camlyvt
27-05-2012, 09:21 AM
<a href="http://blog.360.yahoo.com/blog/slideshow.html?p=1&id=8Dg_gsUgbqd30IexHaRtOiRqcHED AVA-" target="_blank"><br /></a> <br /><br /> Cho đến nay, khu di tích Tháp Bà (hay còn gọi là tháp Pô Nagar) ở phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là một quần thể kiến trúc đền tháp Champa có qui mô vào loại lớn nhất còn lại ở miền Trung Việt Nam. Những bia ký có niên đại sớm nhất hiện còn ở đây (bia của Satyavarman, niên điểm 784 ) cho biết, từ trước đó, địa điểm này vốn đã là một trung tâm tôn giáo tín ngưỡng của thị tộc Cau - một trong hai nửa của vương quốc Chămpa sau này. Trong vòng một thế kỷ, dưới vương triều Panduranga (hay thời Hoàn vương, 758-859) nơi đây đã được xây dựng thành một thánh đường tôn giáo của quốc gia. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, về sau vị trí của khu đền tháp PôNagar không còn như trước song nó vẫn luôn được các vương triều kế tiếp đặc biệt quan tâm, cả trong xây dựng lẫn việc thờ phụng vị thần được thờ ở đây cho đến ngày vùng đất Kauthara trở thành một bộ phận của quốc gia Đại Việt vào năm 1653.<br /><br /> Nhìn chung, những công trình xây dựng ban đầu ở khu di tích đền tháp này không còn nữa. 5 công trình kiến trúc hiện nay đều có niên đại từ thế kỷ 11-13 và đã qua tu sửa nhiều lần nhưng các nhà nghiên cứu vẫn nhận thấy ở Tháp Bà Nha Trang những đặc điểm khá tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật của đền tháp Champa, trong giai đoạn chuyển tiếp từ Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định rất tiêu biểu.<br /><br /> Khi đề cập tới tháp Chăm, nhà nghiên cứu mỹ thuật phương Đông B. Grôliê có viết: “ về cấu trúc, các tháp Chăm đẹp hơn các đền tháp Khmer” và nguyên nhân tạo nên vẻ đẹp của tháp Chăm, theo B. Grôliê: “ chắc chắn là do họ giữ được ý thức về chất liệu ( gạch-NCB ) và biết tôn trọng bản chất của nó; trong khi đó, người Khmer có xu hướng dựng lên một khối bằng bất cứ vật liệu nào, rồi chạm khắc lên đó. Nghệ thuật kiến trúc Chăm cân bằng, có nhịp độ và sáng sủa hơn, nó tạo cho tháp Chăm một vẻ đẹp không thể bỏ qua” (1: 136).<i> </i>Có thể nói, vẻ đẹp huyền bí của các đền tháp Chăm là điều không thể phủ nhận được; và một trong những yếu tố tạo nên sự độc đáo của các tháp Chăm chính là chất liệu. Tuy nhiên, những đặc điểm khác về kiến trúc, nghệ thuật được thể hiện trong tổng thể cũng như từng chi tiết của mỗi kiến trúc cũng rất quan trọng để góp phần làm nên vẻ đẹp huyền bí nói trên và những yếu tố này đã tạo cho Tháp Bà Nha Trang, vốn là khu đền tháp được triều đình trung ương xây dựng suốt trong một thời gian dài, thật sự trở thành những công trình đền tháp Chămpa hết sức đặc sắc. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến một số đặc trưng cơ bản về nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí ở di tích Tháp Bà Nha Trang.