PDA

View Full Version : bai thuyet minh ve cac di tich Hue ne`


jgcvnr
27-05-2012, 09:21 AM
<!--sizeo:7--><span style="font-size:36pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->day la phan thuyet minh tren Sa Ban cua Dai Noi va The Mieu :<br />Đây là sa bàn của Hoàng Thành. Toàn bộ khu vực này gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành còn gọi chung là Đại Nội, chiếm diện tích khoảng 38 ha có 4 cửa ra vào nằm theo 4 hướng: Đông, Tây , Nam, Bắc được bố trí rất chặt chẽ: Cửa Ngọ Môn - hướng Nam, Cửa Hoà Bình - Hướng Bắc, Cửa Chương Đức - Hướng Tây dành cho phái đàn bà và cách 300 m từ cửa Chương Đức là cửa Hiển Nhơn dành cho phái đàn ông. Lấy trục chính làm trục thần đạo thì tất cả các công trình chính nằm trên trục này và các công trình khác đối xứng nhau. Trên trục gồm có các công trình lớn gồm: Cửa Ngọ Môn, tiếp đến là Điện Thái Hoà , sau Điện Thái Hoà là Điện Cần Chánh là nơi tổ chức lễ thiết thường triều, sau Điện Cần Chánh là Điện Càn Thành - nơi ở và sinh hoạt của vua, sau Điện Càn Thành là Cung Khôn Thái, nơi ở của Hoàng Hậu hay Hoàng Quý Phi - người vợ có chức tước lớn nhất trong số các bà vợ của Vua, bên cạnh đó là Lục Viện dành cho các phi tần, mỹ nữ vua ở. Trong này còn có Duyệt Thị Đường nhà hát của vua, Thái Bình Lâu nơi vua đọc sách, Thượng Thiện Đường nhà bếp của vua, Thái Y viện nơi chăm sóc sức khoae cho nhà vua và hàng chục công trình lớn nhỏ khác phục vụ đời sống của Vua, Hoàng Hậu, Phi tầng mỹ nữ của vua. Nhưng hiện tại trên trục chính chỉ còn lại một số công trình đó là: Cửa Ngọ Môn, Điện Thái Hoà, 2 nhà Tả và Hữu vu. Duyệt Thị Đường là công trình mới được trùng tu.<br />Lầu Kiến Trung được xây dựng dưới thời vua Khải Định và Bảo Đại ở, giờ đây đã không còn. Trục đối xứng ở hai bên. Trung tâm là Điện Thái Hoà. Cách Điện Thái Hoà khoảng 300 m về phía Tây có khu vực Hưng Miếu và Thế Miếu nơi thờ thân phụ và thân mẫu của vua Gia Long và bản thân các vua Triều Nguyễn. Đối xứng phía bên kia là nơi thờ 9 chúa Nguyễn là tổ tiên của Triều Nguyễn. Đằng sau nơi thờ 9 chúa Nguyễn là Phủ Nội Vụ nơi cất giữ và sản xuất những đồ dùng, châu báu của vua. Bây giờ là Trường Đại Học Nghệ Thuật Huế. Đối xứng với Phủ Nội vụ là Điện Phụng Tiên nơi thờ các vua nhà Nguyễn nhưng khu vực này chỉ dành cho đàn bà vào cúng tế. Trung tâm là nơi ăn chốn ở của Vua, Hoàng Hậu, Phi Tần, Mỹ Nữ..., bên trái của vua cách vua ở 300 m là Điện Khâm Văn và vườn Cô Hạ nơi dành cho Hoàng Tử, Công Chúa con vua ăn ở trước khi xuất phủ. Đối xứng có Cung Diên Thọ và Cung Trường Sanh nơi ở của mẹ và bà nội vua.