View Full Version : PHONG CẢNH VÀ CON NGƯỜI XỨ HUẾ !
minhkhago
27-05-2012, 09:20 AM
<b>Núi Túy Vân</b><br /><br /><img src="http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/dataimages/original/images9647_Nui-Tuy-Van---DaoHoaNu.jpg" border="0" class="linked-image" /> <!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto--><!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ffcc33--><span style="color:#ffcc33"><!--/coloro--><i>Góc nhìn từ Núi Túy Vân</i><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->Nằm về phía Đông Bắc huyện Phú Lộc, tên cũ là Mỹ Am Sơn, năm 1825, vua Minh Mạng đổi tên là Túy Hoa Sơn, năm 1841 vua Thiệu Trị đổi lại là Túy Vân Sơn có dựng bia ký thắng tích. Trên đỉnh núi có ngôi cổ tự Thánh Duyên. Chung quanh khu vực núi vẫn còn một số di vật Chămpa và dấu vết của một ngôi tháp nổi tiếng của người Chămpa trên núi Linh Thái, một ngọn núi nằm phía Đông núi Túy Vân.<br /><br /><b>Núi Hải Vân</b><br /><br /><img src="http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/dataimages/original/images9651_Nui-Hai-Van---DaoHoaNu.jpg" border="0" class="linked-image" /> <!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ffcc33--><span style="color:#ffcc33"><!--/coloro--><i>Núi Hải Vân - Ảnh Đào Hoa Nữ</i><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--> Là hệ thống rừng thuộc phần cuối của dãy Trường Sơn Bắc vươn ra biển Đông, nằm trong dãy Bạch Mã - Hải Vân - Bà Nà có độ cao gần 500m so với mặt nước biển, ở khu vực giáp ranh của tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng. Vì ngọn núi này có đỉnh lẫn trong mây và chân chìm dưới biển, nên có tên gọi là Hải Vân. Đỉnh cao nhất là Hải Vân lên tới 1.172m. <br /><br />Hải Vân có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng, ẩn mình trong mây trắng và soi bóng xuống biển xanh. Từ xưa đã được tôn xưng là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan". Cách núi Hải Vân chưa đầy 1km theo đường chim bay là hòn Sơn Chà và bán đảo Sơn Trà, nơi còn bảo tồn được một số loài động, thực vật quý hiếm. <br /><br />Hải Vân nằm trong huyết mạch giao thông quan trọng trên tuyến giao thông Bắc - Nam (Quốc lộ 1A). Trên đỉnh đèo có di tích Hải Vân Quan đã được Nhà nước công nhận là di sản quốc gia. Với những đặc điểm đó, Hải Vân là một danh thắng nổi tiếng, là điểm dừng chân lý tưởng của du khách trên tuyến du lịch đường bộ và đường sắt Bắc - Nam.<br /><br />document.all('IDM_Category_'.concat(6)).style.disp lay=''; <br /><br /><br /><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--><u>Sức hấp dẫn của Tuý Vân, Núi Rùa</u><!--colorc--></span><!--/colorc--> <a href="http://www.hue.vnn.vn/dataimages/original/images22711_xuongrong220804.jpg" target="_blank"><img src="http://www.hue.vnn.vn/dataimages/normal/images22711_xuongrong220804.jpg" border="0" class="linked-image" /></a> <!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->Quần thể xương rồng mùa nở hoa giữa động cát<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Chỉ cách thành phố Huế chừng 30km về phía nam, Túy Vân- Núi Rùa (xã Vinh Hiền, Phú Lộc) có cái tinh khiết, trong trẻo gần như tuyệt đối của một vùng trời, nước và đảo hoang sơ, ít dấu chân người, và càng ít hơn nữa dấu ấn của máy móc, khói bụi, xăng dầu. Chỉ chừng đó thôi cũng đủ khiến Tuý Vân- Núi Rùa hấp dẫn du khách, nhất là những người yêu thiên nhiên và cần sự yên tĩnh, thanh thản. <!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Từ đoạn Quốc lộ thị trấn Phú Bài rẽ vào QL 49 chưa đầy 10km là bắt gặp cây cầu Trường Hà dài nhất ở Huế dẫn dắt du khách về đến khu vực Tuý Vân- Núi Rùa và các bãi biển. Con đường nhựa sạch rộng rãi từ đây bắt đầu chạy qua những cồn cát trắng mịn màng. Không biết bao nhiêu năm tháng gió kiên trì và bền bỉ dồn cát lại thành những đồi, những động cao ngất đủ loại hình thù. Trên vùng cát trắng đến loá mắt kia, không hiểu bằng cách nào mà xương rồng sống được, kết thành những tầng, những luỹ, lại còn đơm hoa khi đến mùa tháng 6 chói chang này. <!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto--><!--coloro:#9932cc--><span style="color:#9932cc"><!--/coloro--><b>Ngọn núi của những di tích</b> <!