View Full Version : VĂN HÓA NGƯỜI HOA TẠI NAM BỘ
tritinqn
27-05-2012, 09:20 AM
<div align='center'><b>Xứ Hoa, Người Hoa </b><br /><b>Trên đại vùng văn hóa Nam Bộ</b> </div><br />Từ thế kỷ 16-17, người Việt từ các xứ Thanh Nghệ Huế Quảng đã lần lượt đến sinh sống ở miền đất Nam Bộ. Không lâu sau đó, ở các thế kỷ 18-19 họ đã trở thành thành phần chủ thể trong cộng đồng cư dân miền này ; họ đã cùng các tộc người tại chỗ lúc ấy (Stieng, Mạ, Khmer...) và những nhóm người mới nhập cư (Hoa, Chăm, Ấn...) khai phá miền châu thổ Đồng Nai và Cửu Long hoang vu thành một miền kinh tế trù phú. <br />Sớm cảm nhận được đặc điểm của thiên nhiên Nam Bộ, người Việt đã lập nên những vùng quần cư dưới những tên gọi dân gian gợi cảm, vừa rất thân quen vừa rất hiện thực. Đó là những miệt giồng, miệt vườn, miệt cù lao, miệt kênh, miệt thứ, miệt U Minh, miệt dưới, miệt trên..., mỗi miệt đều có những đặc điểm địa hình kinh tế - dân cư riêng. <br />Những miệt vừa kể trên thuộc về hai vùng địa hình dân cư lớn : vùng phù sa cổ châu thổ sông Đồng Nai và vùng đồng bằng mới châu thổ sông Cửu Long, nơi đó một sắc dân đa số là người Việt và hai sắc dân thiểu số là người Hoa và người Khmer đã sinh sống hòa thuận và hữu nghị bên nhau trong nhiều thế kỷ để có được nhiều đóng góp tốt đẹp vào nền văn hóa văn minh Việt Nam đa sắc tộc.<br />rong những năm gần đây, một số công trình tổng hợp xuất sắc của học giả Việt và Hoa, cá nhân hay tập thể, trong nước hay ngoài nước đã giúp chúng ta hiểu biết khá đầy đủ về người Hoa, đáng kể nhất là Người Hoa tại Việt Nam (Nguyễn Văn Huy, Paris, 1993), Tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt-Hoa trong lịch sử (Phạm Đức Dương, Châu Thị Hải chủ biên, Hà Nội, 1998), Người Hoa ở Nam Bộ (Phan An, Sài Gòn, 2005). <br />Người Hoa với số dân hiện nay là khoảng trên dưới một triệu người, sống rải rác ở nhiều tỉnh thành từ Bắc tới Nam, và tập trung đông nhất là ở các quận 5, 6 và 11, Sài Gòn), với khoảng hơn nửa triệu người gồm các nhóm địa phương gọi theo địa danh quê hương xưa : Quảng Đông, Triều Châu (Tiều), Hải Nàm, Phúc Kiến, Hạ Phương (Hẹ). Mỗi nhóm kết lại với nhau thành bang, mỗi bang có trường học, bệnh viện, ngân hàng, chùa miếu, nghĩa trang... riêng. <br />Người Hoa rất cần mẫn, siêng năng, làm nhiều nghề. Làm ruộng thì ít nhưng sở trường của họ là thủ công, mỹ nghệ, công nghiệp nhẹ và nặng, nhất là buôn bán từ nhỏ tới lớn và dịch vụ từ trong nước tới quốc tế. Tùy theo tài sản nhỏ hay lớn, xã hội người Hoa phân ra thành nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau nhưng rất quí trọng nhau, do tính cộng đồng dân tộc và địa phương cũng như tinh thần tương thân tương trợ giữa họ rất mạnh, đáng là mẫu mực cho nhiều sắc dân khác. <br />Ngôn ngữ người Hoa thuộc ngữ hệ Hán-Tạng nhưng chia ra thành nhiều phương ngữ, thổ ngữ, trong đó tiếng Quảng Đông là phổ biến nhất. <br />Người Hoa theo Phật giáo đại thừa, Khổng giáo và Lão giáo nhưng về thực chất có lẽ khó có thể nói tính cách của họ thiên về tôn giáo, tín ngưỡng. Vào nhà người Hoa thấy ngay rất nhiều bàn thờ, trang thờ ngoài sân, trong nhà, trên cao, dưới đất. Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, gia đình người Hoa thờ rất nhiều vị thần bảo trợ, từ Ngọc Hoàng tới ông Địa. Người Hoa cũng rất gắn bó với thần Tài, ông Bổn, đức Quan Âm, bà Thiên Hậu và nhiều nữa. <br />Nhưng người ta vẫn có cảm tưởng rằng họ là một sắc tộc rất thực tiễn và thực dụng : họ tha thiết muốn các mối quan hệ với mọi người cũng như với chư thần đều hữu hảo để dễ bề làm ăn sinh sống.<br /><b>Đám cưới người Hoa, một biểu hiện thuần phong mỹ tục độc đáo</b><br />Là một sắc tộc chịu ảnh hưởng lâu đời của Khổng giáo, người Hoa rất trọng lễ nghĩa, thể hiện qua tam thư, lục lễ (lập ba văn bản, cử hành sáu nghi lễ) nhất thiết phải có trong mỗi cuộc hôn nhân truyền thống. <br />Đầu tiên là lễ vấn danh: nhà trai xuất trình một tờ giấy đỏ (hồng điều) ghi rõ tên tuổi, ngày giờ, năm tháng, nơi sinh của cô dâu, chú rể cho hai bên tường tận. Liền sau đó là lễ nhận bốc: đại diện cả hai gia đình mang tấm giấy đỏ ấy lên chùa đặt trên bàn thờ cùng với hoa quả dâng cúng để thỉnh ý bồ tát xem hai trẻ có hợp duyên hay không. Tiếp theo là lễ hòa đồng: nhà trai đem trầu cau, bánh trái sang nhà gái, kèm theo một loan thiệp viết trên giấy đỏ ; nhà gái nhận lễ và trả lời ngay bằng một phụng thư, cũng trên giấy đỏ, nội dung hai văn bản đều nói thuận tình cho đôi trẻ thành thân. <br />Sau đó là lễ gặp mặt để thỏa thuận về sính lễ : ít nhất có hai bàn tiệc để hai họ vui vẻ thỏa thuận về tiền bạc, nữ trang, tơ lụa, thực đơn đám cưới (yến sào, vi cá, bào ngư...). Hai món heo quay và bánh ngọt do nhà trai mang tới sẽ được đem chia ngay cho bà con hai họ để báo tin vui. Các điều khoản sính lễ này cũng ghi vào tờ giấy hồng điều. Tiếp đó là lễ văn định: nó quan trọng vì có tấm thiệp ghi rõ tên tuổi cô dâu chú rể, ngày giờ, nơi chốn cử hành hôn lễ, kèm theo lời chúc lành. Tấm thiệp hồng này cũng được để trên bàn thờ tổ tiên hai họ. Rồi đến lễ cưới: tờ hôn thư (chưa phải là giấy hôn thú) được thành lập với các chữ ký đôi bên cha mẹ, cô dâu chú rể và những người chứng hôn. <br />Sáu nghi lễ trên gọi là lục lễ và có thể kéo dài trong nhiều ngày. Còn tờ vấn danh, tờ văn định và tờ hôn thư được gọi là tam thư. <br />Đến ngày cưới, buổi sáng xe hoa tới nhà gái. Thường cha mẹ không đi, chú bác đi thay cùng với anh chị em họ nhà trai. Đến nơi, cô dâu nhờ anh em trai hay chị em gái ra xe đón chú rể. Nhưng tới ngưỡng cửa thì bên nhà gái bắt đầu cản trở ; chú rể phải chuẩn bị rất nhiều phong bao<br />đỏ đựng tiền lì xì mới lọt được vô nhà để làm lễ trước bàn thờ tổ tiên nhà gái. <br />Rước dâu ra khỏi nhà, cả đoàn đám cưới phải đi lòng vòng dạo phố cho thiên hạ biết. Về tới nhà trai đã 5-6 giờ chiều. Cha mẹ, hay bác của chú rể lấy một bó đũa gõ nhẹ lên đầu đôi trẻ tượng trưng cho sự gắn bó sắt son. Sau đó đôi trẻ lạy Trời Phật, tổ tiên, cha mẹ, vợ chồng lạy nhau rồi mời trà và tiếp tục lạy chú bác, anh chị, bạn bè.