PDA

View Full Version : Thế giới của các hoạn quan xưa - Thế giới của những bi kịch


phongthoa
27-05-2012, 09:21 AM
<i>Dẫn nhập của tớ:</i><br />Ta hay nghe đến các từ Thái giám, Hoạn quan. Hiện nay ở Huế có ngôi chùa Từ Hiếu gắn liền với đời sống của các quan hoạn. Một số du khách đến Huế không gọi tên chùa là Từ Hiếu mà lại gọi tục là chùa quan hoạn. Nói chung thì cái này tư liệu có hết rồi, không cần thiết phải giải thích. Bạn có thể search trên google.<br /><br />Nhân đọc báo Hồn Việt tháng 7 - 2008, có bài viết của tác giả Anh Chi nên post lên cho các bạn thưởng thức.<br /><br />Có một số bạn có thể biết nhưng có thể chưa vậy ta hiểu hoạn quan là như thế nào. Đại khái là nam giới và là người khiếm khuyết về bộ phận sinh dục. Bộ phận sinh dục của nam giới thì có 2 phần: phần tinh và phần vật. Hoạn quan là người có thể thiếu cả hai thứ hoặc phần vật. Còn nếu tinh hoàn vì một lý do nào đấy mà ẩn hoặc mất đi phần vật rồi do tai nạn chẳng hạn thì có thể thiến tiếp để tránh những cảm xúc nhất thời hoặc tránh nhiễm trùng ...<br /><br />Thời xưa người ta phân loại thái giám ra ba hạng chính<br />- Một là bẩm sinh: Loại này cực hiếm và rất được trọng dụng, đại khái đẻ ra là bị khiếm khuyết cơ thể, trong làng mà nghe gia đình nào có con trai sinh ra bị mất đi bộ phận đấy, bất hạnh chưa nói gì chứ trưởng làng ngay lập tức làm hồ sơ để dâng vào cung ngay.<br /><br />- Hai là tự cung: Loại này khá thịnh hành, thường rơi vào tầng lớp dân nghèo muốn đổi đời đành phải tự cung đi vốn tự có của mình rồi lục lạy vào cung xin được làm thái giám. Cái nghề này nó nở rộ ra như một nghề dịch vụ mà hiện đại ta hay gọi nôm na là cò thái giám. Thông qua một môi giới, người đàn ông sẽ được thiến đi và nếu ơn trời không chết do ra máu nhiều quá và còn sức khỏe thì sẽ được đưa vào cung thông qua môi giới. Nếu nghèo quá thì sẽ được ghi sổ rồi làm mà trả nợ từ từ.<br /><br />- Ba là bị thiến bởi trọng tội: Loại này thường rơi vào những tên tội phạm, tù nhân bị bắt mà có xu hướng hối cải nhưng triều đình muốn tuyệt luôn đường tái phạm hoặc răn đe mạnh thì dùng ngay phương pháp này để cảnh tỉnh. <br /><br />Vậy người ta hoạn (tự cung) thiến như thế nào ? Đại khái là sau khi chọn được người đàn ông khỏe mạnh và tự nguyện - nhớ nghe, phải tự nguyện - thì họ đưa vào chăm sóc khoảng một tháng cho ăn uống béo tốt và hưởng nhục dục với gái liên tục cho thỏa mãn. Sau đó thì cách ly và hỏi về tâm thức nếu còn thấy thèm muốn thì trả về, chi phí nuôi nấng ấy không hẳn là cho không nhưng vì nó cũng không lớn lắm so với thu nhập bù vào. Hơn nữa người không hoạn có thể ở lại chỗ đấy và giúp đỡ nhà môi giới nên cũng không mất đi là bao.<br /><br />Trước khi hoạn khoảng 3 ngày (có thể thấp hơn) thì người ta cho người kia nhịn ăn (uống) vì thế sau khi hoạn rất yếu, sống được là hạnh phúc, hoặc nhịn ăn 1 ngày và uống xổ trong ruột để làm sạch. Người kia được đặt lên bàn và trói hết chân tay cố định. Hai chân dang ra.<br /><br />Người ta sử dụng một loại như liềm, lưỡi ngọt, quắm vừa khít với bộ hạ, thép chuẩn, sau khi thực hiện một số động tác và thủ thuật ngăn ngừa về đường máu. Dùng cái công cụ kia lướt nhẹ. Nói có ơn trời cánh đàn ông. Đồ quỷ ấy toàn là gân với gân không có chút xương nào nên đi ngọt lẹ, một nhát là bay tong hết. Thường thì khi như thế người kia sẽ la lên kinh lắm. Chắc chắn rồi, nhở <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/tongue.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":P" border="0" alt="tongue.gif" /> <br /><br />Ngay lập tức người ta dùng một tờ giấy bản thấm một loại thuốc cầm máu đặc biệt bí truyền đắp thẳng vào đấy. Và giữ nguyên mọi thứ như thế cho đến khi nào nó kết đông lại vững, thường thì khoảng vài ngày. Không cho ăn uống nhiều (có khi cấm) phòng đi tiểu nhiễm trùng. Sau đó mới được tháo ra khỏi giường, lúc này là yếu lắm rồi, dìu đi tới đi lui và được tẩm bổ để chuẩn bị đi mở trang mới của cuộc đời.