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Tuý Vân sơn là một ngọn núi nhỏ gần cửa Tư Hiền nổi lên giữa một hòn đảo xanh, hùng vĩ, ngày xưa có tên gọi là Mỹ Am Sơn. Núi có dáng dấp đẹp, một lần Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) đi qua đây, thấy phong cảnh thơ mộng, hữu tình, bèn lập một ngôi chùa nhỏ làm nơi cầu phúc cho dân địa phương. Đến đời vua Minh Mạng trong dịp thăm lại ngôi chùa cổ hư hỏng nên cho xây dựng lại và đổi tên là chùa Tuý Ba. Năm vua Minh Mạng thứ 17 (1837) chùa được tùng tu và xây dựng thêm lầu. Đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) chùa được tiếp tục trùng tu và đổi tên chùa Tuý Vân. Vua Thiệu Trị liệt Tuý Vân vào thắng cảnh của đất thành kinh trong bài thơ "Vân Sơn thắng tích" và cho khắc bia đá dựng bên chùa. Các đời vua Thành Thái, Bảo Đại đều có trùng tu... qua bao năm tháng chiến tranh chùa, lầu gác hư hại nhiều và đến hiện nay, công tác bảo tồn vẫn đang được thực hiện. Trên đỉnh Tuý Vân, nổi lên có ngọn tháp ba tầng là Điêu Ngư tháp. Đứng ở tầng 2 và 3 ta có thể nhìn thấy hết toàn cảnh của huyện Phú Lộc. Giữa lưng chừng núi là Chùa Chính, dưới chân núi còn có ngôi Chùa Lớn làm chỗ ở cho chư tăng, trước và sau chùa có nhiều cây lá sum suê. <!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Đặc biệt, trên hàng trăm tầng cấp của chùa có nhiều cây thông cổ thụ sừng sững đang khoe những tán lá rợp bóng. Từ núi Tuý Vân về phía đông độ chừng 700m có núi Linh Thái còn gọi là Quy Sơn hay Núi Rùa. Một lần Chúa Nguyễn Phúc Tần dừng bước nơi đây, thấy ở đỉnh núi có ngôi chùa tháp Chàm được người dân địa phương cho biết rất linh, bèn cho dời ngôi tháp đi nơi khác rồi lập chùa thờ Phật với tên gọi Vĩnh Hoà. Qua thời gian, do chiến tranh và thiên tai đã làm chùa, tháp điêu tàn cả. Năm 1937, vua Minh Mạng cho dựng chùa Trấn Hải và lầu Vọng Hải nhưng rồi không có người coi sóc, chùa là lầu gác đều hư hỏng. Tuy bây giờ di tích không còn nữa nhưng Quy Sơn vẫn không mất đi vẻ đẹp vốn có, để muôn đời làm đối cảnh cho Tuý Vân... <!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto--><!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><b>Ngoạn mục biển đá Vinh Hiền</b> <!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /> <a href="http://www.hue.vnn.vn/dataimages/original/images22715_bien220804.jpg" target="_blank"><img src="http://www.hue.vnn.vn/dataimages/normal/images22715_bien220804.jpg" border="0" class="linked-image" /></a> <!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->Bãi biển đá Vinh Hiền<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Từ chân núi Tuý Vân sang bãi biển đá dưới chân Núi Rùa chỉ mất chừng 10 phút. Ở đây, các quần thể đá to nhỏ chồng xếp lên nhau tạo ra những hốc, những động thật kỳ thú. Cứ một lần dạt vào từng mảng sóng bạc đầu dội vào hốc đá vút lên cao mù mịt liên hồi. Tiếng sóng, gió biển hoà với tiếng reo của lá cây tạo nên một sự cộng hưởng của âm thanh hoang dã mà không có bất cứ một tiếng động nào chiếm lĩnh. Đó là cảm giác đầu tiên về biển đá Vinh Hiền. Tiếp đó, trên một dải cát hẹp của bờ biển, các quần thể đá hình như những con rùa là nơi tập trung nhiều loại vỏ hải sản được tấp vào bờ, tạo dáng như một hòn nam bộ. Phía trên của bãi biển gần hàng dương xanh có chừng 7 chủ nhân dựng lều nghĩ mát nhỏ nhắn, trông hết sức đơn sơ, hoang dã nhưng đó cũng là nơi tập trung nhiều hải sản thơm ngon. Du khách đến đây sẽ thích thú khi đi dạo quanh núi rừng và ven theo con đường ven biển rợp bóng dương, đọc sách, bơi, ăn đồ biển và ngủ... trên cát. Những người thích mạo hiểm hơn thì băng qua những tảng đá và phải "chịu trận" của từng đợt sóng để đứng trên tảng đá cao ngất ngưỡng giữa không gian bao la. Không tiếng ồn ã của động cơ, không có mùi khói xăng, cảnh rất đẹp và đồ ăn thì ngon tuyệt. Đó là lý do để Tuý Vân- Núi Rùa thu hút du khách. Cảnh trí kết hợp giữa núi, đầm và biển cả mênh mông, có chùa với lối kiến trúc cân đối, trang nhã, chan hoà với thiên nhiên thơ mộng, Tuý Vân xứng đáng là thắng cảnh danh tiếng mà người xưa đã ghi nhận. <!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->"Linh Thái, Tuý Vân hệ nhị quốc gia chi thắng cảnh" (Linh Thái, Tuý Vân đều là thắng cảnh của quốc gia). Đặc biệt nữa, Tuý Vân Núi Rùa và vùng phụ cận các xã thuộc khu 3 (Phú Lộc, Phú Vang) hội đủ các loại hình du lịch khác nhau như du lịch biển-đảo, du lịch núi-rừng, du lịch sông-hồ (đầm phá Tam Giang), du lịch văn hoá các di tích lịch sử, nổi lên là loại hình du lịch sinh thái đặc trưng. Song, đáng tiếc là vẫn còn ở dạng tiềm năng, chưa được khai thác. Các dịch vụ hàng hoá, nghỉ dưỡng cho khách lưu trú cũng chưa được đầu tư quảng bá để thu hút khách. <!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Ngoài đường bộ, du khách có thể về Tuý Vân, Núi Rùa bằng đường thủy để tận hưởng không gian thoáng mát của đầm phá và tìm hiểu cuộc sống của cư dân ở đây. <!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><br /><b><br /></b><br /><br /><b><!--coloro:#00ff00--><span style="color:#00ff00"><!