<br /><b>Chùa miếu đền người Hoa và những lễ hội tưng bừng náo nhiệt</b><br />àng trăm ngôi chùa đền miếu lớn nhỏ của người Hoa có mặt ở nhiều tỉnh thành của đất nước. Tại Sài Gòn Chợ Lớn, hiện nay có hơn 20 nơi thờ phượïng công cộng do các bang người Hoa bỏ tiền ra xây. <br />Có hai nơi được nhắc tới nhiều nhất: <br />- Điện Ngọc Hoàng (phường Đa Kao, quận 1) là cơ sở tín ngưỡng lớn và cổ xưa nhất của người Hoa ở Sài Gòn, với ngày đại lễ mồng 9 tháng Giêng và bốn ngày vía lớn : rằm tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Mười và mồng 6 tháng 11 âm lịch, thu hút hàng vạn tín đồ người Hoa lẫn người Việt. Do giá trị kiến trúc độc đáo của điện thờ và giá trị thẩm mỹ của các pho tượng, Điện Ngọc Hoàng đã được thừa nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1994. <br />Di tích thứ nhì được đánh giá cao là Miếu Bà Thiên Hậu, còn gọi là Tuệ Thành Hội Quán xây năm 1760 tại Chợ Lớn, với hai ngày hội lớn (lễ viếng Bà, cúng Bà) được tổ chức long trọng vào 23 tháng Ba và 28 tháng Chạp giáp Tết để cầu mong "hộ quốc an dân". Là ngôi miếu cổ kính nhất thờ bà Thiên Hậu, cũng là nơi lưu giữ nhiều tác phẩm mỹ thuật mỹ nghệ, Miếu Bà cũng được công nhận là di tích văn hóa nghệ thuật cấp quốc gia năm 1993. Đây có lẽ là nơi thu hút đông đảo nhất tín đồ người Hoa và khách hành hương của Sài Gòn, Chợ Lớn và phụ cận. <br />Hàng ngày Miếu Bà vẫn đón nhận một số khá đông người đến cúng lễ, đông nhất là vào các ngày mồng một và rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của người Hoa như Tết Nguyên tiêu, Thanh minh, Đoan ngọ... Riêng hai ngày vía Bà, cúng Bà tháng Ba và tháng Chạp có thể thu hút đến hàng vạn người. Vào những ngày này, ngay từ đêm hôm trước của lễ hội đã cử hành lễ tắm Bà, sau đó là lễ thay áo cho Bà. Sáng 23 tháng Ba tổ chức lễ rước Bà. Tượng Bà được đặt vào kiệu do các thanh niên nam nữ người Hoa ăn mặc thật đẹp rước Bà đi qua các đường phố quanh miếu. Theo sau kiệu Bà có thuyền rồng, rồi đến các đội múa lân, múa sư tử, múa rồng, các đội nhạc truyền thống của người Hoa vừa đi vừa múa hát tạo nên một quang cảnh vô cùng náo nhiệt quanh miếu từ sáng tới tối.<br /><b>Giao lưu tiếp biến văn hóa Hoa-Việt : từ hát quảng, hát tiều tới cải lương hồ quảng</b><br />Sinh hoạt văn hóa truyền thống và dân gian của người Hoa gồm nhiều thể loại như đàn hát, múa và kịch hát. Loại hình nghệ thuật quần chúng được ưa thích nhất trong các lễ hội là múa lân, múa rồng, múa sư tử. <br />Ba loại hình văn nghệ thu hút đông đảo người tham dự là hát sán cố và hát quảng, hát tiều. <br />Người Hoa ham thích nghệ thuật sân khấu hát quảng, hát tiều như người Việt miền Trung, miền Nam mến mộ hát bội, cải lương. Tổ tiên người Hoa đã sáng tạo tại chính quốc ba dòng sân khấu chính là kinh kịch (dùng tiếng Quan Thoại, phổ biến chủ yếu ở miền Bắc Trung Quốc), việt kịch (dùng tiếng Quảng Đông, phổ biến ở miền Nam Trung Quốc) và triều kịch (dùng tiếng Tiều, phổ biến ở vùng Triều Châu). Tại miền Nam Việt Nam, đa số người Hoa có gốc Quảng Đông và Triều Châu nên không thích xem kinh kịch vì không hiểu được tiếng Quan Thoại, tất nhiên họ ưa thích hát quảng và hát tiều là hậu thân của việt kịch và triều kịch. <br />Hát quảng đã ra đời tại Chợ Lớn từ đầu thế kỷ 20 do những đoàn việt kịch nhỏ lưu diễn từ các tỉnh duyên hải Đông-Nam Trung Quốc đi dần xuống phía Nam bằng thuyền để biểu diễn. Những đoàn việt kịch này huấn luyện cho nghệ nhân tài tử người Hoa và giúp họ tạo ra một loại hình sân khấu địa phương ở Chợ Lớn, gọi là hát quảng. <br />Hát tiều cũng xuất hiện tại Nam Bộ những năm đầu thế kỷ 20 do những đoàn triều kịch lưu diễn từ các tỉnh Nam Trung Quốc rồi vào Chợ Lớn và đi khắp đồng bằng Nam Bộ. Biểu diễn đến đâu họ cũng huấn luyện cho nghệ nhân tài tử người Hoa để có được sân khấu hát tiều. <br />Người Hoa Chợ Lớn và người Việt Sài Gòn và Nam Bộ thuộc các thế hệ lớn tuổi chắc còn nhớ các vở tuồng việt kịch và triều kịch nổi tiếng như Ngũ Hổ tướng, Kinh Kha tráng sĩ, Đêm cướp ở Long Hoa, v.v. Người Hoa và người Việt đều thích hát quảng và hát tiều với các vai kép văn, võ, tướng, lão, hề, các vai đào thương, lẳng, độc, mụ. Qua đó ta thấy hát tuồng, hát bội của người Việt đã chịu ảnh hưởng của sân khấu Trung Quốc tự lâu đời. Các nhà nghiên cứu Đỗ Văn Rỡ, Đinh Bằng Phi đã có những công trình nghiên cứu công phu về hát bội và cải lương Nam Bộ và sân khấu hát tiều, hát quảng ở Sài Gòn (Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 3, 1990) qua đó ta thấy rõ một hiện tượng giao lưu tiếp biến văn hóa sân khấu Hoa-Việt tốt đẹp : do tiếp xúc với hát quảng, hát tiều từ đầu thế kỷ 20 mà các soạn giả và nghệ nhân hát bội và cải lương Nam Bộ đã tạo ra một loại hình sân khấu mới mà người Việt cũng như người Hoa đều yêu thích, đó là cải lương hồ quảng đã thu hút vô số khán giả Việt và Hoa từ hơn nửa thế kỷ nay. <br /><br />nguồn: sưu tầm
phongthoa
27-05-2012, 09:20 AM
Hì hì... tìm được chỗ viết thích hợp rồi <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/laugh.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":lol:" border="0" alt="laugh.gif" /> tuy bài viết có thể chưa đuợc đầy đủ và hoàn chỉnh cho lắm. Bài em làm để thi Hk (Đã nộp nhưng chưa có kết quả)<img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/tongue.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":P" border="0" alt="tongue.gif" /> . Ở đây, em dã lược bỏ một số mục ko cần thiết so với bản gốc ^__^<br /><br /><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><div align='center'><b>PHƯỚC HẢI TỰ<br />(ĐIỆN NGỌC HOÀNG)</b></div><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><b>I. TỔNG QUAN VỀ PHƯỚC HẢI TỰ:</b><br />Có những ngôi chùa tiêu biểu của phong cách kiến trúc Phật giáo cổ truyền, cũng có những chùa xây dựng theo phong cách hiện đại pha lẫn nét truyền thống. Mỗi ngôi chùa mang một phong cách riêng, tạo thành những điểm nhấn trong một thành phố trẻ, hiện đại. Ta có thể điểm qua vài ngôi chùa nổi tiếng ở Tp.HCM hiện nay như chùa Vĩnh Nghiêm, Phước Hải Tự (chùa Ngọc Hoàng), chùa Giác Lâm,...<br />Phước Hải Tự là một trong ba ngôi chùa lớn do người Hoa xây dựng tại Tp.HCM. bên cạnh chùa Giác Lâm và chùa Giác Viên.<br /><br /><i>Địa chỉ: 73 Mai Thị Lựu, P.Đa Kao, Q.1, Tp.HCM (xưa là đường Phạm Đăng Hưng).<br />Đt: 8203102.<br />Giờ mở cửa: <br />_ Ngày thường: 7 - 18g.<br />_ Mồng 1 và rằm: 5 - 19g.</i><br /><br /><div align='center'><img src="http://farm4.static.flickr.com/3124/2589136783_834b12b447.