dothuvan
27-05-2012, 09:21 AM
À, còn nữa, chưa post phần chính, để nói thêm đôi tý về kỹ thuật hoạn. Sau khi cắt cái bụp, người ta sẽ sử dụng một công cụ như kiểu ống thông tiểu bây giờ, nút lại chỗ đứt ra ấy. <br /><br />Và thường thì người bị hoạn rất khó chịu là vào lúc này, nó bí hơi toàn phần. Bạn nào nhà mình mà bị bệnh khó tiêu, đầy hơi, ứ bụng nhưng không đi ngoài được hoặc đánh &quot;r... ắm&quot; được thì đúng là lúc ấy đấy <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/biggrin.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":D" border="0" alt="biggrin.gif" />

tanlienthuan
27-05-2012, 09:21 AM
(Giờ vào phần của tác giả Anh Chi - thứ lỗi cho tớ viết dẫn nhập nhá)<br /><br />Thoạt đầu, ở thời Bắc Ngụy, một số tội phạm sau khi bị hình phạt (bị thiến), rồi được dùng làm nô bộc - đó là nguồn gốc đầu tiên của hoạn quan. Bởi thế người ta hay gọi Hoạn quan là &quot;người thừa&quot;. <br /><br />Dùng Hoạn quan có nhiều cái lợi trong cung cấm. Dần dần, Hoạn quan trở thành cái nhu cầu không thể thiếu trong triều đình. Đến đời nhà Đường, nhà Tống, triều đình không lấy Hoạn quan từ các tội nhân nữa, mà tuyển chọn từ những người trẻ tuổi, có ngoại hình đẹp và thông minh, lanh lợi. Đời nhà Tồng, Hoạn quan dã trở thành một nghề nghiệp, nhiều người tự nguyện, thậm chí tranh nhau được thiến để làm Hoạn quan, được vào trong cung.<br /><br />Những người tự nguyện, phần đông là ở tuổi thiếu niên, và phần lớn họ là những người bị cha họ bắt hiến thân để tìm đường tiến thân. Cả gia đình gửi gắm hy vọng nơi đứa trẻ đi làm Hoạn quan sẽ cứu gia đình ra thoát khỏi cảnh nghèo khó. <br /><br />Đó là nguyên nhân khiến Hoạn quan sau này rất thù hận cha mẹ đẻ của mình. Cũng có một số kẻ vô lại đã tìm đường tiến thân bằng cách đi làm Hoạn quan. Có nhiều kẻ đã lấy vợ, có con rồi, sau thấy làm Hoạn quan có nhiều uy quyền, bổng lộc, nên cũng bước vào con đường Hoạn quan ...<br /><br />Cũng từ thời tống, đã có quy định về việc tuyển Hoạn quan, như: Phải xem kẻ đến có tướng đẹp hay không; sau đó, phải phẫu thuật vào ngày tốt, giờ tốt. Nếu người được thiến không bị chết. Vết thương lành, đẹp, thì được đưa vào cung. Và, cái giờ, ngày tháng, năm bị thiến đó, được coi là giờ, ngày tháng năm sinh của Hoạn quan đó. Tử vi của Hoạn quan đó được lập theo ngày, giờ, tháng năm đó.<br /><br /><i>(be cont)</i>

tung
27-05-2012, 09:21 AM
Hoạn quan, một mặt đặc biệt trong cuộc sống của họ, được Hoàng đế rất tin cậy; họ là những kẻ rất có thân thế. Nhưng mặt khác, họ tự biết mình là loại người &quot;bất thành nhân&quot;, bị khinh miệt. Do mặc cảm bị khinh miệt, các Hoạn quan có xu hướng cụm lại với nhau, và trở thành một lực lượng đáng kể trong cung cấm.<br /><br />Ở họ, tâm lý cấu kết thành tập đoàn rất mạnh. Trong lịch sử đã có nhiều chuyện các tập đoàn Thái giám làm nghiêng ngửa triều chính, khuynh đảo xã tắc. <br /><br />Sự biến ghê gớm do 10 Thái giám đã làm tan rã nhà Hán, mở đường cho Tam quốc phân tranh, trong lịch sử TRung Quốc gọi là &quot;Loạn Thập Thường Thị&quot;.<br /><br />Nguyên nhân sâu xa của vụ nổi loạn này là Hán Linh Đế, lên ngôi từ năm 12 tuổi, do quá gắn bó với các Thái giám Trương Nhượng và Triệu Trung từ thời ấu thơ, đến mức làm vua rồi mà còn hay nói: &quot;Trương thường thị là cha ta, TRiệu thường thị là mẹ ta&quot;. Và từ đó, bọn hoạn quan trong cung lấy Trương, Triệu làm thủ lĩnh, hoành hành tác oai tác quái, lấn cả đại thần, lần cả vua.Cuối cùng làm nên sự biến &quot;Thập Thường Thị&quot;. <br /><br />Đến đời nhà Đường, lại có vua Hy Tôn từ thuở nhỏ đã cùng ăn cùng ở với Hoạn quan Điền Lệnh Tư, khi lên ngôi thì gọi Điền là &quot;Á phụ&quot;, và còn giao cho cả việc chính sự cho y. Và đó là tai họa to lớn dội xuống triều đình các vua đường.<br /><br /><i>* Bàn thêm về việc này:<br />Thực ra, nếu kết tội thái giám là người khuynh đảo đất nước cũng chưa hẳn, mà chính ở đây là quyền lực đặt sai vị trí. Đúng không các bạn. Bản thân thái giám là những người họ bị tự ti về hình thể của mình. Trong con người đã chất chứa sẵn sự kích động và bất mãn sẵn rồi. Chỉ chờ cơ hội bùng lên thôi.<br /><br />Con người thời này cũng thế, kể cả những kẻ lành lặn nhưng méo mó tâm hồn, có tầm nhìn hạn hẹp, đầu óc đố kỵ, tư tưởng bảo thủ cũng là thứ như vậy. <br /></i><br />(be cont)

qpham
27-05-2012, 09:21 AM
Chờ bài viết tiếp theo mà lâu quá home ơi!

vntsinh
27-05-2012, 09:21 AM
Sử ghi lại,<br />Các Hoạn quan trong cung đình nhà Đường là thế lực lớn đến mức họ ép bỏ vua cũ, lập vua mới đến 7 lần. Các vưa Đường Hiến Tôn, Đường Kính Tôn bị Hoạn quan sát hại. Các vua đường Thuận Tôn, Đường Văn Tôn ôm nỗi uất hận mà chết. Lịch sử còn ghi chép một sự kiện gọi là &quot;Sự kiện Cam Lộ&quot;. Bọn Hoạn quan do Cừu Sĩ Lương cho quân cấm vệ vây bắt và giết đến một nửa số quan lại trong triều. Sáu đó chúng phế bỏ Văn Tôn ...<br /><br />Đến thời Minh, thậm chí còn xuất hiện một đám quan liêu gọi là &quot;đảng thiến&quot;. Đời Minh Anh Tôn thì có Hoạn quan Vương Chấn tác oai tác quái. Đến mức các đại thần trong triều có người còn phải quỵ lụy Vương Chấn; có kẻ phải nhờ vả Vương Chấn để được cất nhắc. Trong đó, có viên thị lang Bộ công Vương Hựu luôn luôn tỏ mình chỉ là tôi tớ Vương Chấn.