--/coloro-->Người “mở đường” xứ cát<!--colorc--></span><!--/colorc--></b><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto--><b>Hơn 7 năm nay, cái tên “thầy Tỏa” đã không còn xa lạ với người dân xóm cát Mỹ Lợi (nay là xã Vinh Mỹ, huyện Phú lộc, Thừa Thiên- Huế). Họ nhắc đến ông trong mỗi bước đi, nghĩ về ông như là niềm hi vọng của học sinh nghèo hiếu học…</b><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Tuổi trẻ, cậu bé Tỏa là người hiếm hoi được học hành khi mà cái đói cứ chực chờ che mờ cái chữ trên mảnh đất Mỹ Lợi. Những buổi đến trường với đôi chân rát bỏng vì cát nóng, cậu học sinh nghèo luôn tự hỏi “phải làm gì để thay đổi quê hương?”<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto--><b>Xóa cảnh “đòn gánh đè vai”</b><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->“Quê tôi ở miền duyên hải, một vùng chỉ có gió và cát nên trên đường làng ngày ấy, cứ 5 bước tiến thì phải mất 1 bước lùi! Chúng tôi cứ mơ ước làm sao có được con đường đất cứng để đi cho thoải mái…”, dòng kí ức tràn về trong ông với ước mơ bình dị.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Đến khi trở thành thầy giáo, cùng học sinh đến lớp trên con đường cũ, thỉnh thoảng thấy các em chạy xuống mương nước ngâm chân cho đỡ nóng rồi mới đi tiếp, lòng thầy quặn thắt.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><img src="http://www2.vietbao.vn/images/vn75/giao-duc/75173317-162452_thay-toa.jpg" border="0" class="linked-image" /> <i>Thầy Tỏa và con đường bê tông ghi đậm dấu ấn mồ hôi, tình cảm của thầy</i> <!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Mấy chục năm sau, quê hương cũng chẳng có gì đổi khác… Con đường toàn cát trắng, xe cộ không đi được nên cái gì cũng đặt lên đôi quang gánh. Nhiều người vì miếng cơm manh áo, ngày ngày phải gánh gánh gồng gồng vượt 40 cây số đường cát nóng lên cửa Thuận buôn bán. Khổ nhất là khi có người ốm đau, sinh đẻ, trai tráng phải thay nhau gánh bộ gần hai cây số mới có xe đi bệnh viện…<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Năm 1999, chương trình bê tông hóa đường giao thông nông thôn theo phương án “Nhà nước và nhân dân cùng làm” (70% vốn nhà nước, 30% nhân dân đóng góp) được phát động. Hay tin, ông giáo Tỏa - khi đó đã 62 tuổi - mừng đến rơi nước mắt. Ông xin vào Ban vận động làm đường, cần mẫn đến từng nhà vận động người dân. Nhưng “cũng như mình, dân ở đây còn nghèo quá, sức người thì có chứ sức của thì được bao nhiêu…”.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Vậy là ông tìm cách liên lạc với những người đi làm ăn xa trong và ngoài nước, quyên góp được hơn 150 triệu đồng, huy động hàng ngàn ngày công lao động. Suốt thời gian thi công, ngày nào cũng thấy ông đội nón, xắn quần làm với bà con. Ông trở nên hốc hác, đen sạm nhưng nụ cười luôn rạng rỡ: “Để có con đường thì cực khổ mấy chúng tôi cũng chịu được”.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Đường qua nhà nào, ông vận động nhà đó chặt bỏ cây cối, hoa màu, giải phóng mặt bằng mà không phải đền bù. Mấy chục cây cau và vườn dừa nhà ông cũng hạ xuống để phục vụ cho “con đường mơ ước”.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Đến năm 2005, đường giao thông liên thôn dài hơn 3 km đã hoàn thành. Ông còn nảy ra sáng kiến vận động người dân tự túc thắp điện chiếu sáng dọc đường đi. Mới đầu, chỉ là những bóng đèn tròn mờ đục được mắc nối thủ công đầu ngõ vài nhà, dần dần đã thay thế bằng hệ thống đèn típ 1,2m chiếu sáng cả con đường trong những ngày lễ tết, ma chay…<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Từ đây, người dân nghèo Mỹ Lợi đã xóa được cảnh “đòn gánh đè vai” đeo đẳng nhiều thế hệ. Đi trên con đường mới, bà cụ Thảo (xóm Mỹ Long Đông, thôn 1, xã Vinh Mỹ) phấn khởi: “Trước đây, nhất là mùa hè, cát nóng bỏng chân mà mần chi cũng phải gồng gánh cuốc bộ chứ có được bon bon chạy xe như chừ mô!”.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Quả thật, chỉ mới hai năm kể từ khi đường làng được bê tông hóa, số xe máy trong xã từ chỗ chỉ đếm trên đầu ngón tay, giờ thì hầu như nhà nào cũng có. Kinh tế nơi đây cũng “bật dậy” dần theo con đường mới…<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto--><b>“Bụt sống” của học sinh nghèo</b><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Có được con đường bằng phẳng cho trẻ đi học, lòng người giáo già vẫn chưa yên. Bởi thầy biết chừng nào còn bị cái nghèo cái đói ám ảnh thì các em vẫn chưa thể an lòng đến được với cái chữ. Lương tâm người thầy lại thúc giục ông mở ra một “con đường mới” cho những học sinh nghèo hiếu học...<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><img src="http://www2.vietbao.vn/images/vn75/giao-duc/75173317-162453_thay-toa-1.jpg" border="0" class="linked-image" /> <i>Vợ chồng "bụt" Tỏa với căn nhà xộc xệch. Bởi tất cả tâm huyết thầy đã dành cho học trò nghèo nơi đây</i> <!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Năm 2004, biết tin em Lương Thị Minh (học sinh trường THPT Vinh Lộc, xã Vinh Mỹ) học rất giỏi nhưng phải nghỉ học vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông bàn với vợ lấy số tiền 1 triệu đồng tích cóp giúp đỡ em và động viên em đi học trở lại.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Thế nhưng, nếu chỉ dựa vào mảnh vườn và đồng lương hưu 280.000 đồng mỗi tháng, ông biết mình khó lòng giúp đỡ lâu dài cho những phận nghèo khát chữ nơi đây. Ông tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người học trò cũ nay đã thành đạt, lập nên quỹ khuyến học mang tên “Cựu học sinh Vinh Mỹ” mà người dân trong xã hay gọi là “học bổng thầy Tỏa”.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Từ đó, ngày ngày ông cọc cạch đạp xe khắp các trường học trong xã, dò hỏi hoàn cảnh học sinh nghèo vượt khó, tự tay trao từng học bổng đến các em. Mỗi suất học bổng đều từ 300.000 đồng trở lên bao gồm tiền mặt, xe đạp, áo quần… Có em, còn được nhận suất học bổng gần 2 triệu đồng.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Đó là trường hợp của em Nguyễn Thị Mãn, hiện là sinh viên năm 1 trường Đại học Nông lâm Huế. Mãn mồ côi cha mẹ từ lúc 3 tuổi, sống với người cậu ruột vốn rất nghèo. Cuối năm 12, không có tiền mua hồ sơ và nộp lệ phí thi đại học, Mãn phải vay tiền bạn bè trong lớp. Biết tin này, thầy Tỏa tức tốc đến và giúp đỡ em 400.000 đồng. Khi Mãn đã vào được giảng đường đại học, thầy Tỏa lại tiếp tục trao cho em 2 suất học bổng khác, lần gần nhất là 1.900.000 đồng.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Bốn năm nay, đã có khoảng 100 học sinh nghèo nhận được “học bổng thầy Tỏa”. Đến nay, tình trạng học sinh trong xã bỏ học giữa chừng vì hoàn cảnh khó khăn không còn nữa, và ngày càng nhiều những ước mơ vào đại học được chắp cánh từ chính những học bổng ấm áp tình người.<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Không chỉ học sinh mà hầu như người dân nào trên mảnh đất Mỹ Lợi cũng biết ơn thầy giáo Tỏa như “ông Bụt” của người nghèo. Tết năm 2007 vừa rồi, ông quyên góp được 32 triệu đồng mua gạo giúp bà con ăn Tết …<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:arial helvetica sans-serif--><span style="font-family:arial helvetica sans-serif"><!--/fonto-->Về hưu đã hơn 15 năm, vậy mà vào những ngày lễ, tết, 20.11… người ta vẫn thấy nhiều học sinh, tiểu học có, trung học có, tấp nập ra vào nhà ông Tỏa. Đó là những cô cậu học trò mà người thầy già xóm nghèo chưa một lần dạy dỗ, gọi ông tiếng “thầy” như một cách để tri ân.<!--fontc--></span><!--/fontc-->
chinh186
27-05-2012, 09:20 AM
<!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--> <b>Đôi điều về văn hóa Huế</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro-->Huế là nơi tôi đã sinh ra, lớn lên, đã yêu thương, đã sống một đời công dân và một cuộc đời riêng tư. Vậy Huế tuy không phải là nơi quê gốc của tôi nhưng tôi vẫn tự xem là Dân Cột Cờ. Tôi ngẫm lại thấy người Huế chưa hẳn là người gốc Huế và người gốc Huế chưa hẳn là người Huế. Nơi nào đã từng là kinh đô lại không là như thế, lại không có cư dân tứ xứ.<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><br />Theo tâm lý học của Biaget, tính cách của con người hình thành từ năm 1 đến 8 tuổi. Vậy thì, tôi nghĩ, con người lớn lên mang tính cách của môi trường. Và chánh quán thì không gây ảnh hưởng đến tính cách bằng sinh quán ở lý lịch con người. Con người sinh ở đâu, thì mặt mày giống cha mẹ, còn diện mạo tinh thần thì lại giống xứ sở nơi nó sinh ra. Sau đây là "diện mạo tinh thần" của những người sinh ra ở Huế.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><img src="http://www.quehuong.org.vn/nr050307131435/nr050307110202/nr050307152729/new_of_new_of_aodai.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><!--colorc--></span><!--/colorc--> <!