắt nguồn từ nhân sinh quan tổng hợp của các dòng triết học Đông phương và nhờ tài năng nghệ thuật tuyệt diệu của các nhà kiến trúc Việt Nam đường thời, lăng tẩm Huế đã trở thành những đóa hoa<br /><br />( Còn nữa ...)

drvovanloan
27-05-2012, 09:20 AM
HỔ QUYỀN MỘT ĐẤU TRƯỜNG HOÀNG CUNG XƯA<br /><br />Có người đã ví von rằng: Ngoài đấu trường giác đấu nổi tiếng thời La Mã cổ đại như Coloseum, không đâu tìm được một đấu trường quy mô như Hổ quyền, một đấu trường của hoàng cung có chỗ đứng hết sức quan trọng trong quần thể di tích Huế.. Thế nhưng địa danh oai linh với những cuộc thư hùng long trời lở đất giữa voi và cọp thuở xưa đang từng ngày dần hóa thành phế tích...<br />Hổ quyền là một đấu trường giữa voi và cọp ra đời dưới thời vua Minh Mạng, vừa là chỗ vua quan nhà Nguyễn giải trí, đồng thời cũng là nơi luyện tập cho voi quen với không khí chiến đấu lúc lâm trận. Theo ông Pierre Poivre nhà buôn phương Tây từng đến Huế vào thời các chúa Nguyễn thuật lại rằng: Vào năm 1750, chúa Nguyễn Phúc Khoát và các quan trong triều đã đi trên 12 chiếc thuyền, đến đậu gần cồn Dã Viên để xem voi và cọp đấu nhau. Trận ấy có 40 con voi &quot;lâm trận&quot; và chúng đã quật chết 18 con cọp.<br /> <br />Hổ Quyền ở Huế<br />Thời Gia Long (1802 - 1919), các trận thư hùng giữa voi và cọp được tổ chức ngay trên dải đất trống trước mặt Kinh thành. Đấu trường không có phòng thành, nhà vua bắt lính đứng vây quanh thành một vòng tròn để làm hàng rào cho đấu trường hết sức nguy hiểm. Một người được xem cuộc thư hùng ấy là ông Michel Đức Chaingeau.<br />Về sau viết cuốn hồi ký Hoài niệm Huế, ông đã thuật lại một kỷ niệm hết sức rùng rợn: Trong trận đấu hôm ấy, mặc dù con cọp đã bị tước bỏ hết nanh vuốt và cột chặt vào một cái cọc đóng kiên cố... Nhưng không ngờ nó mạnh và dữ quá, gồng mình bứt đứt sợi dây rồi nhảy phóc lên tát anh nài đang ngồi trên đầu voi. Anh nài hoảng hốt chưa kịp kêu cứu thì đã bị tấn công bay xuống đất và bị con voi của chính anh giẫm chết tại chỗ. Con cọp còn gây cho nhiều binh sĩ bị thương và vua quan triều Gia Long phải một cơn thất đảm kinh hồn.<br /> <br />Một trong năm cửa chuồng cọp trổ bên hông Hổ Quyền<br />Toàn cảnh Hổ quyền được họa sỹ dưới thời Nguyễn vẽ lại. Về sau này, để bảo đảm an toàn cho người xem, năm Canh Dần (1830), vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hổ quyền ở gần đồi Long Thọ và Thành Lồi của người Chiêm Thành xưa, gần với điện Long Châu. Hổ quyền là một đấu trường lộ thiên hình vành khăn. Vòng tường ở bên trong cao 5,90m và vòng tường bên ngoài cao 4,75m (kể cả lan can) có khuynh độ 1/10 chúc đầu vào nhau, ôm chặt lấy mô đất ở giữa. Bề dày đỉnh tường ngoài là 35cm và đỉnh tường trong 47cm.