<br /><br />Đến đời Minh Thần Tôn, có hoạn quan Ngụy Trung Hiền tác oai tác quái tới mức mà quan Tể tướng Cố Bính Khiêm cũng chỉ làm một môn hạ tay sai của Ngụy Trung Hiền.<br /><br />Về thời Thanh, Từ Hy Thái Hậu có hai Hoạn quan thân cận là An Thức Hải và Lý Liên Anh đã làm sa đọa cả triều đình. Đặc biệt Lý Liên Anh được Từ Hy sủng ái suốt 40 năm, và quyền thế của y lớn đến mức các triều thần phải tung hô là &quot;Cửu thiên tuế&quot; !<br /><br />Thế giới của các hoạn quan là một thế giới người méo mó ghê ghớm. Từ thiếu hụt về thể chất dẫn đến những méo mó về mặt tâm tính. Chính hoạn quan đã nghĩ ra các trò dâm lạc bạo liệt nhất, có lẽ vừa phục vụ cho các vua khao khát lạc thú, vừa tìm cách phấn khích quái đản đầu óc cho mình.<br /><br />Có chuyện các Hoạn quan bắt hàng trăm cung nữ khỏa thân cho vua thưởng lãm, và cả bọn họ thưởng lãm. Có Hoạn quan bắt con gái đẹp về chỉ để massaga bộ phận đã mất của chúng. Có chuyện chúng tìm các cảm giác kỳ quái bằng cách uống thuốc có thành phần nhau thai, hoặc có tinh dịch trai tơ, thậm chí có não người !<br /><br />Trong lịch sử trung quốc, có những ông vua lại rất thích các trò do các Thái giám bày ra. Vĩ như Đường Huyền Tông đã rất sủng ái thái giám Cao Lực Sĩ. Thậm chí năm 695, Huyền Tông còn giao cho Cao Lực Sĩ điều tra hỏa hoạn ở đền Minh Tang. Họ Cao không cần điều tra gì hết, cho giết hết cả các tăng nam và xẻo vú tất cả các ni cô, và còn dùng biết bao nhục hình khác mà chỉ có cái đầu Hoạn quan quái dị mới nghĩ ra.<br /><br />Khi Cao Lực Sĩ chết, người ta thấy trong nhà y có 500 &quot;bà vợ&quot; do y dùng tiền và quyền cưỡng đoạt, dùng rất nhiều dụng cụ gây dâm, kích dục rất quái đản ! Có dạo, Đường Huyền Tông nảy ra ý là không muốn đàn bà đẹp nwax, Hoạn quan Vương Thắng Hiền liền đi tìm những phụ nữa dị hợm, xấu xí cho vua đổi món .... <br /><br />Cuối đời Từ Hy Thái Hậu có trăn trối: &quot;Mai sau, không để cho đàn bà tham dự vào việc triều chính. Càng không được để bọ Thái giám can vào. Nhà Thanh chính vì Thái giám mà sụp...&quot; <br /><br />Có lẽ, câu nói đó chỉ có ý nghĩa đối với những người nắm giữ Vương quyền, còn về góc độ CON NGƯỜI thì chưa đủ. May thay, đến nay, người Trung Quốc đã nhận thức ra được việc thiến người trên thế giới là một tội ác kinh hoàng. <br /><br />Và, thế giới các hoạn quan xưa cũng đã đi vào chuyện dĩ vãng, chỉ là những câu chuyện ngày xưa thôi !<br /><br /><i>(Phần của tg Anh Chi kết thúc - sẽ có phần tư liệu sưu tầm của tui tiếp theo), chúc các bạn ngon miệng - ý nhầm, ngon mắt</i>

minhphuong889300
27-05-2012, 09:21 AM
Bài hay, nếu có nhiều hơn những bài như thế này thì còn gì bằng. Đồng chí home có khi cứ men theo cái dạng này lại ngon, hỉ. Chờ bài tiếp của đồng chí. Thanks.

davidminhtang
27-05-2012, 09:21 AM
Trước khi viết tiếp về các chuyện có thể xem như là bí sử, vì thực ra cuộc sống Hoạn quan thì Sử cũng như Tư liệu ghi chép rất ít. Có chăng theo dạng bí tích, truyền khẩu hoặc tạp lục. Xin được phép giới thiệu với các bạn một số vị Hoạn quan trong lịch sử đã từng nổi đình nổi đám. Bắt đầu từ Trung quốc.<br /><br />Bạn sẽ thắc mắc hỏi tôi là sao toàn thấy Trung Quốc, không thấy Việt Nam. Từ từ tý nhé. Chế độ phog kiến Việt Nam ta là một bản sao từ phong kiến tập quyền Trung Quốc mà ra, chỉ có khác nhau ở một vài triều đại giữa &quot;truyền thần&quot;, &quot;truyền hiền&quot; hoặc &quot;thế tập&quot;. <br /><br />Dĩ nhiên, luôn có sự bắt chước lẫn nhau. Huống hồ gì nam nhân cung phụng hậu cung toàn nữ nhân hơ hớ xuân xanh ở lẫn cùng nhau, không kiếm người bị &quot;giám&quot; thì có mà loạn. Lịch sử TQuốc đã truyền đi một chuyện đời Tần Thủy Hoàng, có một nam nhân được che dấu thành hoạn quan qua lọt vòng kiểm tra ngặt nghèo là Lao Ái, kẻ có dương vật lớn có thể tra vào làm trục của bánh xe ngựa, diễn trò mê hoặc Triệu Cơ là mẹ của Tần Thủy Hoàng, sau hai người thông dâm nhau và có con:<br /><!--quoteo--><div class='quotetop'>QUOTE</div><div class='quotemain'><!--quotec-->Trang Tương Vương làm vua được ba năm thì mất, thái tử tên là Chính lên ngôi Tần Vương, tức Tần Thủy Hoàng, Triệu Cơ trở thành Thái hậu. Khi Tần Vương còn nhỏ tuổi, thái hậu Triệu Cơ thường lén lút tư thông với Lã Bất Vi. Về sau Tần Thủy Hoàng đã lớn, Lã Bất Vi sợ lộ sẽ mang vạ, bèn ngầm tìm kẻ dương vật lớn là Lao Ái, dùng làm người nhà. Lã Bất Vi sai Lao Ái làm trò vui, lấy dương vật của mình tra vào bánh xe gỗ đồng mà đi. Thái hậu Triệu Cơ nghe thấy muốn được Lao Ái cho riêng mình, Lã Bất Vi bèn cho Lao Ái giả làm hoạn quan rồi đem dâng cho thái hậu. Từ đó Triệu Cơ cùng Lao Ái thông dâm, sinh được hai con. Lao Ái đem hai đứa con đi dấu, định lập mưu đợi Tần Thủy Hoàng chết thì lập con hắn làm vua.<br /><br />Năm thứ 9 đời Thủy Hoàng, có kẻ phát giác Lao Ái thực không phải là hoạn quan và thường thông dâm với thái hậu. Tần Thủy Hoàng liền giao cho pháp đình xét, biết rõ sự tình. Tháng 9 năm đó Tần Thủy Hoàng giết cả ba họ nhà Lao Ái. Lại giết hai con do thái hậu đẻ ra và đày thái hậu Triệu Cơ sang đất Ung. Tháng 10 năm thứ 10, sau khi cách chức Lã Bất Vi, Tần Thủy Hoàng mới sang Ung đón thái hậu Triệu Cơ về Hàm Dương.<br /><br />Năm thứ 19 đời Thủy Hoàng, thái hậu Triệu Cơ mất, tên thụy là Đế thái hậu, chôn một chỗ với Trang Tương Vương ở Chỉ Dương.