<br /><br /> <b>I- NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC:</b><br /><br /> <i>I.1- Về mặt bằng xây dựng:</i><br /><br /> Khu đền tháp này vốn được xây dựng từ trước năm 774 (sCn ), trên một ngọn núi có tên gọi là núi Cù Lao nằm ở độ cao khoảng 20 m so với mặt biển. Như vậy, đây là một quần thể kiến trúc đền tháp Champa sớm được xây dựng trên đồi cao và đặc điểm này sẽ được thể hiện rất rõ trong các giai đoạn tiếp theo, nhất là từ giai đoạn Bình Định trở đi. Từ đầu thế kỷ, H. Parmentier cho biết quần thể kiến trúc này vốn có 3 mặt bằng khu vực xây dựng từ thấp lên cao, bao gồm tháp cổng (Gopura) ở dưới cùng; tiếp đến là kiến trúc tiền đình ( Mandapa ); và mặt bằng trên cùng là địa điểm xây dựng các ngôi tháp (1908 : 2 ) với tổng diện tích là 57.500 m <sup>2</sup>. Tuy nhiên, đến nay tháp cổng không còn nữa và gần đây người Việt mới xây dựng lại hệ thống tường rào và tháp cổng ( cũng là cổng ra vào khu tháp ). Bởi vậy, mặt bằng xây dựng của nó chỉ còn có hai; giữa hai khu vực mặt bằng này được nối với nhau bằng một hệ thống cầu thang với 30 hàng bằng gạch, độ dốc rất cao. <br /><br /> Để tạo ra mặt bằng xây dựng, người Chăm đã san ủi một phần phía Đông của hòn núi ở độ cao khoảng 10 m để xây dựng kiến trúc tiền đình; đồng thời trên đỉnh núi cũng được san lấp khá mạnh ở phía Đông Bắc với diện tích khoảng 6.500 m <sup>2</sup> để xây dựng các ngôi tháp. Do ngọn núi này được cấu tạo bằng đất đỏ pha cát cùng rất nhiều đá gốc loại đá hoa cương, granit … cho nên khi tạo ra mặt bằng xây dựng, người xưa đã chuyển những khối đá rất lớn song ở những vị trí cần thiết nhằm tạo ra cảnh quan cùng ý nghĩa tôn giáo ( rìa phía Tây Bắc, Tây Nam của ngọn đồi ) hoặc những nơi có thể tận dụng để xây phần móng của các công trình thì những tảng đá này vẫn được để lại như ở kiến trúc tiền đình, phế tích tháp D… .<br /><br /> <i>1.2- Về bố cục:</i><br /><br /> Quan sát những dấu vết của những phế tích còn lại cũng như sự hiện hữu của các ngôi tháp, về cơ bản các tháp ở đây được xây dựng theo những bố cục truyền thống và được thể hiện trên sự phân bố về mặt bằng với hai hàng rõ nét. Hàng thứ nhất gồm có 3 tháp: tháp Chính, tháp Nam và tháp Đông Nam. Hàng thứ hai cũng có 3 ngôi tháp: tháp Tây Bắc, tháp Tây ( Tour Ouest : E, đã bị hủy hoại) và tháp Tây Nam ( ngôi đền D cũng bị hủy hoại). Hiện nay, dấu vết hiện còn ở phía Tây, Tây Nam cho ta nhận thấy trước đây có một bức tường bao quanh lấy nhóm trung tâm khoanh thành một khu tôn nghiêm theo mô hình kiến trúc truyền thống.<br /><br /> Trong chuyên khảo <b><i>“Những ghi chép mới về đền thờ Pô Nagar ở Nha Trang” </i></b>(1908), H. Parmentier cho ta biết : <i>“ toàn bộ công trình gần như hướng về phía Đông. Hiện nay nó gồm có một chiếc tháp chính phía Đông Bắc; một chiếc tháp nhỏ hơn ở phía Nam; một chiếc tháp hình thù đặc biệt ở phía Tây Bắc và một khám thờ ở tận cùng phía Nam; những di tích của một bức tường thành bao bọc lấy tất cả và những thứ còn xót lại của một phòng lớn thì trải ra ở phía Đông ở mặt bằng thấp hơn”. </i><br /><br /> Là một quần thể kiến trúc phục vụ cho hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng theo quan niệm của An Độ giáo, cho nên Tháp Bà được xây dựng trở thành