<br />Cả hai cộng với mô đất ở giữa tạo thành một bề dày 4m ở đỉnh và 5m ở mặt đất thường. Mặt trên của mô đất ấy cao bằng tường ngoài, tạo thành con đường chạy vòng tròn (chỉ gián đoạn ở khán đài nơi vua ngồi xem) để khán giả đi quanh trên đấu trường và để xem voi cọp đánh nhau trong lòng chảo. Mô đất chạy vòng ấy cũng đã được dùng để trổ thành 5 chuồng cọp và một cửa vòm lớn dành cho voi ra vào chiến đấu. Đường kính trong lòng chảo 44m, chu vi ngoài Hổ quyền 140m.<br /> <br />Toàn cảnh Hổ quyền được họa sỹ dưới thời Nguyễn vẽ lại.<br />Lúc thịnh thời, các trận đấu tại Hổ quyền được tổ chức hàng năm, nhưng cũng tuỳ sở thích của từng ông vua triều Nguyễn, có khi một năm tổ chức vài ba trận đấu nhưng cũng có khi vài ba năm mới tổ chức một trận đấu tại Hổ quyền.<br />Trận đấu cuối cùng tại Hổ quyền diễn ra vào năm 1904 dưới thời vua Thành Thái. Từ đó về sau, một phần vì kinh tế khó khăn không thể chi phí cho việc săn bắt thêm voi, cọp để thi đấu, một phần vì sự mâu thuẫn ngày càng trầm trọng giữa vua Thành Thái và chính quyền Bảo hộ nên Hổ quyền cũng bị bỏ hoang cho đến ngày nay.<br />Thật đáng tiếc là cho đến bây giờ vẫn chưa phát hiện thấy có sử liệu nào ghi chép cụ thể đã có bao nhiêu trận đấu giữa voi và cọp diễn ra ở Hổ quyền trong suốt nhiều đời vua triều Nguyễn từ Minh Mạng đến Thành Thái.<br />Theo một số truyền thuyết dân gian thì cũng chính tại đấu trường của hoàng cung này đã từng diễn ra các cuộc đấu của các mãnh tướng chống lại triều đình với những con cọp dữ. Những truyền thuyết, dã sử xoay quanh Hổ quyền còn rất nhiều nhưng thực tế chỉ có một. Đó là di tích văn hóa quý giá này đang ngày một xuống cấp nghiêm trọng. Lớp phong mờ của thời gian và sự tàn phá của con người đã và đang làm cho nơi đây hoang tàn nhanh chóng.<br />Trước đây, bên cạnh Hổ quyền, phía trước mặt Long Châu Miếu có hồ sen rất rộng, đó là nguồn nước ăn của cả vùng Long Thọ. Ngoài ra, lợi tức bán hạt sen của cái hồ này cộng với tiền cúng tế do triều đình cấp cũng đủ để dùng vào việc lễ tế voi diễn ra khá lớn hàng năm ở đây. Sau này, cùng với sự thờ ơ của người đời, mặt nước linh thiêng biến thành hồ nuôi cá, hương sen thơm ngát bị lấn át bởi vô vàn mùi xú uế của rác thải sinh hoạt khiến cho mạch nước hồ ô nhiễm và cạn dần. Với tốc độ đô thị hóa chóng mặt, rất nhiều nhà dân đã lấn chiếm xây trùm lên đất đai di tích, muốn vào thăm chốn này, du khách phải chui qua cái kiệt 373 nhỏ bé nằm khuất lấp trên đường Bùi Thị Xuân.<br />Xin được nhắc lại rằng: Khắp các nước Đông Á, kể cả Trung Quốc và Nhật Bản, không thấy ở quốc gia nào có đấu trường tương tự. Hổ quyền ở Huế chẳng những là một di tích đặc biệt và độc đáo của Việt Nam, mà còn là một di tích quý hiếm của thế giới nữa.<br /><br />Nguồn: &quot;Tổng hợp&quot;

dungnguyen
27-05-2012, 09:20 AM
Bác Thiong ah,những phát hiện của bác thật thú vị,chắc ít ai biết đc.Nhưng bác ăn gian quá,đã có hẳn 1 chuyên mục như thế này rồi,lại còn muốn chiếm luôn 1 mục riêng cho mình,như thế này ko đc đâu nhé!!Nhiều quá,sao bác ko tóm gọn mấy cái này lại trong 1 chuyên mục để nó dễ tim,dù sao vẫn cám ơn những thông tin của bác.TKS.