<br /> <br /> Đây là Thế Miếu nơi thờ các vua Nhà Nguyễn, ngôi điện này được xây từ năm 1821 - 1822 thời Minh Mạng. Sau khi xây xong chỉ thờ một mình vua Gia Long. Sau này lần lượt các vua Nguyễn mất đều được đưa vào đây để thờ. Sau khi Gia Long mất, Minh Mạng mới cho xây dựng cung điện này. Và lý lịch của Vua Minh Mạng là sau này các vua Nguyễn mất sẽ được đưa vào đây để thờ tức là đây là nơi thờ cả dòng họ. Nên vua Minh Mạng đã chọn một khu đất rất rộng, tổng diện tích 1500m2 để xây điện. Theo quan điểm các vua triều Nguyễn thì tất cả những vị vua nào khi chết vẫn còn tại vị, đương chức, đương quyền thì mới được đưa vào đây để thờ, còn vị vua nào bị phế đế hoặc xuất đế thì không được đưa vào đây để thờ. Vì thế triều Nguyễn gồm có 13 triều vua, nhưng trước đây chỉ có 7 án thờ, sau năm 1954 thì đưa 3 án thờ nữa là án thờ của 3 vị vua yêu nước Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. 3 vị vua này không được đưa vào thời kỳ thuộc Pháp vì 3 án thờ của 3 vị vua yêu nước, chống Pháp gọi là xuất đế bị thực dân Pháp đưa đi đày.<br />Sau năm 1945 dưới thời Ngô Đình Diệm, Nguyễn Phước tộc đã đưa 3 án thờ của 3 vị vua yêu nước này vào. Như vậy là 10 án thờ ở đây còn 3 vị vua nữa không được thờ ở đây là vua Dục Đức, Hiệp Hoà, Bảo Đại.<br /><br />Về nguyên tắc là mỗi gian thờ một vị vua, án giữa là án thờ án thờ Gia Long, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn. Cứ theo nguyên tắc trái trước, phải sau hay còn gọi là Tả Chiêu Hữu mục, Chiêu quan trọng hơn mục cho nên vị vua Minh Mạng là vị vua thứ 2 nằm phía bên tay trái của Gia Long, thứ 3 Thiệu Trị nằm phía bên tay phải, thứ 4 Tự Đức nằm bên tay trái....ở trước là bàn thờ, sau là sập thờ, cuối là khám thờ. Bàn thờ là nơi đơm bông ba hoa quả, sập thờ để đồ lễ vật thức ăn, sau cùng là khám thờ nơi để bài vị vua và Hoàng hậu. Xem từng án thờ.<br /> Gia Long: (Nguyễn Ánh) làm vua được 18 năm từ (1802 - 1820)<br /> Những án thờ ở phía bên phải vua Gia Long:<br /> Minh Mạng: Ông là vị vua giỏi nhẩt triều Nguyễn, làm vua được 20 năm đưa đất nước này cường thịnh nhất của chế độ phong kiến, công lớn nhất là mở mang bờ cõi. Đổi tên là nước Việt Nam để ngang hàng với Đại Phong ở bên Trung Quốc. Tên Đại Nam kéo dài đến 1945. Dù vua Minh Mạng có lắm vợ, nhiều con, vua Minh Mạng có khoảng 400 - 500 bà vợ và có 142 người con: có 78 Hoàng Nam và 68 Hoàng Nữ.<br /><br />Với số lượng vợ và con lớn như vậy nhưng vua Minh Mạng xử phạt rất nghiêm minh, 20 năm làm vua không thiên vị một ai cả kể cả vợ, con, anh em. Ông tập trung quyền hành vào trong tay để đưa đất nước cường thịnh nhất. <br /> Tự Đức là vị vua có thời gian làm vua lâu nhất, 36 năm làm vua nhưng khi ta nhìn vào ảnh thì ánh mắt vua rất buồn, 36 năm làm vua nhưng ôm 3 nổi buồn khá lớn:<br /> Nổi buồn thứ 1: là lắm vợ nhưng không có con.<br /> Nổi buồn thứ 2: là lên ngôi mà huynh đệ tương tàn.<br /> Nổi buồn thứ 3: đất nước bị Pháp xâm lược chưa tìm ra kế sách để chống Pháp.<br /> <br />Đồng Khánh là con nuôi vua Tự Đức, vua Tự Đức không có con nên nhận cháu gọi mình là Bác ruột làm con nuôi, vua Đồng Khánh lên làm vua được 3 năm thì mất, hưởng dương 25 tuổi và đây cũng là vị vua bù nhìn đầu tiên chấp nhận làm bù nhìn cho Pháp.