thánh đường hay đền thờ là dinh thự của các vị thần của An Độ giáo ngự ở trung tâm thế giới trên núi Mêru và được thể hiện dưới dạng tượng thờ. Vì vậy, đền thờ- ngôi nhà của thần ở hạ giới- phải thể hiện hình như núi Mêru thu nhỏ. Cho nên, người An Độ hoặc người Chăm đều gọi thánh đường bằng từ đevàlaya ( nơi thờ thần ) hay đevàkutikve ( nơi ngự của thần ). Trung tâm của bố cục bao giờ cũng là một tòa kiến trúc tháp hình khối chân vuông ở giữa rỗng tạo thành một điện thờ nhỏ. Trung tâm cũng chính là nơi đặt hòn núi thiêng làm cột để quấy bể sữa sản sinh ra các vị thần và thế giới con người. Cho nên kiến trúc trung tâm bao giờ cũng đứng trên trục trung tâm của toàn bộ quần thể kiến trúc và thường là cao lớn hơn kiến trúc xung quanh. Riêng ở Tháp Bà Nha Trang, bố cục này dường như có những thay đổi bởi lẽ vị trí trung tâm ( chính giữa, hàng thứ nhất ) lại thuộc về ngôi tháp Nam ( kalan B ) trong khi đó ngôi tháp chính ( kalan A ) lại nằm về hướng hơi lệch Đông Bắc của mặt bằng xây dựng. Cho dù vậy nhưng tháp chính vẫn là kiến trúc quan trọng nhất của quần thể kiến trúc nơi đây. Như vậy có thể nhận thấy, khu đền tháp này đã trải qua rất nhiều lần xây dựng vào nhiều thời kỳ khác nhau; ngôi tháp sau được xây dựng ngay trên nền của kiến trúc cũ, thậm chí một số bộ phận của các kiến trúc cũ như tường tháp có bia ký, trụ cột cửa bằng đá… còn được sử dụng trong kiến trúc mới như ở tháp Tây Bắc ( kalan F ), tháp Nam. Cho nên, với vị trí hiện nay của tháp Nam cho ta hiểu đã có thời nó đã từng là ngôi tháp trung tâm ở khu Tháp Bà hôm nay.<br /><br /> <i>I.3- Tạo hình:</i><br /><br /> Mỗi kiến trúc ở Tháp Bà Nha Trang thường là một công trình hoàn chỉnh và tồn tại tương đối độc lập, chúng đều mang những đặc trưng cơ bản giống nhau theo một qui tắc bất biến của An Độ giáo trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, cho đến nay ở Tháp Bà hầu hết các kiến trúc còn lại không thật giống nhau, dẫu rằng sự khác nhau của chúng chỉ là về hình dáng bên ngoài của từng kiến trúc. Nhưng sự khác biệt này cũng được qui định bởi những qui tắc tạo hình mang dấu ấn của mỗi thời kỳ lịch sử và những phong cách kiến trúc của mỗi giai đoạn mà thôi.<br /><br /> Tháp chính là một ngôi tháp có kiểu kiến trúc rất tiêu biểu của một ngôi tháp Chăm truyền thống. Đó là một khối có bình đồ vuông, có 3 tầng trên thu nhỏ theo một tỷ lệ thích hợp của tầng dưới, một tiền sảnh kéo dài về hướng Đông và 3 cửa giả ở ba mặt.<br /><br /> Tháp Nam lại có hình dáng khá đặc biệt so với các ngôi tháp ở đây. Đó là một khối vươn cao hình củ tỏi hay có người còn gọi là hình chuông úp, không có tháp tầng, chỉ có một tiền sảnh rất ngắn nhô ra ở hướng Đông và 3 cửa giả cũng không có những hình trang trí tiêu biểu.<br /><br /> Tháp Đông Nam cũng mang dáng dấp của một ngôi tháp truyền thống song qui mô thật nhỏ bé, chỉ có một tầng, 3 cửa giả đến nay đã bị biến dạng và trở nên mờ nhạt, có một tiền sảnh ngắn nhô ra ở phía Đông.