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><br /><br />Chùa Ngọc Hoàng có nhiều tên gọi: người Hoa gọi là Ngọc Hoàng Điện, người Việt gọi là chùa Ngọc Hoàng, người Pháp gọi là chùa Đa Kao (La pagode deuteronomy I'Empereur de Jade à Dakao). Nhưng đối với đa số người Việt và người Hoa hiện nay thì nói chùa Ngọc Hoàng may ra họ mới hiểu; và trong các tập hướng dẫn du lịch cho khách nước ngoài, chữ "Jad Pagoda" được in rõ ràng để khách dễ hiểu và nhận ra.<br />Chùa Ngọc Hoàng đã qua nhiều đời trụ trì. Đầu tiên là Thiền sư Thích Huệ An, tiếp theo là Thiền sư Thích Tự Quảng, Hoà thượng Thích Vĩnh Khương và hiện nay là Đại đức Thích Minh Thông.<br />Từ năm 1981, chùa Ngọc Hoàng gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam với tên mới là Phước Hải Tự.<br /><br /><b>II. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHÙA:</b><br />Trước đây, Trương Đạo Tân và Lưu Đạo Nguyên từ Quảng Đông, Trung Quốc đến Việt Nam để truyền đạo Minh Sư. Trương Đạo Tân hành đạo tại Hội An, Quảng Nam; còn Lưu Đạo Nguyên vào Sài Gòn xây Điện Ngọc Hoàng. Năm 1896, Điện Ngọc Hoàng khởi công xây dựng. Đến năm 1906 thì hoàn tất. Có sách nói rằng: "Lưu Minh ăn chay ròng, giữ đạo Minh Sư, lập chí quyết lật đổ nhà Thanh, xuất tiền tạo lập chùa vừa để thờ phượng vừa để làm nơi hội kín". Từ ngày xây dựng đến nay, chùa đã trùng tu 4 lần vào các năm: 1943, 1958, 1985, 1986. Kiến trúc chùa theo đó cũng đã thay đổi ít nhiều so với ban đầu.<br />Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi này là cơ sở hoạt động cách mạng do hòa thượng Thích Vĩnh Khương nuôi giấu cán bộ và đồng thời cũng là nơi ém quân của quân ta ngoài chùa Phước Ân ở quận Bình Thạnh cũng do hòa thượng lập ra để tránh con mắt dòm ngó của địch.<br /><br /><b>III. ĐƯỜNG NÉT KIẾN TRÚC:</b><br />Phong cách xây dựng chùa của người Hoa rất độc đáo. Họ thường dùng màu đỏ hoặc hồng trong trang trí. Vì người Hoa quan niệm màu này tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ, là biểu tượng của may mắn và niểm tin của con người. Bố cục chùa người Hoa thường theo dạng chữ "Tam" hay "Nội công ngoại quốc", còn mái và cổng thì thường cong vút lên, nét cong ở các đầu đao.<br />Những mẫu hình trang trí chùa của người Hoa khá phức tạp: hình rồng, phượng, lưỡng long triều nguyệt, tứ linh, tứ vật là mô hình phổ biến nhất. Hai bên sân chùa đều có xây la thành, điểm thêm cặp lân trong tư thế chầu chực. Nổi bật là kiến trúc ở Phước Hải Tự.<br />Khuôn viên của Phước Hải Tự hình chữ nhật, khá rộng rãi, lại có nhiều cây xanh. Giữa sân là phương đình thờ Hộ Pháp Vi Đà. Trên nóc trang trí hình lân, miệng ngậm ngọc.<br />Tiếp đó giữa sân là ao phóng sinh thả cá. Còn bên góc sát cửa điện là ao phóng sinh thả rùa. Vì người hoa quan niệm cá và rùa là hai loài vật tượng trưng cho sự trường thọ và như ý.<br />Phước Hải Tự xây theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Ở trong là chữ "công" với thượng điện, trung điện và hạ điện. Ở ngoài là bộ "vi" của chữ "quốc" với hai dãy Đông lang và Tây lang. Kiến trúc mái tổng thể gồm nhiều lớp mái lợp âm dương, diềm mái gắn mảnh gốm men xanh hình lá, gờ mái lượn cong. Cổng tam quan nổi bật với những đường nét uốn lượn, được trang trí các hình tượng như gốm men xanh "lưỡng long tranh châu", phù điêu gốm về đề tài tùng hổ, sen cò, hoa lá quả. Giữa là tấm đá với nét chữ của Lưu Đồng Quang viết vào năm 1900: NGỌC HOÀNG ĐIỆN. Hai bên là hai câu đối của Phùng Lão Tổ viết lúc nhập thần:<br /><div align='center'><i>Tu tích huyền phương, trấn pháp tham thiên địa<br />Thiện quả chân tâm, chính đạo chấn càn khôn.