<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Ngay chính Tần Thủy Hoàng sau này cũng bị Triệu Cao - một hoạn quan - mưu sát. Dẫn đến việc Hạng Võ tiến vào A Phòng đốt sạch và tiền đề cho cuộc chiến tranh Lưu Bang - Hạng Võ đình đám lịch sử TQuốc với kết thúc là sự thành lập nhà Hán. Lưu Bang được xưng là Hán Cao Tổ.<br /><br /><!--quoteo--><div class='quotetop'>QUOTE</div><div class='quotemain'><!--quotec--><b>CÁC THÁI GIÁM ĐÌNH ĐÁM TRONG LỊCH SỬ TRUNG QUỐC</b><br />1. Triệu Cao: Hoạn quan thời nhà Tần. Triệu Cao bắt đầu được tin dùng sau vụ Kinh Kha âm mưu hành thích vua Tần. Nhờ Triệu Cao nhắc về cây kiếm đang đeo bên mình, Tần Thuỷ Hoàng mới đánh trả được Kinh Kha và may mắn thoát chết. Khi Tần Thuỷ Hoàng băng hà ở Sa Khâu trên đường tuần du miền Đông Nam, Triệu Cao đã cùng với thừa tướng Lý Tư thông mưu lập con thứ Hồ Hợi (Tần Nhị Thế) và bức tử thái tử Phù Tô. Về sau Triệu Cao lại tiếp tục giết Lý Tư và nhiều đại thần, một mình độc chiếm quyền hành. Tới khi quân khởi nghĩa của Lưu Bang đánh tới kinh thành, Triệu Cao bức tử Nhị Thế, lập Tử Anh để có cơ sở thương lượng. Tuy nhiên, cuối cùng Triệu Cao lại bị chính Tử Anh giết chết. Có thể nói việc để cho quyền lực nằm trong tay một kẻ độc ác và bất tài như Triệu Cao chính là một trong những nguyên nhân khiến vương triều nhà Tần hùng mạnh là thế mà chỉ duy trì được trong có 15 năm.<br /><br />2. Thập thường thị: Mười viên hoạn quan dưới triều hai vua Hoàn Đế, Linh Đế thời Đông Hán, đứng đầu là Trương Nhượng. Việc điều hành quốc gia bắt đầu rơi vào tay tầng lớp hoạn quan sau khi Hoàn Đế phải dựa vào nhóm này để trừ khử quyền thần Lương Ký. Trong thời gian nắm quyền, hoạn quan đã phát động hai đợt thanh trừng lớn, qua đó bức hại và loại trừ hầu hết các bậc trung thần hoặc những người không cùng phe cánh. Lịch sử gọi sự kiện này là “hoạ đảng cố”. Triều đình Đông Hán thời kỳ này trở nên vô cùng hủ bại, việc mua quan bán tước được định giá công khai. Dù sau này, thập thường thị có bị Viên Thiệu tiêu diệt nhưng triều Đông Hán không thể phục hồi được nữa. Nước Trung Quốc rơi vào loạn lạc, chiến tranh và chia cắt đưới thời Tam Quốc trong gần 100 năm còn nhà Hán thì bị nhà Nguỵ thay thế.<br /><br />3. Cao Lực Sĩ: Hoạn quan dưới triều Đường Huyền Tông. Là một sủng thần, Cao Lực Sĩ dựa thế hoàng để để tác oai tác phúc với các quan trong triều. Nhà thơ Lý Bạch, do có hiềm kích cá nhân với Cao Lực Sĩ, cũng bị y dèm pha phải từ quan. Khi An Lộc Sơn nổi loạn tấn công kinh đô Trường An, Cao Lực Sĩ theo xa giá của Huyền Tông bỏ thành chạy trốn. Đến gò Mã Ngôi, trước nguy cơ xảy ra binh biến, Cao Lực Sĩ đã giết Dương Quý Phi trấn an quân đội.<br /><br />4. Cừu Sĩ Lương: Hoạn quan dưới triều Đường Văn Tông. Nhà Đường trong suốt mười đời vua cuối cùng kể từ Đức Tông đến Chiêu Tông đều bị thế lực hoạn quan chi phối. Hoạn quan không chỉ thao túng triều chính mà còn giết vua và định việc phế lập. Đường Văn Tông dựa vào Cừu Sĩ Lương để giết tên hoạn quan đứng đầu triều đình lúc đó là Vương Thủ Trừng. Trừ khử được Thủ Trừng rồi, Văn Tông lai định trừ tiếp Cừu Sĩ Lương, vì chung quy y cũng là một hoạn quan, lại đang nắm binh quyền. Văn Tông phối hợp cùng một số đại thần thân tín, lập mưu lừa Cừu Sĩ Lương vào vườn thượng uyển, phục binh sẵn để giết. Sự việc bại lộ, Cừu Sĩ Lương cùng hoạn quan nhốt vua vào nội cung làm con tin, rồi cho quân truy bắt và giết toàn bộ những người dự mưu, tổng cộng trên một ngàn người. Đây là sự kiện “Cam lộ chi biến” nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Sau biến cố này, Văn Tông hoàn toàn bị đặt dưới sự giám sát của hoạn quan. Nhà Đường tiếp tục lún sâu hơn vào sự suy tàn và cuối cùng bị diệt vong.<br /><br />5. Trịnh Hoà: Hoạn quan dưới triều Minh Thành Tổ. Ông tên thật là Mã Tam Bảo, tín đồ Hồi giáo sống tại Vân Nam. Do thông minh tháo vát, Trịnh Hoà được Minh Thành Tổ yêu mến và tin dùng. Ông là nhà hàng hải nổi tiếng nhất của Trung Quốc. Từ năm 1405 đến năm 1433, Trịnh Hoà đã bảy lần chỉ huy hạm đội đi chu du qua vùng biển Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, ghé thăm hơn 30 quốc gia, xa nhất là Somalia thuộc châu Phi. Dựa trên một số thư tịch và bằng chứng lịch sử, cựu thuyền trưởng tầu ngầm người Anh là Gavin Menzies gần đây đã đưa ra một giả thuyết là chính các đô đốc dưới quyền Trịnh Hoà, trong chuyến đi thứ sáu, đã phát hiện ra mũi Hảo Vọng, châu Mỹ, châu Nam Cực, châu Úc và Bắc Cực.<br /><br />6. Vương Chấn: Hoạn quan dưới triều vua Minh Anh Tông. Xuất thân là một tên lưu manh, Vương Chấn tình nguyện xin hoạn vào cung làm thái giám để tránh bị phạt xung quân do phạm tội. Anh Tông hủ bại, không màng gì đến việc nước nên Vương Chấn có cơ hội nắm đại quyền về quân sự và chính trị. Năm 1450, y ép nhà vua thân chinh đem nửa triệu quân đi đánh bộ lạc Ngoã Lạt tại vùng Hà Bắc. Do không biết cách dùng binh, Vương Chấn thua trận tại Thổ Mộc Bảo. Vua Anh Tông bị bắt, 25 vạn quân bị giết, Vương Chấn cũng bị các tướng làm binh biến giết chết.<br /><br />7. Lưu Cẩn: Hoạn quan dưới triều vua Minh Vũ Tông. Do hầu hạ Vũ Tông từ lúc còn chưa lên ngôi nên Lưu Cẩn rất được nhà vua quý chuộng, phong làm Tư lễ giám, chuyên phê duyệt sớ của các quan tấu trình. Với chức quan đó, Lưu Cẩn giả mệnh hoàng đế tự ý định đoạt mọi công việc trong nước. Dân gian khi đó gọi Lưu Cẩn là “Hoàng đế đứng”, ám chỉ quyền lực của y, để phân biệt với “Hoàng đế ngồi” là Vũ Tông. Lưu Cẩn nắm quyền trong hơn năm năm thì bị một số quan lại phối hợp lật đổ.