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro-->1. <u>Hệ thiên nhiên Huế:</u> Hệ thiên nhiên Huế bao gồm phía Tây là núi Trường Sơn, một dải đất hẹp gọi là đồng bằng, ôm lấy một dòng sông đẹp; mặt phía Đông là biển và đầm phá. Gần gũi với chúng ta hơn, thiên nhiên Huế bao gồm hai yếu tố là Núi và Sông. Núi Ngự sông Hương, và bốn mùa khác nhau gồm Xuân Hạ Thu Đông: mùa Xuân còn kéo dài cái rét và ẩm ướt của mùa Đông năm trước; mùa Thu kéo dài cơn nóng của mùa Hè; mùa Xuân thơm lừng hương lạ của trăm loài hoa; mùa Thu còn rộn ràng màu sắc của cây cỏ. Thật quả là ít có thành phố nào thiên nhiên đã giữ một vai trò quan trọng như vậy trong ý thức môi trường của con người. Các vua Nguyễn đã biết đào sông đắp hồ, dựng nên một kinh thành dài đến 11km. Vua Minh Mạng biết che chở sân chim ở Hà Tiên, đã trồng thông ở núi Ngự Bình, đã xuống dụ và đề ra chính sách cho nông dân trồng mít ở đèo Hải Vân và ở kinh thành Huế v.v... Đấy toàn là ý thức môi trường cả.<br /><br />2. <u>Hệ vườn Huế</u>: Vườn Huế thể hiện đầy đủ tính đa khí hậu của thiên nhiên Huế. Từ ngoài vào trong, mỗi khu vườn ở vùng Kim Long, chúng ta đều có rừng - đồi - khuôn viên vườn - vườn cây ăn quả - sân trồng hoa - nhà. Nhà làm ở cuối sân, giữa vòm lá um tùm của cây ăn quả, nhờ thế, phù hợp với thiên nhiên bên ngoài.<br /><br />Ta thấy rằng vùng Kim Long đã từng là kinh đô trong 50 năm. Vườn Huế vốn đã có từ thời phủ Quốc mẫu, Quốc chúa như đã thấy trong sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết vào thế kỷ thứ 18. Sau này, kinh đô Huế dời xuống một quãng 5km dọc sông Hương đến chỗ hiện nay như đã thấy, vườn Huế để lại như một dấu ấn một vệt vườn từ vùng Kim Long đến lúc chạm bờ thành Đại Nội, và thành phố nó tạo nên gồm những công dân không ưa làm giàu bằng thương nghiệp mà chỉ thích nghi với nghề làm vườn, gọi là thành phố vườn.<br /><br />3. <u>Hệ ngũ sắc Huế</u>: Ta nhớ rằng Huế là nơi giáp ranh giữa hai nền văn hoá Đại Việt và Chăm Pa. Sống ở một biên giới như vậy nơi người Huế buộc phải phát huy hết sức mạnh của vốn văn hoá Việt để tiếp thu những yếu tố vượt trội của văn hoá Chăm Pa. Đám cưới Huyền Trân Công Chúa (1306) rốt cục là đám cưới hai nền văn hoá...<br /><br />Người Huế đã tổng hợp màu của Hệ Ngũ Sắc truyền thống Đỏ Xanh Vàng Trắng Đen với ảnh hưởng chàm thành Hệ Ngũ Sắc riêng của Huế là Đỏ Tím Vàng Lục Xanh. Từ năm màu cơ bản này, người Huế chọn năm màu đối tác thành một hệ màu sắc rất lạ: hoà thanh màu chỉ gồm toàn những cặp màu mâu thuẫn vừa toàn là những màu căn bản vừa là những màu đối tác. Hệ ngũ sắc của Huế nhờ thế rất chói lọi, lại vừa rất êm mắt. Gọi là hiệu quả trắng trong dĩa màu Huế. Thí dụ cặp màu điều lục vừa chói lọi vừa hoà màu; để tạo nên chiếc áo cô dâu ở Huế, vừa làm mảng màu hoa phương vĩ giữa tán lá màu xanh của nó, dù tương phản nhưng vẫn mát mắt với thành phố mùa hè.<br /><br />4. <u>Hệ ngũ âm Huế</u>: Cũng bởi sự trà trộn giữa hai nền văn hoá, chúng ta có hệ ngũ âm Huế, tương đương với hệ ngũ sắc Huế. Giáo sư Trần Văn Khê trong bản luận án tiến sĩ của ông đã nói rằng: "sau mấy thế kỷ giao lưu, nhạc Huế đã nhuốm mùi chàm". Ngày nay chúng ta biết được rằng chỉ có giọng Huế mới hát được nhạc Huế. Chắc điều đó chứng tỏ rằng âm nhạc Huế không thể thích dụng với hệ thống dân ca khác, như hệ mỹ học Huế, hệ chùa Huế, hệ món ăn Huế...<br /><br />Nhưng thôi, vì giới hạn được phép nói đến những hệ gây ấn tượng nhất. Và bây giờ, những hệ ấy vẫn được bảo tồn trong cách sống của người Huế như những yếu tố thầm kín của một nền văn hoá.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--coloro:#ffff00--><span style="color:#ffff00"><!--/coloro-->Tính cách Huế<!--colorc--></span><!--/colorc--> <br /><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Thiền sư Viên Thành, người sáng lập chùa Trà Am, có một bài thơ nói về thành phố quê hương của ông như sau:<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->"<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--><i>Vầng trăng núi Ngự, nước sông Hương<br />Chưa đi tới đó hận muôn đường<br />Khi đã tới rồi không lạ gì<br />Vầng trăng núi Ngự, nước sông Hương."</i><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Hiểu theo ngôn ngữ Thiền, bài thơ này hàm ý rằng nếu nhìn nó như một <i>cá thể</i> (đối chọi với những thành phố khác) thì Huế không có gì là lạ, và để nhận thức Huế, người ta cần nhìn thấy <i>cá tính</i> của nó.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--><a href="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images24466_chuathienmu060904.jpg" target="_blank"><img src="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images24466_chuathienmu060904.jpg" border="0" class="linked-image" /></a><!--colorc--></span><!--/colorc--> <!