</i></div><br />Tiền điện được xây bằng gỗ, gạch và đá. Cột, kèo mái, xà, đòn tay, rui mè bằng gỗ, tường gạch, mái lợp ngói âm dương. Ở đây có các án thờ Môn Quan Thần và Thổ dịa thần để trừ tà ma quấy phá. Hai án thờ làm bằng gỗ, được tạo hình và chạm trổ tinh xảo hình tượng rồng mây cùng các hoành phi, liễn đối với kỹ thuật chạm chìm chữ Hán tinh tế.<br />Trung điện được xây bằng gạch, kèo mái, đòn tay, rui mè bằng gỗ, mái ngói âm dương. Hai cánh cửa trung điện làm bằng gỗ rất dày, chạm khắc tỉ mỉ sự tích Sinh long bàn thoại khí và Hoạt hổ tráng thanh uy. Hai dãy phòng hai bên có nhiều bao lam trang trí, là nơi phục vụ khách hành hương. Sát hai bên tường là tượng Đại tướng quân Thanh Long và Đại tướng quân Phục Hổ, tượng trưng cho thế rồng hầu hổ chực, thịnh vượng và phát đạt. Hai tượng được tạo tác tinh xảo bằng giấy bồi. Ở đây còn có các hoành phi và liễn đối được làm vào năm 1904.<br />Ở giữa là tượng Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật bằng gỗ trầm, đặt trong lồng kính. Tượng này gốc là của một ngôi chùa khác ở Sài Gòn. Khi thực dân Pháp quy hoạch đường Catinat thì ngôi chùa đó bị giải tỏa, tượng lưu lạc một thời gian rồi dược chuyển đến đây. Bên cạnh tượng Phật Dược Sư còn có tượng Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni, Đại Thế Chí Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát.<br />Chính điện được xây bằng gạch, kèo mái, đòn tay, rui mè bằng gỗ, mái ngói âm dương. Giữa là tượng Ngọc Hoàng Thượng đế, cao khoảng 3m, được làm bằng giấy bồi, thếp vàng. Ngọc Hoàng là đấng công minh cai quản thượng giới, trung giới và hạ giới.<br />Tượng của Ngọc Hoàng là pho tượng ngồi lớn nhất, uy nghiêm nhất và được trang hoàng nhiều nhất trong chùa. Mặt Ngọc Hoàng bình thản, không vui cũng không buồn, mắt trong tư thế mở nhưng không thấy rõ tròng mắt, mũi dài và to. Khuôn mặt tượng hình chữ điền, má cao và rộng, có chòm râu dài. Ngọc Hoàng mặc áo choàng rộng, hai tay áo phủ đến tận các ngón tay, áo được chạm nối dính liền vào tượng, được sơn son thếp vàng tinh xảo làm nổi bật đường nét trang trí trên áo. Trong có Tiên cô và Tiên đồng cầm quạt hầu. Ngoài có Nam Tào – Bắc Đẩu giúp coi việc sinh tử. Hai bên còn có sáu vị thiên thần, cũng được làm bằng giấy bồi. Hầu hết các tượng ở gian này đều to lớn, làm bằng giấy bồi và được sơn son thếp vàng không theo nguyên tắc tỷ lệ nào. Ánh sáng trong điện huyền ảo, khói hương nghi ngút, tạo không khí thêm phần trang nghiêm.<br />Bên trái trang thờ Ngọc Hoàng là trang thờ Bắc Đế, tức Huyền Võ, còn gọi là Bắc Phương Trấn Võ. Tượng tạc ông trong tư thế ngồi, chân phải đạp rùa, chân trái đạp rắn. Người ta quan niệm hai con vật này tượng trưng cho yêu ma. Tượng thể hiện cảnh Bắc Đế đã chế ngự được chúng. Bắc Đế còn được xem là vị thần trấn giữ phương Bắc của cõi trời, đứng đầu việc thay đổi mùa màng và cầu mưa. Bên phải thờ Chuẩn Đề Bồ Tát (Bồ Tát Mật tông Phật giáo). <br />Hai bên là hai khu Đông lang và Tây lang được xây bằng gạch, các vi kèo, đòn tay, rui mè bằng gỗ, mái ngói âm dương. Ở Tây lang là khu vực thờ thần Thành Hoàng. Hai bên thần Thành Hoàng là thần Thái Tuế và Lỗ Ban Tiên Sư.