<br /><br />8. Nguỵ Trung Hiền: Hoạn quan dưới triều vua Minh Hy Tông. Mặc dù có cái tên thì rõ hay nhưng họ Nguỵ là một kẻ vô cùng gian hiểm. Đứng đầu cơ quan đặc vụ, y kéo bè kết đảng, mua quan bán tước, làm đủ chuyện xấu xa. Những kẻ hùa theo họ Nguỵ được gọi là “Yêm đảng” (Yêm: thiến, hoạn). Yêm Đảng có vây cánh khắp trong cả nước, tiến hành công kích, hãm hại rất nhiều trung thần. Quyền lực của bản thân Nguỵ Trung Hiền cũng rất lớn, mọi người phải đối đãi với hắn như hoàng đế. Chỉ tới sau khi Hy Tông chết, vua kế tiếp là Sùng Trinh mới trừ khử được y.<br /><br />9. Lý Liên Anh: Hoạn quan thời Từ Hy Thái Hậu nhà Thanh. Là đại thái giám được Từ Hy tin cẩn, Lý Liên Anh có quyền sinh quyền sát rất lớn. Từ vương tôn, quý tộc cho đến quan lại trong triều không ai dám làm phật ý hắn. Theo lệnh Từ Hy, Lý Liên Anh đã cho giam lỏng vua Quang Tự vì ông này có ý định cùng với một số nhà cải cách như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu cải tổ lại chính quyền, trái với quan điểm lãnh đạo đất nước của Từ Hy Thái Hậu.<br />Sử gia nổi tiếng Trung Quốc Tư Mã Thiên thời Tây Hán từng bị khép tội “phủ hình” (hoạn). <br />Tác giả: Phạm Thúc Trương Lương<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Nếu có thời gian, tui đi chụp ảnh mấy chỗ để post cho các bạn về các phế tích của Thái giám còn sót lại tại đất Thừa Thiên và để bắt đầu cho phần tiếp theo. <br /><br />Bà con ủng hộ cái nào.

henry_le1
27-05-2012, 09:21 AM
<b>GIỚI THIỆU NHỮNG HOẠN QUAN NỔI TIẾNG CỦA CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM VÀ CẢ LỊCH SỬ VIỆT NAM</b><br /><br />Đầu tiên, như tui đã nói là vương triều phong kiến nước ta nó cũng có những nét tương đồng với Trung Quốc. Xét về mặt môtíp. Từ chỗ đang yên đang lành với chế độ Lạc Hầu - Lạc Tướng, đùng một phát, quất luôn 1000 năm bị đô hộ. Kết thúc với sự giao thoa văn hóa, thể nào rồi cũng có những sự giống nhau khó chối cãi. Kể cả về mặt văn hóa, tư tưởng triết học, giáo dục ...<br /><br />Kiên cường thay, ta còn giữ lại cái nền đạo Phật Luy Lâu vốn dĩ phát triển theo đường lối khác hẳn bên Tàu. Và nền văn hóa thôn xóm, bản làng, mường chạ ... với tinh thần phản kháng quyết liệt đã giữ chúng ta không thể bị đồng hóa hoặc là bị Hán hóa như người Mãn Châu, Quảng Tây, người Mông Cổ, thậm chí như tộc nước Thổ Phồn - Tây Tạng với trường phái Mật Tông nổi tiếng về tu tập (Khi nào có điều kiện tui post tư liệu về chủng tộc, đất nước và tôn giáo đất nước này cho các bạn đọc, gọi là khu tự trị Tây Tạng).<br /><br />Và cương vực nước ta qua các thời đại chẳng những được giữ được phần lớn, còn có cơ hội vươn Nam tiến, mở rộng qua các thời kỳ của lịch sử. Tuy lịch sử hiện đại với nhiều công cụ khảo cứu đã chứng minh được dã tâm xâm lược và mở rộng đất nước phục vụ cho dân tộc của nhà cầm quyền Trung quốc đã khiến chúng ta nhiều phen khốn đốn, thậm chí Hoàng Sa - Trường Sa còn nhiều điều khó khăn mà không một sớm một chiều giải quyết được.<br /><br />Sự bành trướng của nước Tàu từ xa xưa cho đến mãi về tương lai nữa vẫn là một điều bất khả ngăn cản - bản chất giống nòi là vậy rồi - tuy nhiên, Việt Nam ta vẫn là nước không thể đồng chủng với người Tàu, cho dù có một số họ lớn ở Việt Nam là từ sự thiên di của người Tàu, hoặc là những người có công lớn trong lịch sử Việt Nam từng là người Tàu như cha con Mạc Thiên Tứ - Mạc Tử Dung phò trợ Nguyễn Ánh chẳng hạn, có công trấn áp vùng biên ải Tây Nam Bộ thời kỳ đầu. Người Việt Nam vẫn là người Việt Nam với những phẩm chất riêng biệt và nhân văn riêng.<br /><br />Thể hiện rõ trong vấn đề này là việc sử dụng các quan hoạn trong triều chính, nước ta tuy có, nhưng không đến nỗi trở thành một thứ dụng cụ mua quan bán tước, không phải là một thứ dịch vụ trào lộng đến mức gièm pha và nhiều thủ đoạn như ở bên Tàu.<br /><br />Việt Nam ta cũng tồn tại một cuộc sống hoạn quan, nhưng thầm lặng và có phần bị rẻ rúng, khó có thể là một thứ gì đó khuynh đảo chính trường, kiếp nạn tai ương.<br /><br />Người được xem là vị hoạn quan đầu tiên danh tiếng và nổi bật trong lịch sử Việt Nam chúng ta, người được xem như là nỗi khiếp sợ của quân Tàu trong dã tâm thôn tính dân tộc Việt Nam đã bị ông cho một bài học đích đáng về chiến tranh và chiến lược. Xung quanh cái sự &quot;hoạn&quot; của ông cũng lắm điều thú vị, sử gia giải thích, bản thân ông làm chức Thái Úy, làm quan Nhập Nội Hành Khiển dưới thời Lý, vì chức này nên phải &quot;thiến&quot; đi mới được vào triều chính đảm đương sự vụ. <br /><br />Ông là Ngô Tuấn.<br /><br /><i>* Bàn thêm tý: VN mình hiện đại mà áp dụng thì cũng nhiều cái vui nghe <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/biggrin.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":D" border="0" alt="biggrin.gif" /></i><br /><br />Ngô Tuấn là tên tục của Lý Thường Kiệt. Sách sử không nói nhiều, chỉ biết ông tự thiến để được trở thành hầu cận thân của Vua. Các bạn có thể tìm đọc thêm ở Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, lập được nhiều danh trạng và được xem như là anh kết nghĩa của Lý Thái Tông. Làm quan qua 3 triều đại nhà Lý, làm đến chức Thái Úy và mất năm 87 tuổi (thọ khiếp thật <img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/biggrin.gif" style="vertical-align:middle" emoid=":D" border="0" alt="biggrin.gif" />)<br /><br />Nói chung về họ của Lý Thường Kiệt thì các bản chép khá nhiều là họ Ngô, song có người bảo họ Quách, họ Nguyễn .. họ quái gì nữa. Ây dà, mà ta cứ gọi quách cái tên sử sách lưu truyền cho khỏe. Ai muốn vạch tung đất cày tìm bọ thì cứ tự nhiên, đừng bắt bẻ nhau nghe. Mệt lắm.