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Chùa Thiên Mụ- Huế<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Hiển nhiên trong đời sống tinh thần của người Việt, Huế đã là một trung tâm văn hoá có thực, với cộng đồng dân cư từ xưa không lớn lắm (khoảng trên dưới 10 vạn người) nhưng đã tạo ra một truyền thống văn hoá nghệ thuật riêng, một hệ thống các quan niệm nhân văn biểu hiện qua những tập quán ứng xử và thờ phụng riêng, cách nấu ăn, may mặc, giải trí, cách xây dựng nhà ở và đô thị riêng và người Huế có cả những khát vọng và những mê tín riêng. Từ đó, người ta thường nói đến một nghệ thuật sống mang bản sắc Huế hoặc nói cách khác, một <i><b>"tính cách Huế"</b></i>.<!--colorc--></span><!--/colorc--> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Những thế hệ di dân đầu tiên (đầu thế kỷ XIV) vào chiếm lĩnh Châu Hoá đều xuất phát từ Nghệ Tĩnh. Ðợt di dân thứ hai (cuối thế kỷ XVI) với Nguyễn Hoàng thì đại bộ phận là gốc Thanh Hoá. Thanh Nghệ Tĩnh là đất Việt cố cựu từ thời dựng nước, ở đó nhân dân vẫn bảo trì rất bền bỉ những giá trị văn hoá Việt cổ, tức là <i>văn hoá Mường</i>. Các di dân mang theo vốn liếng Việt cổ này làm chỗ dựa tinh thần trên đất mới, lưu giữ trong cộng đồng người Huế cho tới bây giờ. Vì thế dù đã là thị dân từ lâu đời, người Huế vẫn giữ nhiều tập quán cổ xưa có gốc từ văn hoá Mường, thí dụ tập quán ăn rau dại (người Kinh ở miền Bắc chỉ ăn rau trồng). Cũng từ cội rễ Thanh Nghệ Tĩnh,<i> văn hoá làng </i>vốn là yếu tố căn bản thiết lập nên tính cách Huế: dù cách xa Huế bao đời, người Huế vẫn gắn bó mật thiết với ngôi làng nơi tổ tiên họ đã sinh ra, sống bằng chất dinh dưỡng của văn hoá làng, thí dụ giai điệu nuôi dưỡng một đời người: từ bài hát ru lúc chào đời đến điệu hò vĩnh biệt lúc nhắm mắt, tất cả đều là tiếng hát của những ngôi làng. Có thể nói từ bản chất, người Huế là một nhà thơ đồng nội hơn là một cư dân đô thị. Có lẽ vì thế người Huế thích làm vườn hơn doanh nghiệp, (dù rằng lúc rời khỏi Huế, họ sẵn sàng trở thành những nhà kinh doanh đầy tài năng).<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--><a href="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images10866_aodai.jpg" target="_blank"><img src="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images10866_aodai.jpg" border="0" class="linked-image" /></a><!--colorc--></span><!--/colorc--> <!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Áo dài Huế<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Từ nhiều thế kỷ, Châu Hoá đã là địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hoá Việt- Chàm. Từ năm 1306, sau đám cưới của công chúa Huyền Trân thời nhà Trần, người Việt tiến sâu vào lãnh thổ <i>văn hoá Chăm Pa</i>. Ðây là một tình hình đặc biệt về tinh thần của cộng đồng người Việt ở Châu Hoá. Khi họ ngoảnh mặt về phương Nam để tiếp cận với nền văn hoá hải đảo Nam á, mà trung tâm là ấn Ðộ, chính sự giao thoa Việt- Chàm trong thời kỳ này (thời kỳ<i> Thành Châu Hoá</i>) đã tổng hợp nên những đặc trưng mới trong lối sống của cộng đồng người Việt gọi là <i>bản sắc Huế</i>. Chúng ta đã tiếp nhận từ vốn sống hùng hậu của văn hoá Nam á nhiều yếu tố mới mà trung tâm Thăng Long trước đó chưa biết đến, thí dụ như cách tạ thuỷ tránh việc đắp đê dọc các dòng sông, cách trồng giống lúa Chiêm, cách trị bệnh bằng các cây thuốc phương Nam, sự thờ cúng cá voi và các vị nữ thần phương Nam cùng với các lễ hội kèm theo, kể cả khẩu vị thích ăn cay của người Huế... ở đây chỉ xin nêu dẫn hai biểu hiện lớn của bản sắc Huế là âm nhạc và mỹ thuật.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--><a href="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images11140_mualarung.jpg" target="_blank"><img src="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images11140_mualarung.jpg" border="0" class="linked-image" /></a><!--colorc--></span><!--/colorc--> <!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Huế càng dịu dàng khi thu về<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Ai cũng biết ảnh hưởng của Chàm rất sâu thẳm trong một bộ phận gọi là <i>giọng Nam </i>trong nhạc Huế, như nét mềm mại với tiết tấu buông lơi của các <i>điệu lý</i>, chất trữ tình trong các điệu hò lao động- và điệu hò mái đẩy Huế thì giống điệu hò chèo thuyền của các hải đảo Nam Thái Bình Dương. Về điều này, giáo sư Trần văn Khê đã kết luận rằng "sau nhiều thế kỷ giao lưu, nhạc Việt đã nhuốm màu Chàm". Chính do tính nội tâm đó, nhạc Huế không thích được trình diễn trước đám đông hoặc hát dưới ánh mặt trời- nhạc Huế cần không gian thân mật và bóng đêm, là nỗi lòng để trở thành tài sản riêng của tâm hồn gửi đén người tri âm, tức là người hiểu được mình. Ðó là tính cách Huế trong âm nhạc.