PDA

View Full Version : Tản Mạn về Miền Trung


dothuvan
25-05-2012, 11:54 PM
<div align='center'><!--coloro:#000099--><span style="color:#000099"><!--/coloro--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>Tản Mạn về Miền Trung</b><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><b>Sưu tầm</b></div><br /><br /><br /><i><br /><b>Nước Việt chiều ngang thì hẹp mà chiều dọc thì dài, thường được phân biệt làm ba miền bắc, trung, nam. Về đại thể, ba miền hợp thành một quốc gia thuần nhất về rất nhiều phương diện, nhưng mỗi miền vẫn có một số sắc thái riêng, từ hình thể núi sông, khí hậu nóng lạnh, cho đến tâm tính và hành trạng của con người. <br /></b></i><br /><br />Các nhà địa lý phương Tây thường ví von nước Việt như chiếc đòn gánh gánh hai thúng lúa. Còn chuyện dân gian thì kể rằng có ba người đàn ông cùng chèo một chiếc thuyền ra biển đánh cá, tung lưới thì lưới vướng đáy biển không kéo lên được; người thứ nhất nhảy xuống lặn ngụp một hồi không gỡ được lướí ra nhưng khi ngoi lên mặt nước lại tươi cười suýt xoa: &quot;Nước mát quá!&quot;; người thứ hai tiếp theo lặn ngụp một hồi cũng không gỡ được lưới, leo trở lên thuyền ngồi lầm lì không nói không rằng, được hỏi thấy gì ở bên dưới thì xẵng giọng trả lời:&quot;Xuống dưới thì biết!&quot;; người thứ ba liền nhảy xuống cũng lặn ngụp một hồi và cũng không gỡ được lưới ra nhưng khi vừa ngoi lên chưa kịp bám vào mạn thuyền thì đã chửi thề om xòm: &quot;Đ. má! Gai không hà!&quot;. <br /><br /> Ba miền bắc, trung, nam là Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, trước kia còn có các tên gọi khác là Bắc Kỳ, Bắc Việt, Bắc Phần; Trung Kỳ, Trung Việt, Trung Phần; Nam Kỳ, Nam Việt, Nam Phần. Ngoại trừ dưới thời Pháp thuộc, khi mà Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ là ba phân hạt chính trị và hành chánh khác nhau với ba thủ phủ Hà Nội, Huế, Sài Gòn, còn thông thường, ranh giới địa lý giữa ba miền chẳng có gì là rõ rệt. Tỉnh Thanh Hóa nằm ở cực bắc Trung Bộ nhưng là hình ảnh thu nhỏ của Bắc Bộ với đầy đủ ba miền thượng du, trung du và đồng bằng. <br /><br />Tỉnh Thuận Hải nằm ở cực nam Trung Bộ nhưng về tất cả mọi mặt từ cấu tạo địa lý đến sinh hoạt xã hội đều y hệt miền đông Nam Bộ. Bởi vậy, cuối thế kỷ 19, Triều đình Huế trong thế yếu đã phải ký hòa ước Harmand năm 1884 cắt Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh nhập vào Bắc Kỳ, cắt Bình Thuận nhập vào Nam Kỳ, khiến cho công luận xôn xao làm nẫy sinh nhiều cuộc nổi dậy khắp nước và cuộc binh biến ở Kinh Kỳ đánh úp đạo quân trú phòng của Thống tướng De Courcy vào giữa năm 1885. Người Pháp qua Hòa ước Patenôtre lại chịu trả Thanh Nghệ Tĩnh và Bình Thuận cho Trung Kỳ.<br /><br /> Thời kháng chiến chống Pháp, Thanh Hóa thuộc Khu IV nhưng lại là hậu cứ của Khu III, tuy vậy, cả hai quân khu không khu nào thừa nhận Thanh Hóa là thành phần chủ lực của mình. &quot;Thanh Hóa Khu IV tống ra, Khu III đá vào&quot;. Nói cho ngay, Thanh Hóa ngày xưa là quận Cửu Chân, bao gồm cả tỉnh Ninh Bình, vốn khác biệt với quận Giao Chỉ là Bắc Bộ ngày nay, và lại càng khác biệt không những với quận Nhật Nam là Trung Trung Bộ mà cả với Nghệ Tịnh mà nhà Tấn tách ra để lập thành quận Cửu Đức. Chỉ từ khi Gia Long thiết lập Tòa Tổng Trấn Bắc Thành, chia trấn Thanh Hoa làm hai theo rặng núi Tam Điệp, Thanh Hoa Ngoại Trấn (Minh Mạng đổi làm Ninh Bình) thuộc Bắc Thành, và Thanh Hoa Nội Trấn (Thanh Hóa) thuộc Trực Kỳ, Thanh Hóa mới trở thành tỉnh địa đầu của miền Trung. <br /><br />Về phần tỉnh Bình Thuận ở cực nam Trung Bộ, sách Trung quốc thuở xưa có đề cập đến nước Xích Thổ bao gồm cả vùng Bình Thuận, Bà Rịa và Lâm Đồng vốn là địa bàn sinh hoạt của người Mạ và người Stieng. Về sau, bị người Chiêm và người Khmer từ hai phía đánh ép lại, người Mạ và người Stieng rút lên Lâm Đồng, để cho Bình Thuận trở thành bộ phận cực nam của Chiêm Thành. Gia Long lấy đất từ huyện Long Khánh tỉnh Biên Hòa trở vào để lập Tòa Tổng Trấn Gia Định, còn tỉnh Bình Thuận thì cho thuộc về Trực Kỳ, và từ đó Bình Thuận trở thành tỉnh địa đầu của miền Trung. Tuy thời Cộng Hòa, huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận được tách ra để lập tỉnh Bình Tuy thuộc Nam Phần, nhưng sau ngày 30-4-1975, huyện Hàm Tân lại được trả về cho Bình Thuận để cùng với Ninh Thuận lập ra tỉnh mới Thuận Hải.<br /><br /> Chẳng những ranh giới địa lý giữa ba miền không có gì rõ rệt mà tâm tính và sinh hoạt của cư dân ở hai vùng địa đàu của miền Trung cũng không khác biệt với hai miền Nam Bắc kế cận. Thật vậy, người Thanh Hóa tuy gọi cô bằng o, và không phân biệt dấu hỏi dấu ngã ở phần đất phía tây quốc lộ I, nhưng cũng lanh lợi, hoạt bát, khôn khéo, và buôn bán giỏi không khác gì người Bắc. Còn người Thuận Hải thì tuy cũng có nơi dùng các từ ôn mệ, mi tau, nhưng nói chung người Bình Thuận nói oánh thay vì đánh, giọng nói và phong cách phát biểu tâm tình sôi nổi và thẳng thắng không khác gì người Nam. Cái lối lầm lì chẳng nói chẳng rằng của người đánh cá trong câu chuyện dân gian kể ở đầu bài không thể tìm thấy ở phía bắc đèo Ngang và ở phía nam đèo Cả. Nói khác đi, những nét đặc thù của miền Trung chỉ được tìm thấy đày đủ và rõ rệt ở miền Trung Trung Bộ, từ Quảng Bình đến Phú Yên.<br /><br /><i>còn tiếp...</i>