<br /><br /><!--quoteo--><div class='quotetop'>QUOTE</div><div class='quotemain'><!--quotec-->Tiểu sử<br /><br />Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, ông tên thật là Ngô Tuấn, là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu của Ngô Ích Vệ, chắt của Sứ quân Ngô Xương Xí và cháu 5 đời của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập–hoàng tử trưởng của Ngô Quyền , người phường Thái Hòa, thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay. Có tài liệu lại nói quê ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, huyện Gia Lâm ngày nay).<br /><br />Gia đình ông nối đời làm quan, nhiều mưu lược, có tài làm tướng. Khi còn ít tuổi, vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn chi hậu, là thái giám theo hầu Lý Thái Tông, thăng dần đến chức Nội thị sảnh đô tri. Lý Thánh Tông phong chức Thái bảo, ban tiết việt để đi thăm hỏi lại dân ở Thanh Hóa, Nghệ An. Tháng 2 năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông thân đi đánh Chiêm Thành, ông làm tướng tiên phong, bắt được vua Chiêm là Chế Củ .<br /><br />Chiến tranh với Tống.<br /><br /><br /><br />Chiến dịch Ung châu<br /><br />Năm 1075, Vương An Thạch cầm quyền chính nhà Tống, tâu với vua Tống là Đại Việt bị Chiêm Thành đánh phá, quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu Di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động, đóng thuyền bè, tập thủy chiến, cấm các châu huyện không được mua bán với Đại Việt.<br /><br />Vua biết tin, sai ông và Tôn Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh. Quân bộ gồm 60.000 người do các tướng Tông Đản, Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An chỉ huy, tổng chỉ huy là Tông Đản. Bộ binh tập trung ngay ở các châu Quảng Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô Mậu rồi tràn sang đánh các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn, châu Tây Bình, Lộc Châu. Một cánh quân khác đóng gần biên giới Khâm châu cũng kéo tới đánh các trại Như Hồng, Như Tích và Đề Trạo, &quot;quân ta tới đâu như vào nhà trống không người&quot;.<br /><br />Lý Thường Kiệt chỉ huy 40.000 quân thủy cùng voi chiến[cần chú thích] đi đường biển từ châu Vĩnh An (Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh các châu Khâm, Liêm; Tông Đản vây châu Ung. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, quân Nam tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân mà không phải giao chiến một trận nào. Ba ngày sau, 2 tháng 1 năm 1076, Liêm Châu cũng thất thủ.<br /><br />Khi được tin hai châu Khâm, Liêm đã mất, nhà Tống rất hoang mang, lo ngại, các tướng ở địa phương bối rối. Ti kinh lược Quảng Nam tây lộ vội vã xin viện binh: 20.000 quân, 3.000 con ngựa, xin thêm khí giới, đồ dùng và một tháng lương, và xin được điều động các dân khê động, tất cả lấy dọc đường từ Kinh đến Quảng Tây. Để điều khiển quân được mau chóng, ti ấy cũng xin dời đến thành Tượng, gần phía bắc Ung Châu .<br /><br />Trong lúc bối rối, triều đình Tống đối phó rất lúng túng. Vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế Châu và làm kinh lược sứ Quảng Tây, đồng thời xuống chiếu cho các quan lại địa phương, dặn rằng: &quot;Nếu xem chừng quân Giao Chỉ tới đâu mà không đủ quân giữ, thì chỉ giữ lấy chỗ hiểm mà thôi. Chỗ nào có tiền, vải, lương thực, thì phải chở tháo đi, đừng để lọt vào tay địch&quot; Sau đó lại ra một lệnh trái ngược, nói rằng: &quot;Nếu quân bỏ thành đi chỗ khác, thì lo rằng dân rối sợ. Hãy bảo các quan Ti đều phải trở lại thành mình&quot;.<br /><br />Trên các mặt trận, quân Lý hoàn toàn làm chủ. Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm và Liêm Châu tiến lên phía Bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài chừng 120 cây số, nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía đông bắc, chiếm lấy Bạch Châu, dường như để chặn quân tiếp viện của Tống từ phía đông tới. Hẹn ngày 18 tháng 1 năm 1076, hai đạo quân sẽ cùng hội lại vây chặt lấy Ung Châu.<br /><br />Ung Châu là một thành lũy kiên cố, do tướng Tô Giám cùng với 2.800 quân cương quyết cố thủ; để chờ quân các châu và quân triều đình tới tiếp cứu: &quot;Cuộc chiến đấu ở thành Ung Châu, bởi thế, sẽ rất gay go, quyết liệt, và sẽ là một trường tranh đấu giữa mưu trí của Lý Thường Kiệt và lòng dũng cảm của Tô Giám&quot;.<br /><br />Đô giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Lý Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay thuộc thành phố Nam Ninh, khu tự trị Quảng Tây) phá tan được, chém Trương Thủ Tiết tại trận.