<br /> <br />Hàm Nghi: Vua Hàm Nghi là vị vua yêu nước chống Pháp, năm 1885, Kinh Đô thất thủ. Pháp chính thức đặt nền đô hộ lên toàn cõi Việt Nam, lúc bấy giờ vua Hàm Nghi đã phò ra tận sổ Quảng Trị và ra chiếu Cần Vương. Dưới ngọn cờ Cần Vương của vua Hàm Nghi nhiều cuộc khởi nghĩa làm cho thực dân Pháp khốn đốn một thời nhưng rồi đã có người đã phản bội lại nhà vua, người ta báo cho bọn mật thám biết được nơi trú ẩn của vua Hàm Nghi. Bọn mật thám Pháp bắt vua Hàm Nghi và đưa vua Hàm Nghi trở lại Huế, bọn chúng dụ dỗ vua Hàm Nghi bãi chiếu Cần Vương nhưng vua Hàm Nghi nhất quyết không bãi chiếu và cuối cùng không lung lay được vua yêu nước này. Pháp đã đưa vua Hàm Nghi đi đày ở Angiêri.<br /><br /> <br />Thành Thái: Đây là án thờ vua Thành Thái, vua Thành Thái là một vị vua yêu nước chống Pháp, lên ngôi lúc mới 10 tuổi và làm vua lúc nước Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp. Nhà vua làm vua luôn luôn nghĩ rằng một ngày nào đó có lực lượng chống lại thực dân Pháp nhưng rất tiếc việc làm của vua Thành Thái chưa thành công thì đã thất bại và vua Thành Thái được được Thực dân Pháp đày ở Vũng Tàu. Cho đến 1916 cùng với con của mình là Duy Tân cùng chống lại Pháp và đưa sang đảo Runíon thuộc địa của Pháp. Hết hạn này thì vua Thành Thái về an nghĩ Vũng Tàu và mới mất ở Vũng Tàu 1954. Án thờ bên phải vua Gia Long.<br /> <br />Vua Thiệu Trị: là vị vua thứ 3 của Triều Nguyễn, vua Thiệu Trị là con vua Minh Mạng, chỉ làm vua 7 năm rồi qua đời, 7 năm làm vua chỉ thừa hưởng những gì vua cha để lại, công lớn nhất của nhà vua là nhà thơ để lại cho đời nhiều bài thơ hay và xây dựng chùa chiền (Chùa Thiên Mụ).<br /> <br />Kiến Phúc: cũng là con vua Tự Đức, nhưng vua Kiến Phúc chỉ làm vua 8 tháng rồi bị bệnh đậu mùa sau đó qua đời, 8 tháng làm vua chưa làm gì được cho quê hương đất nước.<br /> <br />Khải Định: là vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, là con của vua Đồng Khánh. Đây là vị vua đầu tiên bước chân sang đất Pháp. Là vị vua bước chân sang đất Pháp giống như một người nông dân Việt Nam choáng ngợp trước sự phát triển của tư bản phương Tây vì vậy khi vua Khải Định về nước, vua có quan điểm rất lai Tây. Người ta nói ràng vua thường mặt comlê bên trong, ngoài khoác áo hoàng bào, ngực thì đeo huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh, uống rượu Bordo, sức nước hoa của Pháp và có lối sống rất chân diện chính vì vậy nhà văn xây lăng rất khác với các lăng khác chỉ làm vua được 9 năm nhưng xây cho mình ngôi lăng mất 11 năm mới hoàn thành với nghệ thuật ghép sành sứ rất đặc sắc.