<br /><br /> Tháp Tây Bắc lại là một ngôi tháp được thể hiện những yếu tố của nghệ thuật Chăm tương đối rõ ràng. Có lẽ yếu tố văn hóa Chăm, bản lĩnh và tâm hồn Chăm được thể hiện rõ nhất ở kiến trúc này. Tầng dưới cũng mang đầy đủ những đặc trưng của một ngôi tháp Chăm truyền thống với bình đồ vuông, với 3 cửa giả được trang trí hình người và động vật, một tiền sảnh ngắn kéo dài về hướng Đông. Song tầng trên lại là một khối đặc theo chiều Bắc-Nam với hình dáng của một chiếc yên ngựa hay nói chính xác hơn, đó là một chiếc thuyền – vốn là một hình ảnh rất quen thuộc đối với các nhóm cư dân Đông Nam Á. Bởi vậy, có người còn gọi kiểu kiến trúc này là ngôi nhà hình thuyền. Khách quan nhận xét, là cũng không dễ gì mà ngôi tháp độc đáo này có thể tồn tại được qua một thời gian lâu dài như vậy. Nó bị chèn ép vào một vị trí rất mờ nhạt trong quần thể kiến trúc, nó bắt buộc phai chấp nhận một phần kiến trúc ngoại lai. Nhưng điều khó khăn nhất để nó có thể tồn tại lại chính là sự thích nghi của mô hình kiến trúc nhẹ với chất liệu của loại kiến trúc nặng. Nếu như trong loại kiến trúc với các loại vật liệu nhẹ như gỗ, tre … thì toàn bộ trọng lực của bộ mái sẽ rôi xuống các cột, sườn nhà; trái lại trong kiến trúc sử dụng các loại vật liệu nặng mà cụ thể là ở ngôi tháp này, thì phần mái rất nặng à toàn bộ trọng lực của phần mái được đè lên phần tường chịu lực. Đối với ngôi tháp này, phần mái là một khối đặc bằng gạch nung có thể tích khoảng 25 m 3 nằm trên không trung, cách mặt đất gần 7m mà gần một ngàn năm qua gió mưa chỉ làm hư hai phần đầu hồi một cách không đáng kể ở phía Bắc. Điều này khiến cho tháp Tây Bắc trở thành một trong những kiệt tác của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chămpa ở Khánh Hòa.<br /><br /> Nhìn vào tổng thể kiến trúc của các ngôi đền ở Tháp Bà Nha Trang, chúng ta sẽ nhận ra một trong những nguyên tắc cơ bản trong kiến trúc Chămpa, đó là sự tuân thủ nghiêm ngặt đối xứng từ nhiều chiều, nhiều phía. Sự đối xứng đó được thể hiện qua việc bố trí các tầng tháp, các trụ ốp tường, các cửa giả và cùng với các trang trí bên ngoài tháp. Do tính chất đối xứng trong kiến trúc, các ngôi tháp này đã tạo nên sự cân đối của các tháp với những ấn tượng về sự uy nghi và hoàn mỹ của từng công trình cũng như trong tổng thể của khu đền tháp.<br /><br /> <i>I.4</i>-<i> Về chiều cao kiến trúc:</i><br /><br /> Nhìn chung tháp Chăm thường rất chú ý đến chiều cao, từ vị trí kiến trúc đến chiều cao của từng công trình. Vào thời kỳ sớm, các đền tháp Chăm thường được xây dựng trong một thung lũng và ở gần kinh đô của vương quốc, như ở thánh địa Mỹ Sơn, Đồng Dương. Tuy nhiên, từ khoảng thế kỷ thứ 9 trở đi do chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer về tính hoành tráng cho nên những đền thờ của Chămpa thường được xây dựng trên đồi cao và luôn luôn hướng về phía Đông . Có thể do nhiều yếu tố, người Chăm không thể xây dựng những ngôi đền tháp thật cao, như kiến trúc Bôrôbuđu ở Indonesia, hay khu đền Angkor của Cămpuchia … Điều này có thể giải thích là do sử dụng các loại vật liệu để xây dựng mà chủ yếu là bằng gạch nung cho nên không thể xây dựng những công trình có qui mô như những kiến trúc kể trên.