<br /><br />Tri Ung Châu là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày, dùng máy bắn đá bắn vào thành giết được nhiều người ngựa trong thành, quân Tống cũng dùng cung thần tý bắn ra, làm chết nhiều quân Nam và voi chiến. Thành Ung Châu rất vững, quân Nam phải dùng vân thê, là một thứ thang bắc truyền nối nhau rất cao, để leo lên thành, nhưng vẫn không tiến lên được. Quân Nam dùng đến kế đào đường hầm để đánh vào thành, cũng không vào nổi. Sau cùng quân Việt dùng hỏa công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong thành thiếu nước, không thể chữa được cháy. Cuối cùng quân Nam chồng bao đất cao đến hàng trượng trèo lên thành. Ngày thứ 42, thành bị hạ, tướng chỉ huy Tô Giám tự thiêu để khỏi rơi vào tay giặc . Người trong thành không chịu hàng, nên bị giết hết hơn 58.000 người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 100.000, tuy nhiên quân Lý cũng tổn thất đến một vạn người và nhiều voi chiến. Lý Thường Kiệt bắt sống người ba châu ấy đem về nước. Nhà Lý cho những người phương bắc đó vào khai phá vùng Hoan - Ái (Thanh - Nghệ).<br /><br />Lý Thường Kiệt sai phá thành Ung Châu, lấy đá lấp sông để ngăn ngừa quân cứu viện của Tống. Rồi ông tiếp tục tiến lên phía bắc, định lấy Tân Châu. Viên quan coi Tân Châu, nghe thấy quân Nam kéo gần đến thành, liền bỏ thành chạy trốn. Mục tiêu hoàn thành, Lý Thường Kiệt cho rút quân về.<br /><br /><br /><br />Phòng thủ sông Như Nguyệt<br /><br />Do tiền đồn ở Ung châu là căn cứ tập trung quân để nam tiến bị phá tan, nhà Tống phải điều động thêm nhân lực và lương thảo để thực hiện chiến tranh với Đại Việt. Nhà Tống gặp nhiều khó khăn để chuẩn bị nhân lực vật lực cho cuộc viễn chinh. Trong khi mộ quân, vua Tống sợ quân Nam lẩn vào làm gián điệp. Ngày 10 tháng 3 năm 1076, có chiếu dặn các lộ ven bể, như Quảng Tây, Quảng Đông, Giang Tây, Phúc Kiến, phải coi chừng việc ấy. Ung Châu, như đã đề cập, là một cứ điểm quân sự quan trọng, đồng thời cũng là nơi dự trữ nhiều kho khí giới, lương thực của Tống. Sau khi thành bị phá hủy, viên chuyển vận sứ Quảng Tây là Lý Bình Nhật muốn tu bổ thành gấp, đã phải dùng đến năm vạn quân để sửa chữa và bắt dân Quảng Đông tới đắp lại thành. Nhưng đến tháng 4 năm 1076, thành Ung Châu cũng chưa đắp xong, và đường vận lương thực cũng chưa thông, vì sông Ung Châu trước kia bị quân Nam đổ đá lấp.<br /><br />Tháng 3 năm 1076, nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9 tướng, hẹn với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt, nhưng quân Chiêm Thành và Chân Lạp không đến. Quân Tống viễn chinh lên đến 10 vạn quân, một vạn ngựa và hai mươi vạn dân phu, khí thế rất mạnh mẽ, nhất là kỵ binh Tống, nhưng quân Tống muốn phát huy kî binh thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm trở, tới chỗ bằng, thì ngựa mới tung hoành được.<br /><br />Thế thủ của quân Nam thì dựa vào sông núi, các đèo hiểm trở, các sông rộng và sâu. Từ trại Vĩnh Bình vào châu Lạng, phải qua dãy núi rậm, có đèo Quyết Lý, ở trên đường từ tỉnh Lạng Sơn đến Đông Mô ngày nay, vào khoảng làng Nhân Lý, ở phía bắc châu Ôn. Rồi lại phải qua dãy núi lèn (đá không phá đất), đá đứng như tường, ở giữa có đường đi rất hiểm: đó là ải Giáp Khẩu, tức là ải Chi Lăng, ở phía bắc huyện Hữu Lũng thuộc Bắc Giang ngày nay . Đèo ải tuy hiểm, nhưng có thể dùng kị binh hoặc vượt qua, hoặc len lỏi qua rừng để tránh. Còn sông sâu rộng, thì ngựa khó lòng qua nổi. Phòng thủ sông khá dễ, đóng cọc và dùng rào giậu ở bờ Nam, cũng đủ ngăn quân địch.<br /><br />Vả lại thủy quân Nam, từ đời nhà Ngô, đã lập nhiều chiến công lừng lẫy. Thế sông ở miền Bắc Việt lại rất tiện cho thủy chiến. Sáu ngành sông chầu về Vạn Xuyên (Vạn Kiếp), là căn cứ tự nhiên của thuỷ quân Nam. Hoặc phải ra cửa Bạch Đằng chắn quân thuỷ địch, hoặc phải vào sông Đào Hoa (sông Thương), hoặc phải vào sông Nam Định (sông Cầu) hoặc phải đi vào sông Thiên Đức (sông Đuống), để chặn địch qua sông, quân Nam chỉ cần đóng thuyền ở bến Lục Đầu thì đi đường nào cũng rất tiện và chóng.<br /><br />Các tướng lĩnh thuộc Man Động như: Nùng Quang Lãm, Nùng Thịnh Đức coi ải Hà Nội, Hoàng Kim Mãn và Sầm Khánh Tân giữ châu Môn, Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu, Lưu Kỷ coi Quảng Nguyên khi quân Tống sang đã đầu hàng[. Duy có phò mã Thân Cảnh Phúc giữ châu Quang Lang (Lạng Sơn) không những không chịu hàng mà còn rút vào rừng đánh du kích, giết rất nhiều quân Tống. Những tướng lĩnh này trước kéo quân qua đất Tống, đánh rất giỏi. Nhưng sau quân Tống tràn sang đánh báo thù, lúc đầu họ cự chiến, sau vì thất trận và vì sự dụ dỗ, nên đã đầu hàng, thậm chí như Hoàng Kim Mẫn còn chỉ đường bày mưu cho Tống. Sách Quế Hải Chí kể: &quot;Viên tri châu Quang Lang là phò mã, bị thua, bèn trốn vào trong rừng Động Giáp, rồi du kích hậu phương quân Tống. Rình lúc bất ngờ đánh úp quân địch làm chúng rất sợ hãi&quot;.<br /><br />Quân Tống tiếp tục tràn xuống, theo đường tắt qua dãy núi Đâu Đỉnh, tới phía tây bờ sông Phú Lương; trong khi đó, một cánh quân tách ra, vòng sang phía đông đánh bọc hậu quân Nam ở Giáp Khẩu (Chi Lăng) và thẳng tới sông Cầu.