thao
27-05-2012, 09:20 AM
Hì..hì..hì<br /><br />Chưa gì đã &quot;nghĩ xấu&quot; cho người ta rồi cô bé ! Tiện tay rồi làm một mạch thôi mà đâu có ăn gian. Faire Play nhé!<br /><br /> <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/biggrin.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":D" border="0" alt="biggrin.gif" /> <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/biggrin.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":D" border="0" alt="biggrin.gif" /> <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/biggrin.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":D" border="0" alt="biggrin.gif" />

nhodt
27-05-2012, 09:20 AM
e mun di du lich hue, hoi an vay jup e dc k.e mun bit danh lam thag canh ,xe di lai va khach san .e di du lich bui do.thanks <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/laugh.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":lol:" border="0" alt="laugh.gif" />

mickey
27-05-2012, 09:20 AM
CHÀO ANH CÔNG!<br />SẮP TỚI GD EM MUỐN ĐI RA NGOÀI HUẾ CHƠI KHỎANG 2 NGÀY 1 ĐÊM.NHỜ ANH HƯỚNG DẪN NHỮNG ĐIỂM DL HẤP DẪN VÀ NỔI TIẾNG ĐỂ CHO EM ĐƯỢC ĐI TRONG THỜI GIAN DÓ.NHỚ GIỚI THIỆU CHO EM MỘT SỐ KS RẺ MÀ ĐẸP VỚI NHÉ.EM CẢM ƠN.ANH HỒI ÂM LẠI CHO EM BIẾT NHÉ.

thanhphatwood
27-05-2012, 09:20 AM
Hi Mamyy,<br /><br />Cho mình nick yahoo cua bạn đi. Hy vọng sẽ giúp được gì đó cho bạn!<br /><br />Cheers,<br /><br />Thiong