<br /><br /> Để giải quyết vấn đề này, người Chăm đã đưa ra một phương án có thể nói là tối ưu, đó chính là xây dựng các công trình trên những đồi cao. Được đặt trên những đồi cao, khiến cho người chiêm ngưỡng phải hướng lên phía trên và điều này hoàn toàn phù hợp với mục đích xây dựng, khi mà các tháp Chăm luôn thể hiện trên một không gian chiều cao.Tháp Bà được xây dựng trên một ngọn núi cao 20 m trong một không gian rộng lớn và được kết hợp một cách hài hòa giữa núi-sông- biển. Đồng thời, với 2 mặt bằng kiến trúc được xây dựng trên những độ cao khác nhau, tuy không nhiều ( khoảng 10 m ) song điều này khiến cho mọi người phải trải qua một con đường lên rất hẹp và dốc rồi cuối cùng mới lên đến các tháp. <br /><br /> Các tháp Chăm rất chú trọng đến chiều cao, như ngôi tháp chính có chiều cao là gần 22m; tháp Nam cao 18 m. Đồng thời, bằng những thủ thuật kiến trúc như những trụ ốp tường, những mảng khối rõ nét, các cửa giả và những trang trí trên thân tháp cũng như việc xây dựng những tầng trên, là hình ảnh mô phỏng của tầng dưới được thu nhỏ dần mà trên đỉnh luôn là một phiến đá sa thạch hình trụ tròn ( biểu tượng linga ) tạo cho tháp Chăm một vẻ hoành tráng và cao vút trong không trung. <br /><br /> Không chỉ có những biện pháp xử lý về mảng khối và các trang trí bên ngoài mà cả những kỹ thuật xử lý bề mặt bên trong các tháp cũng tạo ra hiệu quả rất lớn về chiều cao của tháp. Đó là việc xây vách thẳng đứng theo đúng tỷ lệ chiều cao của thân tháp và được xây giật cấp theo từng nấc nhẹ chụm dần lên đến đỉnh càng tạo ra cảm giác cao thăm thẳm của mỗi công trình.<br /><br /> <i>I.5- Về chiều rộng:</i><br /><br /> Do chức năng là nơi thờ các vị thần An Độ giáo và đền thờ không phải là nơi để tín đồ đến tụ hội và cầu nguyện, mà chỉ có các vị Bàlamôn đã thụ pháp mới được vào đền để tổ chức tế lễ. Song những đền thờ này trong cùng một quần thể cũng có những chức năng riêng. Có đền thờ lớn để thờ các vị thần chính, bên cạnh đó lại có những đền thờ nhỏ hơn để thờ cho các bà vợ, các tùy tùng hay các con vật cưỡi linh thiêng của các vị thần chính hoặc thần phụ. Nếu như ngôi tháp chính là nơi thờ vị thần chính ở Pô Nagar: nữ thần Bhagavati ( Uma- sakti của thần Siva ) hay cũng chính là vị Đại nữ thần của vương quốc: Pô Iư Nagara- nữ thần mẹ xứ sở thì tháp Nam, tháp Tây Bắc chắc hẳn được dùng để thờ những vị thần phụ ( hoặc các con vật cưỡi của thần như “<i> hình ảnh con voi đáng kính</i>” mà bia ký ở đây đã nói tới). Còn ngôi tháp Đông Nam do qui mô của nó thật khiêm tốn cho nên có thể đây chỉ là nơi cất đồ lễ để phục vụ cho các hoạt động về tôn giáo tín ngưỡng nơi đây.