<br /><br />Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, lập chiến lũy sông Như Nguyệt để chặn quân Tống. Sông Cầu từ địa phận Cao Bằng chảy đến Lục Đầu, hợp với sông Bạch Đằng. Từ Lục Đầu ra đến bể, là một cái hào tự nhiên sâu và rộng, che chở cho đồng bằng nước Việt để chống lại tất cả mọi cuộc ngoại xâm đường bộ từ Lưỡng Quảng kéo vào. Đối với đường sá từ châu Ung tới Thăng Long, thì sông Bạch Đằng không can hệ, vì đã có sông Lục Đầu, là cái hào ngăn trước rồi. Trái lại, sông Cầu rất quan trọng. Thượng lưu sông Cầu qua vùng rừng núi rất hiểm. Chỉ có khoảng từ Thái Nguyên trở xuống là có thể qua dễ dàng, và qua rồi thì có đường xuôi. Nhưng sau sông, ở về phía tây có dãy núi Tam Đảo, là một cái thành không thể vượt. Chỉ có khoảng từ huyện Đa Phúc đến Lục Đầu là phải phòng ngự bờ nam mà thôi. Trong khoảng ấy, lại chỉ khúc giữa, từ đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền, là có bến, có đường qua sông để tiến xuống miền nam một cách dễ dàng thẳng và gần.<br /><br />Lý Thường Kiệt đem chủ lực chặn con đường từ trại Vĩnh Bình đến sông Nam Định (sông Cầu) bằng cách đặt những doanh đồn và phục binh ở hai ải tiếp nhau: ải Quyết Lý ở phía bắc châu Quang Lang và ải Giáp Khẩu (Chi Lăng) ở phía nam châu ấy. Nếu hai phòng tuyến ấy bị tan, thì phải cố thủ ở phòng tuyến thứ ba, tức là nam ngạn sông Nam Định. Để cản quân Tống qua sông, Lý Thường Kiệt sai đắp đê nam ngạc cao như bức thành. Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dãy thành hào, che chở cả vùng đồng bằng Giao Chỉ. Thành hào ấy dài gần trăm cây số, khó vượt qua và nhưng lại dễ phòng thủ hơn là một thành lẻ như thành Thăng Long.<br /><br />Cùng lúc đó thuỷ binh Tống do Hòa Mân và Dương Tùng Tiểu chỉ huy đã bị thủy quân Nam do Lý Kế Nguyên điều động, chặn đánh ngoài khơi lối vào Vĩnh An. Quân Tống có kỵ binh mở đường tiến công quyết liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Nam tràn qua sông Như Nguyệt, nhưng quân Nam đều kịp thời phản kích, đẩy lùi quân Tống. Lý Thường Kiệt còn dùng chiến tranh tâm lý để khích lệ tinh thần quân Nam chiến đấu. &quot;Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ, táng đảm, không đánh đã tan&quot;.<br /><br />Quân Tống tiến không được, thoái không xong, hao mòn vì chiến sự và khí hậu, không được thủy quân tiếp viện. Quân Nam lại tập kích, doanh trại của phó tướng Triệu Tiết bị phá, dù quân Tống cũng giết được hoàng tử quân Nam là Hoàng Chân và Chiêu Văn. Quân Tống 10 phần chết đến 6, 7 phần.<br /><br />Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà người Nam bị chiến tranh liên miên cũng nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin &quot;nghị hoà&quot; để quân Tống rút về. Quách Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân. Sách Việt Sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh dẫn cổ sử nói về nội tình của nhà Tống về sự kiện này: Triều thần nhà Tống cho rằng &quot;Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không thì chưa biết làm thế nào&quot;.<br /><br />Hoàng Xuân Hãn, tác giả sách Lý Thường Kiệt đã bình phẩm: &quot;Giả như các mặt trận đầu có quân trung châu, thì thế thủ xếp theo trận đồ của lý Thường Kiệt đã dàn ra, có lẽ đánh bại Tống từ đầu. Nhưng thổ quân các châu vội hàng trước đại quân Tống. Quân tiên phong không giữ nổi các ải. Cuối cùng là nhờ phòng tuyến sông Cầu khéo đặt, và thủy quân ta mạnh cho nên Lý Thường Kiệt đã ngăn cản được sức tiến công quyết liệt của Tống&quot;<br /><br /><br /><br />Chiến tranh với Chiêm Thành<br /><br />Ngoài việc cầm quân đánh Tống, ông còn hai lần trực tiếp đi đánh Chiêm Thành vào các năm 1075 và 1104. Những năm cuối đời, ông còn cầm quân đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (1103). Năm 1104, vua Chiêm Thành là Chế Ma Na (Jaya Indravarman 2, 1086-1113) đem quân đánh và lấy lại 3 châu Địa Lý v.v. mà vua Chế Củ đã cắt cho Đại Việt. Đến đây, Lý Thường Kiệt đi đánh, phá được, Chế Ma Na lại nộp đất ấy cho Đại Việt.<br /><br /><br /><br />Khai quốc công<br /><br />Vì có công, ông được ban &quot;quốc tính&quot;, mang họ vua (do đó có họ tên là Lý Thường Kiệt), và phong làm Phụ quốc thái phó, dao thụ chư trấn tiết độ, đồng trung thư môn hạ, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, phụ quốc thượng tướng quân, tước Khai quốc công, sau lại có công nữa, được phong làm Thái úy. Ông là vị thái giám đầu tiên của các triều đại phong kiến Việt Nam có công đức và đóng góp cho đất nước.<br /><br />Tháng 6 năm 1105, Thái úy Lý Thường Kiệt mất, thọ 87 tuổi. Vua Lý Nhân Tông ban cho ông chức Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, cho người em là Lý Thường Hiến được kế phong tước hầu.<br /><br />Nam quốc sơn hà là bài thơ mà nhiều tài liệu sử sách cũng như dân gian cho là của ông viết và cho đọc tại đền thờ anh em Trương Hống, Trương Hát trên bờ sông Như Nguyệt để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt chống lại quân Tống.<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Bài thơ &quot;Thần&quot; nổi tiếng:<br /><img src="http://thanglong.ece.jhu.edu/Covan/Lythuongkiet/nqsh.gif" border="0" class="linked-image" /><br />Phiên âm Hán-Việt<br />Nam quốc sơn hà Nam đế cư <br />Tiệt nhiên định phận tại thiên thư <br />Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm <br />Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.<br /><br />Các bản dịch<br />Núi sông Nam có Vua Nam Việt <br />Trên sổ trời riêng biệt phân minh <br />Sao người xâm phạm, nghịch binh? <br />Chờ coi người sẽ tan tành hư không. <br />Bản dịch khác:<br /><br />Sông núi nước Nam vua Nam ở <br />Rành rành định phận tại sách trời <br />Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm <br />Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.