<br /> <br />Duy Tân: đây là án thờ vua Duy Tân. Duy Tân là con vua Thành Thái, sau khi đày vua Thành Thái xong rồi thực dân Pháp buộc phải tuân theo cha ntruyền con nối của dân tộc Việt Nam, mới cho mời tất cả các hoàng tử con vua Thành Thái vào trong cung để lựa chọn, trong tất cả các vị hoàng tử đó thì có một hoàng tử tên là Phúc Khang, cậu bé này 8 tuổi mặt mày nhem nhuốc, cậu thường chui xuống gầm giường để bắt dế mà chơi thế thì Pháp nghĩ thế này nên chọn đứa bé này để dễ bề cai trị hơn, nhưng người ta nói rằng thực dân Pháp đã nhầm, mộ ngày lên làm vua đã thay đổi cuộc đời một cậu bé Hoàng tử Vĩnh San lúc này lên ngôi vua lấy hiệu là Duy Tân, vua Duy Tân mới 8 tuổi nhưng nói tiếng Pháp rất sành sỏi thì Pháp mới vỡ lẽ ra và không thể thay đổi được.<br /> <!--sizec--></span><!--/sizec--><!--sizeo:7--><span style="font-size:36pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--sizec--></span><!--/sizec-->

haivanphu08
27-05-2012, 09:21 AM
LĂNG TỰ ĐỨC <br /><br />Lăng Tự Đức được xây dựng trong một bối cảnh lịch sử cực kì khó khăn của đất nước và cũng chính bản thân nhà vua.<br />Vua sinh năm 1829, lên ngôi năm 20 tuổi (1848). Sau đó 10 năm, thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng (1858) mở màn cho cuộc xâm chiếm nước ta, rồi đánh chiếm Gia Định (1859) và một số tỉnh khác ở Nam Kì (1862)… Vua Tự Đức đã là người hấp thụ khá đầy đủ nền văn hóa và triết học Đông phương với một số mâu thuẫn nội tại của nó giữa cái tích cực lúc trẻ và nội tại lúc già, giữa sự sống và cái chết. Càng thất bại trước việc nước việc nhà khi càng lớn tuổi, ông càng bi quan yếm thế. Nhà vua nghĩ đến cái chết tất nhiên sẽ đến với đời mình, và để vơi bớt những dằn vặt khổ đau trong quãng đời còn lại, cho nên hạ lệnh xây dựng lăng tẩm như một hoàng cung thứ hai để thỉnh thoảng lên đây tiêu khiển, nghỉ ngơi và cũng để làm “ngôi nhà lâu dài của trẫm” (vi vô vĩnh vũ – trong bài Khiêm Cung Ký).<br />Đứng trong thời đại ngày nay nhìn lại hoàn cảnh khó khăn bấy giờ của đất nước, quy mô kiến trúc lớn lao tốn kém của lăng vua, và các danh xưng Khiêm Cung, Khiêm Lăng được dùng để đặt tên cho nó chúng ta thấy đó cũng là một mâu thuẫn nội tại khó biện minh được của chính nhà vua. <br />Nhưng dù sao sau khi xây xong, vua Tự Đức cũng còn sống thêm 16 năm nữa, cho đến năm 1883 thọ 53 tuổi. Như vậy vua Tự Đức trị vì 36 năm, là người trị vì lâu nhất trong số 13 vua triều Nguyễn.<br />Vua Tự Đức tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con thứ hai của vua Thiệu Trị. Theo ông Bùi Văn Trung lẽ ra người lên ngôi phải là con trai trưởng Nguyễn Phúc Hồng Bảo, vì ông này vừa là con trai trưởng vừa cao lớn đẹp trai, thông minh, sáng sủa, không có khuyết tật gì để có thể truất ngôi của ông ta được. Trong khi Hồng Nhậm là người ốm yếu và mới sinh ra là người tính tình ủy mị và đã mang nhiều thứ bệnh trong đó có căn bệnh đậu mùa mà hậu quả di chứng của căn bệnh này là vua mắc chứng vô sinh. Làm vua mà không thể có con là một điều bất tiện (theo nghiên cứu của người Pháp vua Tự Đức có đến 103 bà vợ mà không có một người con nào). Theo Bùi Văn Trung có những phe phái trong triều đình muốn gạt Hồng Bảo ra để Hồng Nhậm lên ngôi vì họ có họ thông gia với vua Thiệu Trị. Hay như Nguyễn Tri Phương người có thông gia với vua Tự Đức. Theo nghiên cứu của Bùi Văn Trung thì hai vị quan có công đưa Hồng Nhậm lên ngôi thay Hồng Bảo là Trương Văn Quế và Nguyễn Tri Phương. Vua Tự Đức là vị vua được nhắc đến nhiều trong lịch sử vì ông gặp phải nhiều rủi ro :<br />Thứ nhất triều đại của ông kéo dài mà lại yếu kém, có nhiều điều bất hạnh cho đất nước. Quá trình xâm lược nước ta của thực dân Pháp (1858 – 1884) diễn ra gần như toàn bộ của thời vua Tự Đức. Trong quá trình đó triều đình Tự Đức đi từ thất bại này đến thất bại khác, thất bại cả trên mặt trận quân sự lẫn ngọai giao. Bản thân mình là người cầm đầu đất nước mà trước họa xâm lược dẫn đến tai họa lớn là hoàn toàn mất nước, mà trong quá trình dài vài chục năm ông lại không vực nổi cơ đồ của mình lên thì đó là một trách nhiệm mà nhà vua không thể nào chối bỏ được trong lịch sử (nhưng nếu chúng ta bình tâm mà xem xét thì hầu hết các nước trong khu vực đều thất bại trước sự xâm lược của các nước phương tây, cho nên việc vua Tự Đức cũng thừa nhận trách nhiệm đó của mình bằng việc viết “khiêm cung ký” là một bài văn bia cho mình từ khi mình còn sống (nhiều chục năm trước khi chết) với mục đích biện minh với hậu thế. Trong đó ông thừa nhận vì bất tài đã để cho mất nước. Vua Tự Đức là người rất giỏi về văn học, ham thích văn chương, thơ phú, giỏi thơ Hán và cả thơ Nôm. Đặc biệt ông là người am hiểu rất sâu rất uyên thâm nho giáo. Nhưng những tài năng này của vua Tự Đức trong hoàn cảnh lúc đó của đất nước lại có hại nhiều cho vua Tự Đức, bởi vì nó làm cho ông tha thiết quá với những cái cổ truyền trong khi thời buổi đất nước đang đòi hỏi canh tân.<br />Điều thứ hai là triều đình Tự Đức có nhiều chỗ yếu mà những triều vua trước không có. Đó là việc vua Tự Đức lên ngôi bị người ta đàm tiếu nhiều nghĩa là ông không phải là con trưởng lại được lên ngôi thay cho người anh của mình, rồi tình huống dẫn dắt đến chỗ Tự Đức phải giết anh của mình vì có những âm mưu nổi loạn từ phía Hồng Bảo. Và sau đó vua Tự Đức đến cuối đời phải mang nỗi dày vò ghê gớm là giết hại anh của mình và giết tới mức không còn người nối dõi để thờ cúng hương khói mà việc này đối với luân lý bị coi là một tội ác. Chính điều này đã khiến cho uy tín của vua Tự Đức trở nên mỏng manh ngay trong hàng ngũ đại thần, tầng lớp nho sĩ vốn là chỗ dựa của triều đình.