<br /><br /> Chiều rộng của các kiến trúc đền tháp Chăm còn phải được xem xét đến một bộ phận nữa, đó là gian tiền sảnh ở đằng trước mỗi tháp nối liền với gian điện thờ phía trong. Thông thường, cùng với chiều cao của kiến trúc thì chiều rộng của mỗi công trình cũng phần nào phản ánh chính xác vị trí của chúng trong tổng thể kiến trúc tôn giáo nơi đây. <br /><br /> Mặc dù có kích thước khác nhau song đây vẫn là một đặc trưng của tháp Chăm và những đặc trưng này đã được thể hiện rõ qua phần tiền sảnh của tháp chính. Gian điện thờ được mở ra bên ngoài bằng một tiền sảnh ( hành lang ) vách để trơn, có chiều dài là 2m7, rộng 1m6; vòm xây so le theo cùng kiểu của gian thờ. Hành lang kết thúc bằng một cửa gọi là cửa trong có cánh bằng gỗ. Từ ngưỡng cửa trong, một hành lang dài dẫn đến một gian khác phía ngoài nhỏ hơn có kích thước: 3m x 2m3, có vòm mái cao nhưng thấp hơn của gian điện thờ. Chỉ có ánh sáng tự nhiên chiếu qua cửa soi sáng cho gian này. Ngoài cùng là trụ và mi cửa bằng đá được chạm khắc những bia ký khá dày đặc. Các gian và hành lang này đều nằm ngang tầm gờ trên cùng của tầng nền chung. Bởi vậy, ở khu di tích Tháp Bà Nha Trang diện tích của các gian điện thờ cũng khác nhau, với các số liệu chính như sau:<br /><br /> Điện thờ tháp chính ( Kalan A ) : mỗi chiều là 6m1.<br /><br /> Điện thờ tháp Nam ( Kalan B ) : mỗi chiều là 4m7.<br /><br /> Điện thờ tháp Đông Nam ( Kalan C ): mỗi chiều là 1m8.<br /><br /> Điện thờ tháp Tây Bắc ( Kalan F ): mỗi chiều là 2m5.<br /><br /> Trong mỗi gian điện thờ này đều có những bệ tượng thờ dưới dạng linga-yoni bằng đá, cho dù hình thức biểu hiện không thật giống nhau. Điều đặc biệt so với các đền tháp Chămpa còn lại ở Việt Nam, đó là trong ngôi tháp chính, bên dưới bệ thờ có một đường thoát nước <i>(Soma-sutra</i>) dùng để tắm rửa tượng thờ ra ngoài.(4:228 ).<br /><br /> <i>I.6- Mặt ngoài </i>:<br /><br /> Mặt tường ngoài các tháp đều được trang trí những trụ ốp tường ( thường có 5 hàng trụ ) với những đường gờ chìm, nổi theo một tỷ lệ hợp lý chạy dọc theo thân tháp đến tận đường diềm phía trên. Trên thân tháp có 3 cửa giả ở 3 mặt : Bắc, Tây, Nam và trong những cửa giả này có những trang trí hình người, động vật. Càng lên cao là 3 tầng tháp nhỏ dần theo một tỷ lệ hợp lý, có cấu trúc giống như một ngôi tháp bên dưới, có những hình trang trí rất tỉ mỉ. Trên các tầng có nhiều tượng thần và các góc tháp thường có hình ảnh của các thiên nữ Apsara được gắn vào . Mỗi tầng trên lại lặp lại những hình ảnh trang trí của tầng dưới nhưng nhỏ dần đi và cuối cùng tụ lại vào một đỉnh nhọn vươn cao. Một mái vút cao ở phía trên gian điện thờ được xây theo kiểu so le giật cấp kéo thẳng lên đến tận đỉnh . Đỉnh là một viên đá hình trụ, biểu tượng của một linga. Phía Đông là một tiền sảnh kéo dài và cũng là cửa duy nhất để đi vào điện thờ. Những yếu tố đặc trưng này đều được thể hiện ở tất cả các ngôi tháp còn lại ở đây.