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Về mỹ thuật, cố hoạ sĩ Phạm Ðăng Trí đã xác lập hệ ngũ sắc dân gian riêng của Huế, gồm 5 màu Ðỏ- Vàng- Tím- Lục- Xanh: khác với hệ ngũ sắc chính thống của phương Ðông là Ðỏ- Vàng- Xanh- Trắng- Ðen; trong đó <i>màu tím</i> là trung gian giữa màu nóng và màu lạnh- và từng cặp màu tương phản có khả năng tạo ra ấn tượng làm dịu mắt gọi là <i>hiệu quả trắng</i> (effect blanche). <i>Màu- tím- Huế </i>như người ta thường gọi- không gây cảm xúc buồn, mà là một niềm vui trong sáng và thầm kín, là màu áo của các nữ sinh Ðồng Khánh xưa, và chỉ xin lưu ý rằng đây cũng là màu áo ưa thích của những phụ nữ Chàm ngày nay vẫn còn thông dụng. Nhiều người tưởng nhầm tâm hồn Huế là buồn, thực ra đấy là những cảm xúc được gạn lọc và không thích bộc lộ để thực hiện ly tưởng thăng bằng của nội tâm.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--> <a href="http://hue.vietnamnet.vn/dataimages/original/images115905_chuahongan.jpg" target="_blank"><img src="http://hue.vietnamnet.vn/dataimages/original/images115905_chuahongan.jpg" border="0" class="linked-image" /></a> <!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Chùa Hồng Ân ở Huế<!--sizec--></span><!--/sizec--><br />Phật giáo vốn đã tồn tại lâu đời trong cuộc sống tinh thần của người Việt, được các Chúa Nguyễn sử dụng như một quốc sách về văn hoá từ đầu thế kỷ XVII, đã là một nhân tố quan trọng của văn hoá Huế, di sản và con người.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Tình yêu thiên nhiên là một tình cảm lớn trong tâm hồn Huế, đến nỗi nó mang màu sắc của một triết học chi phối toàn bộ cuộc sống tinh thần của người Huế. Sự hoà hợp giữa thiên nhiên và con người là nguyên lý căn bản trong tư duy kiến trúc Huế, từ tổng thể đô thị cho đến tận chỗ ở của mỗi gia đình bình thường. ý niệm "vườn" là nhất quán trong mọi loại hình kiến trúc Huế và người ta có thể nói đến <i>chùa- vườn, nhà- vườn, lăng- vườn</i>, và Huế là một <i>thành- phố- vườn</i>. Vườn Huế hoàn toàn không nhằm mục đích kinh tế, mà là nơi con người được sống với cây cỏ trong một tình bạn lớn qua đó, con người có thể từ ngôi nhà nhỏ của mình bước vào ngôi nhà lớn của vũ trụ. Người ta dễ dàng nhận ra ảnh hưởng của Triết học Phật giáo trong mô hình vườn Huế.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--><a href="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images10842_thieunuacamhoa.jpg" target="_blank"><img src="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images10842_thieunuacamhoa.jpg" border="0" class="linked-image" /></a><!--colorc--></span><!--/colorc--> <!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Thiếu nữ Huế<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Người Huế có một quan niệm mỹ học riêng, khác với truyền thống sẵn có ở miền Bắc. Thử xem xét điều này trên hình mẫu của vẻ đẹp thiếu nữ: trên các tranh tố nữ làng Hồ, vẻ đẹp lý tưởng của khuôn mặt thiếu nữ biểu hiện sự đối xứng giữa hai bên tả hữu với đường ngôi rẽ giữa, đôi mày cong, sống mũi thẳng, đôi môi hình trái tim, và mái tóc được giữ yên giữa đôi vai. ở các thiếu nữ Huế, đường ngôi rẽ lệch về bên phải, mái tóc thề lay động theo bước đi, và tà áo bay theo gió, qua đó người ta cảm nhận một cái đẹp mà trong tổng thể của nó, sự đối xứng không còn được tôn trọng. Mỹ học Huế tìm cách phá vỡ đối xứng để tạo ra một sự hài hoà riêng cho từng cá thể, ý niệm này được thể hiện ngay trên những công trình kiến trúc hoành tráng, thí dụ khác với Lăng Minh Mạng (mô hình lý tưởng của nguyên tắc đối xứng), Lăng Tự Ðức xoá bỏ đối xứng để cho từng bộ phận của cảnh quan xuất hiện bất ngờ dưới mắt người xem. Chúng ta biết rằng vẻ đẹp đối xứng bao hàm sức mạnh của lý trí, trong khi vẻ đẹp không đối xứng được khám phá bằng trực giác và đây cũng chính là nguyên lý của mỹ học Thiền. Người Huế cảm nhận sự vật bằng trực giác hơn bằng lý tính, tâm hồn Huế thì thơ hơn là thực, và vì thế tính cách Huế là Thiền hơn là Nho. Nói thế, không có nghĩa là con người hành động bị loại trừ khỏi tính cách Huế. Dĩ nhiên thôi, vì Huế đã là sân khấu chính trị lịch sử trong nhiều thế kỷ, do đó cũng chính là mảnh đất nuôi dưỡng triết học hành động ở một danh tướng như Nguyễn Tri Phương, ở một thi sĩ như Tố Hữu, và cả ở những thiền sư lãnh đạo phong trào Phật tử lật đổ chế độ Diệm năm 1963. ở người Huế, con người hành động luôn luôn dấn thân rất quyết liệt trong những hoàn cảnh thúc bách của lịch sử, nhưng sau đó họ lại quay về sống với tự do nội tâm của mình. Ðiển hình là nguyên soái Hiệp Ðức, vị tướng Nguyễn đã chiến thắng và kết thúc cuộc chiến Trịnh- Nguyễn vào năm 1672, sau đó từ chối ngôi chúa, giã từ vũ khí để về sống trong một ngôi chùa. Xu hướng tâm linh là một dòng chảy tiềm ẩn nhưng sâu bền trong tính cách Huế.