<br />Người Hoa quan niệm Thành Hoàng là vị thần của một địa phương, vừa đem lại sung túc vừa xem xét việc sinh tử cho người địa phương đó nên Thành Hoàng được xem là có quan hệ với các Minh vương. Vì vậy, trong khu vực thờ Thành Hoàng còn có cả Bạch Vô Thường, các bức phù điêu Thập Điện Diêm Vương,…<br />Bạch Vô Thường, trên đầu đội chiếc mũ có bốn chữ Nhất kiến phát tài. Do đó, Bạch Vô Thường đã trở thành một vị Thần Tài phát lộc. Tượng Thần Tài trong trang phục đồ tạng, biểu tượng mang hết sự rủi ro vào mình và ban phát tài lộc cho nhân gian. Cùng một cái rổ đựng các gói giấy đỏ bọc mảnh giấy nhỏ ghi hai chữ Hán “Tài Thần” bên trong để khách hành hương đến xin lộc. Tượng Thần Tài có chiếc mũi khá to mà nhiều người cho rằng mũi to là biểu tượng của sự giàu sang… Tượng được tạo tác tinh xảo từ giấy bồi.<br />Cạnh Thần Tài là cảnh Thập Điện Diêm Vương, được chạm khắc một cách tỉ mỉ, chi tiết đến từng đường nét. Thập Điện Diêm Vương diễn tả những hình phạt ở âm ty dùng trừng phạt những kẻ từng làm nhiều điều gian ác trên trần gian, gồm: Nhất điện Tần Quảng vương, Nhị điện Sở Giang vương, Tam điện Tống Đế vương, Tứ điện Ngũ Quan vương, Ngũ điện Diêm La Vương, Lục điện Biện Thành vương, Thất điện Thái Sơn vương, Bát điện Bình Đẳng vương, Cửu điện Đô Thị vương, Thập điện Chuyển Luân vương.<br />Ngoài cùng của gian thờ này là nơi thờ Quan Thế Âm Bồ tát, Địa Tạng vương Bồ tát và thần Đông Nhạc – cố vấn tối cao của âm phủ. Phía ngoài gian này, tức mặt tiền Tây Lang, có gian nhỏ thờ Kim Hoa nương nương, mười hai bà mụ và ba vị Tổ sư ngành hộ sản. Đặc biệt bộ tượng mười hai bà mụ trong tư thế nuôi dạy trẻ nhỏ, được làm bằng gốm Sài Gòn rất đẹp, sản xuất vào đầu thế kỷ XX. Đây là nơi những người hiếm muộn đến cầu tự.<br />Bên phải gian thờ Ngọc Hoàng là phòng khách của chùa. Phía sau có cầu thang dẫn lên tầng trên. Tầng này là nơi thờ Phật, Quan Thánh Đế Quân, Quan Thế Âm Bồ Tát, Hộ Pháp Vi Đà, Tổ Lưu Minh và La Hán.<br /><br /><b>IV. TÍN NGƯỠNG THỜ TỰ:</b><br />Nhìn cảnh quan bên trong thì ta cũng biết được là Phước Hải Tự chủ yếu là thờ Ngọc Hoàng.<br />Hiện Phước Hải Tự thuộc hệ phái Bắc tông, hay còn gọi là Bắc truyền. Bắc tông là một hệ phái Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ, được truyền bá và phổ biến ở nhiều nơi.<br /><br /><i><u>Vài nét về dòng Bắc truyền (Mahasanghikas)</u><br />Tên gọi khác: <br />_ Đại chúng bộ<br />_ Đại thừa <br />Lý tưởng: <br />_ Tự độ<br />_ Độ tha<br />Cầu đắc quả: <br />_ La Hán (Arhat)<br />_ Duyên Giác (Prateyka Bouddha)<br />_ Bồ tát (Bodhisattva)<br />_ Đại giác (Bouddha)<br />Văn tự kinh chính: <br />_ Bắc phạn (Sanscrit)<br />Nhận biết: <br />_ Ăn chay, có phụ nữ đi tu, áo nâu hoặc màu mực xanh nhạt<br />(Theo Tiến trình văn hóa Việt Nam – Nguyễn Khắc Thuần)</i><br /><br /><u>Đôi nét về đạo Minh Sư:</u><br />Minh Sư là một tông phái thờ Tam giáo, cụ thể là thờ Phật, tu tiên; tu sĩ xuất gia, thọ giới nhưng không thí phát. Đạo