raytuner0717
27-05-2012, 09:20 AM
[attachment=2337:attachment]<b> <br /><br />SÔNG HƯƠNG - MỘT TRONG NHỮNG DÒNG SÔNG ĐẸP NHẤT THẾ GIỚI</b> <br /><br /><br />Sông Hương là con sông lớn chảy qua giữa lòng Thành phố Huế, nổi tiếng có vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình. Sông có nhiều tên gọi: Lô Dung, Linh, Dinh, Kim Trà, Hương. Có truyền thuyết nói rằng, sở dĩ đó gọi là sông Hương bởi tại đầu nguồn sông có nhiều giống cỏ Thạch Xương Bồ đưa mùi hương vào dòng nước. Bởi thế sông Hương không chỉ đẹp mà nước sông còn thơm nữa. Người nước ngoài khi dịch tên con sông này sang tiếng Pháp, tiếng Anh cũng dùng chữ rivière des Parfums hoặc Perfume of River. Nhưng cũng có người cho rằng tên Hương của sông là gọi theo địa danh - sông chảy qua huyện Hương Trà (trước là Kim trà) nên mới mang tên này.<br /><br />Sông Hương có hai nhánh lớn, đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn. Nhánh Tả Trạch xuất phát từ Động Dài, chảy qua 55 ngọn thác lớn nhỏ đến ngã ba Bằng Lãng. Nhánh Hữu Trạch bắt đầu từ phía đông núi Chấn Sơn, chảy qua 14 dòng thác rồi đến nhập với dòng Tả Trạch ở ngã ba trên. Kể từ ngã ba Bằng Lãng về đến biển dòng sông trở nên rộng rãi, nước chảy hiền hoà. Quanh năm trừ những ngày lũ lụt nước sông đều xanh biếc.<br /><br />Sông Hương không dài, toàn bộ dòng sông chỉ 100 km. Còn tính riêng đoạn sông chính được gọi là sông Hương chỉ dài khoảng 30 km. Từ ngã ba Bằng Lãng, sông Hương nhẹ nhàng, chậm rãi chảy qua các làng mạc trù phú của vùng ngoại vi Huế, đi vào giữa lòng thành phố, rồi tiếp tục uốn lượn qua các miền quê ở hạ lưu trước khi ra biển. Ở đoạn sông chính này, sông Hương có một số chi lưu quan trọng như sông Bạch Yến, sông Kim Long (khi xây dựng Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX, sông này đã bị chặn lấp, nay thoái hoá hoàn toàn và có tục danh là sông Lấp, đoạn chảy trong Kinh thành được cải tạo thành Ngự Hà); sông Lợi Nông; sông Thiên Lộc, sông Kẻ Vạn, sông Đông Ba ..., trong đó có một số con sông đào nhằm mục đích bảo vệ Kinh thành hoặc tưới tiêu cho nông nghiệp ... Ở hạ lưu, sông Hương hội nhập với sông Bồ (tại ngã ba Sình) và sông Ô Lâu (tại phá Tam Giang) trước khi đổ ra biển.<br /><br /> Đối với kiến trúc đô thị Huế, sông Hương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Từ thủ phủ Kim Long (1630-1687) đến các đô thị tiền thân của Huế ngày nay như thủ phủ Phú Xuân (1687-1712), Đô thành Phú Xuân (1738-1775), Kinh đô Phú Xuân thời Tây Sơn (1788-1801) đều lấy sông Hương làm trục chính để quy hoạch và xây dựng đô thị. Sông Hương còn được làm “Minh Đường” làm tuyến hào tự nhiên che chở Kinh Thành Huế, tuyến giao thông trọng yếu để từ Huế lên Tây xuống Đông và đi mọi miền đất nước.<br /><br />Sông Hương là con sông gắn bó mật thiết với với đời sống văn hoá của người Huế. Các hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống như nghe ca Huế trên sông, đua thuyền, thả đèn ... đến nay vẫn được bảo lưu khá nguyên vẹn. Sông Hương cũng là dòng sông gắn liền với thi ca, nhạc hoạ. Nhiều bài thơ, nhiều bức tranh, nhiều tranh ảnh, nhiều bài hát nổi tiếng đã lấy dòng sông này làm nguồn cảm hứng sáng tác.<br /><br /> Dòng sông xinh đẹp này đã khiến đại thi hào Nguyễn Du phải thốt lên:<br /><br />“Hương giang nhất phiến nguyệt<br /><br />Kim cổ hứa đa sầu” <br /><br />Dịch nghĩa:<br /><br />“Một mảnh trăng dòng sông Hương<br /><br />Kim cổ sầu vấn vương”<br /><br />Thời Nguyễn, ông vua thi sĩ Thiệu Trị đã xem Sông Hương là một trong 20 thắng cảnh của đất Thần Kinh và có làm bài thơ “Hương Giang Hiểu Phiếm” đề vịnh. Bài thơ này đã được khắc vào bia đá dựng bên bờ sông Hương, ở vị trí bên cạnh Phu Văn Lâu. Đến nay bia vẫn được bảo quản khá tốt.<br /><br />Cùng với núi Ngự Bình, sông Hương đã, đang và sẽ mãi mãi là biểu tượng của Huế. Nhiều người đã cho rằng, sông Hương là một trong những dòng sông đẹp nhất thế giới.<br /><br /><br />Theo &quot; <b> Huế Xưa và Nay </b> &quot;