<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Cũng trên những nét chung ấy của tính cách, trong quan hệ với "người" khác, người Huế lấy "cái tâm" làm gốc. Cái tâm bao gồm tình thương, sự nhường nhịn, lòng bao dung để bỏ qua thù hận, sự điềm tĩnh để không cuồng tín... Cái tâm có sức chứa đựng tất cả, nhưng tóm tắt lại là tấm lòng tốt muốn đem tâm hồn mình làm quà tặng, mà người Huế nói là <i>"của ít lòng nhiều"</i>. Theo phong tục Huế, trong đêm tân hôn cô dâu và chú rể làm lễ "cúng tơ hồng" lễ vật chỉ có khoai lang, muối và gừng. Ðó là lời nguyện lấy cái tâm để sống với nhau suốt một đời; nên lưu ý thêm rằng tình trạng ly hôn có tỷ lệ rất nhỏ trong cộng đồng người Huế. Cái tâm hoặc gọi là "tấm lòng" chỉ để sống với người khác, chỉ để cho mà không cần "nhận" lại chút gì cả, như trong một bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--><i>"Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi!"</i><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--><a href="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images10950_hue24_b.jpg" target="_blank"> <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/unsure.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":unsure:" border="0" alt="unsure.gif" /> <img src="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images10950_hue24_b.jpg" border="0" class="linked-image" /></a><!--colorc--></span><!--/colorc--> <!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Chùa Huế mang những phong cách rất riêng<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Trên đây là sự phác thảo về một vài quan niệm sống đã làm nên "tính cách Huế". Do <i>hoàn cảnh lịch sử và địa lý</i> đặc biệt, Huế đã là một trung tâm văn hoá quốc gia lớn nhất, đồng thời cũng bị hạn chế về giao lưu với bên ngoài suốt nhiều thế kỷ, do đó, giống như tình hình nước Nhật và người Nhật dưới thời Minh Trị, cộng đồng người Huế quay lại củng cố những quan niệm và lối sống của mình trong sự cố gắng nâng cao vốn liếng dân tộc của mình lên chuẩn mức của cái Ðẹp. Thí dụ: người Huế rất sành ăn và kiên định trên lập trường ăn uống của mình. Trên mọi lĩnh vực, tính cách Huế thích sống văn hoá hơn là hưởng thụ vật chất, thích sống đẹp hơn là sống giàu có, từ đó người ta thường nói đến "Huế thanh lịch".<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro--><a href="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images10954_chathue.jpg" target="_blank"><img src="http://netcodo.com.vn/dataimages/original/images10954_chathue.jpg" border="0" class="linked-image" /></a><!--colorc--></span><!--/colorc--> <!--sizeo:1--><span style="font-size:8pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Chất Huế<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /> <!--coloro:#ff00ff--><span style="color:#ff00ff"><!--/coloro-->Xin lỗi, hình như là tôi đã nói hơi nhiều về những gì tốt đẹp trong tính cách Huế. Có lẽ vì tôi là người Huế, và khác với người Anh vốn thường thích cho nước mình đo ván, người Huế giống với người Pháp ở chỗ thích nói những điều tốt đẹp về xứ sở của mình. Thực ra, mọi tính tốt đều kèm theo mặt xấu của nó, thí dụ sự chăm chú vào nội tâm thường làm yếu khả năng đấu tranh cho tiến bộ xã hội về mặt khác, còn những thói xấu khác của người đời thì ở đâu cũng có, người Huế cũng vậy thôi, thí dụ tính thích làm quan hoặc bệnh sợ vợ ở nhiều người đàn ông. Nhưng khó chữa nhất trong tính cách Huế, theo tôi, lại là căn bệnh phát sinh từ chính sức mạnh của nó, đó là <i>tính bảo thủ về văn hoá</i>. Người Huế rất khó chấp nhận những thử nghiệm đổi mới trong lối sống và cả trong ý thức văn hoá của mình. Ngay từ thế kỷ XVI cái nhìn tinh tế của Tiến sĩ Dương văn An về cộng đồng người Huế ở đô thị thành Châu Hoá đã nhận ra rằng "<i>thói cũ giữ lâu ngày, cái mới còn quá ít"</i>. Có lẽ vì thế những thế hệ người Huế tuồng như được sinh ra để trung thành với một sứ mệnh cao quý được uỷ thác là bảo vệ di sản văn hoá trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình.<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->
vimexco
27-05-2012, 09:20 AM
Rất cảm ơn Touristguide2008. về những thông tin ở trên.<br />Bạn nói rất đúng về " Tính Bảo tHỦ Của Người Huế"<br />luôn cho mình là đúng va khó chấp nhận khi có ai đó nói minh sai - cho du sau khi nghe giải thích thì biết rỏ là mình đã sai nhung vẫn cố chấp không nhận la mình sai mà vẫn cố cải ...<br /><br />Rất mong đuợc đọc thêm nhiều bài nữa của bạn<br /><br />( vui lòng cho font chử lớn lên chut, đọc đau mắt quá . hihihihi)
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.