Minh Sư còn được gọi là đạo Phật Đường Khởi thủy, môn phái này quy tụ các di thần nhà Minh – Trung Quốc, xuất hiện đầu đời Thanh (cuối thế kỷ XVII). Tổ thứ mười hai của Minh Sư là ông Trần Thọ Khánh có sang Việt Nam năm 1894, năm sau thì mất ở Trung Quốc. Đạo Minh Sư lúc đầu nuôi chí “phản Thanh phục Minh” nhưng theo thời gian thì đã thay đổi nhiều. Khi được truyền bá vào Việt Nam, Minh Sư trở thành môn phái tu hành thuần túy, có uy tín ở Trung và Nam Kỳ. Tín đồ của đạo Minh Sư tại Tp.HCM hiện nay có người Hoa và cả người Việt.<br /><br /><br /><br />***Theo số liệu thu thập được trong cuộc khảo sát thì lượng khách trung bình mỗi ngày đến Phước Hải Tự là 200 – 350 người, trong đó khách nước ngoài đã chiếm tỷ lệ trên 30%, tức hơn 1/3 lượng khách trong ngày. Đó là chưa kể vào những dịp lễ tết, con số có thể lên đến hàng nghìn. Đa phần khách đến Phước Hải Tự đều thích thú trước kiến trúc của chùa. Chùa của người Hoa ở Tp.HCM thì nhiều nhưng những ngôi chùa như Phước Hải Tự thì rất ít. Hiện Phước Hải Tự có trên 300 tượng thờ, được phân bố trong ba gian thờ. Trong đó, đáng lưu ý nhất là các pho tượng to lớn làm bằng giấy bồi như tượng Ngọc Hoàng, tượng Thành Hoàng,… tạo nên một nét riêng, đặc biệt cho nơi này, tạo cảm giác ấn tượng và khó quên cho khách khi đến đây.<br /><br />-----------------------------------<br />TÀI LIỆU THAM KHẢO:<br />1. PHẠM HỮU MÝ – NGUYỄN VĂN ĐƯỜNG: <i>Di tích lịch sử – văn hóa ở Tp.HCM</i>, NXB Tổng hợp Tp.HCM, 2007 (trang 164 – 167).<br />4. TRƯƠNG NGỌC TƯỜNG – VÕ VĂN TƯỜNG: <i>Những ngôi chùa nổi tiếng ở Tp.HCM</i>, NXB Trẻ, 2006 (trang 14 – 22, trang 215 – 225). <br />-----------------------------------<br />Mấy tấm em chụp ở Phước Hải Tự nè:<br /><br /><div align='center'><img src="http://farm4.static.flickr.com/3035/2589979574_e037befd13.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Ao rùa<br /><br /><img src="http://farm4.static.flickr.com/3003/2589144073_bb77b922ae_o.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Rùa "xổng chuồng"<br /><br /><img src="http://farm4.static.flickr.com/3191/2589141605_9a95ce55e5.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Thổ Địa Thần<br /><br /><img src="http://farm4.static.flickr.com/3090/2589976896_7a0af03d24.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Môn Quan Thần<br /><br /><img src="http://farm3.static.flickr.com/2267/2589973268_895cf6bf78.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Gian thờ Ngọc Hoàng<br /><br /><img src="http://farm4.static.flickr.com/3281/2589971662_91ebfea04e.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Ngọc Hoàng<br /><br /><img src="http://farm4.static.flickr.com/3096/2589135953_188cb2b559.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Thành Hoàng<br /><br /><img src="http://farm4.static.flickr.com/3179/2589979092_35b24e4a62.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Thần Tài<br /><br /><img src="http://farm4.static.flickr.com/3005/2589976204_d4e8ebf75c.jpg" border="0" class="linked-image" /><br />Gian thờ Kim Hoa nương nương + 12 bà mụ + 3 vị tổ sư ngành hộ sản</div>
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.