<br /><br /> Bên cạnh đó, cho đến nay ở Tháp Bà chỉ còn lại 4 ngôi đền tháp song lại có 4 kiểu kiến trúc khác nhau về hình thức và mỗi loại hình tháp này đều mang đậm những yếu tố nghệ thuật kiến trúc của mỗi thời kỳ. Cho nên sự khác biệt của từng kiến trúc không chỉ thể hiện rất rõ ở phần đế và thân mà còn ở trên từng bộ phận mái. Nếu tháp chính ( kalan A ) mang đầy đủ những yếu tố truyền thống thì các tháp còn lại như tháp Nam lại có hình dáng của một hình nón úp ( có người gọi là hình củ tỏi ) với bộ mái của nó vút cao khum nhọn về phần đỉnh; tháp Đông Nam chỉ có một tầng theo mô hình con thuyền truyền thống của cư dân Đông Nam Á với đặc điểm hơi cong xuống ở phần giữa, và tháp Tây Bắc với hình thức xây dựng chỉ có một mái ( và là một khối đặc ) theo kiểu mái hình thuyền mà được trang trí hình nhọn lửa. Cho nên, điều này cũng góp phần tạo nên sự phong phú và tính sáng tạo mang dậm dấu ấn của nghệ thuật truyền thống Chăm được thể hiện trong loại hình kiến trúc tôn giáo có nguồn gốc từ bên ngoài.<br /><br /> <i>1.7- Mặt trong : </i><br /><br /> Nếu như các nhà kiến trúc Chăm rất chú trọng đến việc trang trí bên ngoài thì bên trong tháp hoàn toàn khác. Để đi vào bên trong, cho dù dài hay ngắn thì tất cả các tháp ở đây đều có một hành lang khá hẹp, hơi tối vì thiếu ánh sáng dẫn thẳng vào gian điện thờ. Ở những tháp lớn như tháp chính ( kalan A ), và tháp Nam ( kalan B ), khi mà tiền sảnh là một thân tháp phụ được gắn vào thân tháp chính ở phía Tây luôn có sự ngăn cách giữa gian ngoài và gian bên trong ( gian điện thờ ) là 1 hoặc 2 lớp cửa bằng gỗ. Bên trong kalan là một gian điện thờ có bình đồ vuông rất chật, ở chính giữa gian điện, người ta để một tượng thần hoặc một ngẫu tượng thờ như linga-yoni và bao quanh là những bức tường gạch. Phần vách tường có thể nhận thấy có hai phần rõ rệt. Phần dưới, có độ cao tương ứng với chiều cao của thân tháp, trên các vách tường thẳng đứng thường để trống không có trang trí nào, ngoại trừ một vài hốc để đèn được khóet vào vách tường. Phần phía trên là những hàng gạch được xây theo kiểu giật cấp, so le nhau với một tỷ lệ vừa phải nghiêng dần vào phía trong, tạo nên một vòm mái khum dần vào trong và vươn lên chụm vào một điểm cao nhất của kiến trúc. Tuy nhiên, từ điểm xuất phát của phần trên chỉ có hai vách tường phía Bắc và Nam là được kéo dài lên với kỹ thuật xây dựng như đã nói, còn phần vách của các mặt Đông, Tây vẫn kéo dài lên đến đỉnh theo chiều thẳng đứng và được thu nhỏ dần lại tương xứng với độ khum của 2 vách Bắc Nam. Điểm chụm vào nhau của bốn vách tường cũng chính là đỉnh của ngôi tháp.<br /><br /> Với những đặc điểm nêu trên có thể nhận thấy, dù cho các ngôi tháp còn lại ở khu di tích Tháp Bà Nha Trang có thể không thật giống nhau về hình thức, qui mô kiến trúc, có tháp 3 tầng, tháp 2 tầng ( mái) và có tháp chỉ là một khối thẳng vươn lên trời song tất cả những kiểu thức kiến trúc cơ bản của một ngôi tháp Chăm truyền thống đều được qui tụ và thể hiện ở trong từng kiến trúc cụ thể, tùy theo từng ngôi tháp được xây dựng vào những thời gian khác nhau, mang theo phong cách kiến trúc của mỗi thời kỳ khác nhau tạo nên dáng vẻ bên ngoài có khác nhau. Chính điều này đã tạo cho từng kiến trúc trong quần thể Tháp Bà Nha Trang một vẻ độc đáo về nghệ thuật , sự phong phú về loại hình, mang đậm dấu ấn của mỗi thời kỳ trong lịch sử nghệ thuật Champa; đồng thời còn được tôn lên rõ ràng hơn trong từng ngôi tháp, trong từng mảng khối, đường nét cụ thể.