<br />Điều khó khăn thứ ba là Tự Đức vốn là người nhu nhược, không quyết đoán mà phải làm vua vào thời điểm có nhiều tư tưởng trái ngược nhau trong triều đình và trong nho sĩ. Cho nên vua Tự Đức không đủ bản lĩnh để chọn lựa thành ra cứ giao động trong hai bên. Người bảo đánh Tây, kẻ lại bảo hòa với Tây, người bảo cứng rắn, người lại nói phải mềm dẻo mà vua Tự Đức thì cứ nghiêng biên này lại ngả bên kia. Cho nên cuối cùng việc lớn không thể làm được. Ông là người do dự đến nỗi đến lúc chết cũng không thể chỉ định được ai là người nối ngôi cho mình. Ông nuôi nhiều con nuôi, đến khi chết ông để lại di chiếu là nhường ngôi cho người con lớn tuổi nhất (để tránh nạn quyền thần, vì cuối đời Tự Đức đã xuất hiện những quyền thần). Đã có chọn lựa như vậy nhưng vua Tự Đức là người do dự đến nỗi lại ghi thêm trong di chiếu nói rằng thật ra người này không có tài đức, lại có tật xấu này tật xấu khác… Chính điều này đã làm xảy ra bi kịch đối với ông vua kế vị Tự Đức tức là vua Dục Đức.<br />Tự Đức sống nhiều chục năm trong đời mình tại Khiêm Lăng, đó là cách giải sầu để giảm đi những đau khổ vì những tình huống éo le trong cuộc đời của mình. Vua cho khởi công xây dựng lăng vào năm 1864 và dự định hoàn tất trong vòng 6 năm. Công việc xây lăng huy động đến 5 vạn binh lính. Người hầu vì muốn lập công nên đã cưỡng bức lính một cách cực lực xây lăng khiến sau hai năm xây dựng làm nổi lên lọan chày vôi. Đó là cuộc khởi nghĩa mà binh lính dùng chày đập vôi làm khí giới để tiến vào kinh đô Huế. Quân nổi loạn tiến vào theo ba lối Chương Đức, Hiển Nhơn, Hòa Bình nhưng cuộc nổi loạn thất bại những người cầm đầu đều bị bắt và giết chết. Sau sự kiện này Tự Đức cách chức hai vị quan trông coi việc xây dựng. <br />Tốc độ thi công quá khẩn trương nên công trình hoàn tất vào năm 1867, tức là chỉ 3 năm xây dựng. Sau khi lăng đã hoàn thành, Tự Đức vẫn còn sống thêm 16 năm nữa, nên đây cũng là hoàng cung thứ hai của ông.<br />Lúc đầu lăng có tên là Vạn Niên Cơ, nhưng do Hòa Khiêm bị sét đánh, vua sợ mình đã động đến oai trời nên quyết định đổi tên là Khiêm Cung.<br />Vòng la thành bao bọc xung quanh lăng có diện tích 12ha bao bọc gần 50 công trình lớn nhỏ, chia thành 3 khu vực, bao gồm: khu vui chơi giải trí, khu ăn ở và sinh hoạt, khu an táng vua. Như đã nói vua Tự Đức là người am tường thâm thúy về thơ văn nên khi ông mất đi để lại cho đời 500 bài thơ chữ Hán, 400 bài thơ chữ Nôm và rất nhiều áng thơ văn khác. Thơ của ông phản ánh ông là một người nhân hậu, một tâm hồn đa cảm, một tư chất thiên về văn chương, nghệ thuật… Tư chất ấy có thể thấy rõ trong nghệ thuật kiến trúc lăng. <br />Các nhà khiến trúc lợi dụng con suối tự nhiên, ngăn dòng tạo thành hồ Lưu Khiêm, trên hồ người ta cho đắp một đảo nhỏ mang tên Tịnh Khiêm mơ mộng. Đình Tả mọc bên hồ để vua câu cá và ngắm cảnh. Đối diện chếch bên kia hồ là Xung Khiêm- một ngôi nhà khá lớn xây trên mặt hồ để vua làm thơ. Trên hồ có nhiều sen trắng, đỏ nở hương thơm ngát.<br /> Qua khỏi Khiêm Cung Môn là cổng tam quan hai tầng dựng trên một thế đất cao, chúng ta bước vào hệ thống cung điện gồm nhiều tòa nhà lớn nhỏ. Từ ngoài vào trong, chúng ta bắt gặp tòa nhà ngang dãy dọc, nơi đây là đoàn tùy tùng cung nữ nghỉ ngơi khi đến đây. Tiếp theo, giữa là điện Hòa Khiêm – nơi làm việc của vua. Sau khi vua chết, nơi này thành nơi thờ vua và hoàng hậu. Hai bên tả hữu là Pháp Khiêm Vụ và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Tiếp theo điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm – nơi ăn nghỉ của vua. Sau khi vua chết nơi này thành nơi thờ mẹ vua, tức là bà Từ Dũ hoàng thái hậu. Bên phải điện Lương Khiêm (bên trái nhìn từ ngòai vào) là Ôn Khiêm Đường – nơi cất giữ đồ ngự dùng của vua. Bên trái điện Lương Khiêm là nhà hát Minh Khiêm Đường xây dựng vào năm 1866 (vua ngồi phía dưới nhìn lên sân khấu, phía trên chỉ là chỗ ngồi của vua giả). Đây là nhà cổ thứ hai của Việt Nam so với Duyệt Thị Đường trong thành nội. Có một hành lang từ Ôn Khiêm dẫn ra Trì Khiêm Điện và Y Khiêm Điện – là chỗ ở của các cung phi theo hầu vua , ngay cả khi vua còn sống hay đã chết.<br />Trở ra cổng Tam Quan, đi vòng ra phía sau, chúng ta đến khu lăng mộ vua. Nhà cửa ở Khiêm Lăng bằng gỗ nhưng các công trình trong khu lăng mộ hòan tòan bằng gạch đá. Trước tiên chúng ta đến Ân Bái Đình – với hai hàng tượng quan văn võ lạnh lùng đứng hai bên. Phía sau Bái Đình là Bia Đình với tấm bia bằng đá thanh lớn nhất Việt Nam, nặng 20 tấn cao 5m, được bảo vệ bằng một tòa nhà đồ sộ, kiên cố ,cột to vách dày với cửa cuốn. Trên bia có khắc bài “Khiêm cung ký” của vua Tự Đức. Ông viết bài văn bia này thay cho bia “Thánh Đức Thần Công” trong những lăng khác. Bài văn bia dài 4935 chữ, là một bài tự thuật của nhà vua về cuộc đời, sự nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình. Tự Đức muốn dùng tấm bia này kể công cũng như nhận tội với lịch sử. Ông tự luận “không sáng suốt trong việc biết người, ấy là tội của ta, dùng người không đúng chỗ, cũng là tội của ta…” Và rồi ông có ý nhường sử sách đời sau đánh giá công tội của mình. Trên bia không có một lỗi sai nào. <br />Tiếp sau tấm bia là hai trụ biểu sừng sững như hai ngọn đuốc tỏa sáng uy quyền và tài đức của nhà vua.<br />Kế đến là hồ Tiêu Khiêm hình bán nguyệt đựng nước mưa để linh hồn nhà vua rửa tội và cũng có ý nói rằng trăng khuyết rồi trăng lại tròn – mọi việc rồi sẽ tốt đẹp hơn.<br />Trên ngọn đồi nằm bên kia hồ Tiêu Khiêm là Bửu Thành, xây bằng gạch, chính giữa là nơi vua yên nghỉ. Bửu Thành được bao phủ bằng rừng thông réo rắc bốn mùa. Ông vua thi sĩ dã nằm đó yên bình giữa không gian của thơ và nhạc.<br />Lăng không mang tính đối xứng cổ điển như các lăng khác, kiến trúc không trùng lập mà lại rất sinh động. Phía trên nóc điện có một bình hồ lô. Đó chính là bình thái cực chứa đựng khí âm dương của vũ trụ. Thỉnh thoảng ta lại thấy bát quái trên nóc điện. Ở đây đường nét kiến trúc thật hài hòa, phóng khóang, gần gũi với thiên nhiên.