minhkhago
25-05-2012, 11:54 PM
<!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><b>Miền Trung Trung Bộ</b><!--sizec--></span><!--/sizec--> đi vào chính sử với danh xưng Nhật Nam vào năm 111 trước Công nguyên đời Tây Hán. Năm đó, Hán Vũ Đế sai Lộ Bác Đức đem quân đánh diệt nước Nam Việt, rồi thừa thắng chiếm luôn đảo Hải Nam, gộp tất cả lại thành Giao Chỉ Bộ, chia làm 9 quận: Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai và Đạm Nhĩ (3). Quận Nhật Nam lúc bấy giờ chạy dài từ đèo Ngang đến đèo Cả, và được chia làm 5 huyện: Lư Dung (Quảng Bình), Tỵ Cảnh (Quảng Trị), Tây Quyển (Thừa Thiên), Tượng Lâm (Quảng Nam) và Châu Ngô (Bình Phú). Quận lỵ đóng ở huyện Tây Quyển, phía bắc thành phố Huế ngày nay. Sử cũ nước ta đưa miền Trung Trung Bộ vào chính sử lùi xa vào trước thời điểm này, thường nhắc nhở đến danh xưng Việt Thường, cho rằng Việt Thường có từ thời Hùng Vương. Theo sử cũ, Việt Thường là một trong 15 bộ của nước Văn Lang (4), và nằm ở vị trí bắc bộ Quận Nhật Nam đời Hán. <br /><br />Nhưng điều ức đoán này của sử cũ nước ta là hồ đồ, không có cơ sở khoa học, nghĩa là chẳng có chút giá trị thuyết phục nào cả. Các danh xưng Việt Thường, Cửu Đức, Vũ Ninh, Hoài Hoan v.v. của 15 bộ nước Văn Lang đều là từ ngữ Hán, mà thời Hùng Vương, dân ta đâu đã chịu ảnh hưởng của người Tàu, dân ta đâu đã biết dùng Hán tự để đặt tên người, tên xứ. Danh xưng của 15 bộ nước Văn Lang chẳng qua là tên châu, tên quận của đời sau, sử cũ đã chép lại và gán cho các phân hạt hành chánh tưởng tượng của nước Văn Lang thời Hùng Vương. Mà ngay cả cái quốc hiệu Văn Lang cũng là một mối ngờ lớn về sự chính xác. Thực vậy, vào thời Hùng Vương, lúc nhà Tần chưa đem quân vào đất Lục Lương, lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng quận, thì người Tàu thường gọi Quảng Đông là Âu Việt, Quảng Tây là Tây Âu, Việt Nam là Lạc Việt. <br /><br />Từ thuở các vua Hùng mở nước cho đến khi Thục Phán nổi lên từ Tây Âu đánh bại vua Hùng cuối cùng và kiêm tính Lạc Việt để lập ra nước Âu Lạc vào năm 257 trước Công nguyrên thì người Tàu gọi chung cư dân xứ này là Môn Lang (Người Môn). Trong quá trình tiến hóa của Hoa ngữ, đến thời Hán Đường, người Tàu đọc môn là văn, cũng như ngày nay, người Tàu lại đọc văn thành wen (uân). Mà Hán tự lại là thứ chữ tượng hình, không phải là thứ chữ ký âm, cho nên dù đọc là môn, là văn hay là wen thì chữ cũng viết y hệt nhau. Dân ta tiếp thụ Hán tự vào thời Hán Đường, khi mà chữ môn đã được đọc là văn, cho nên Môn Lang trở thành Văn Lang trong sử sách nước ta. <br /><br />Việc người Tàu trước thời Tần Thủy Hoàng gọi cư dân Âu Lạc là người Môn (Môn lang) phù hợp với các kiến giải nhân chủng học cận đại cho rằng người Môn ở Nam Á (người Indonesian) bị người Aryens đánh đuổi nên tràn qua Đông Dương và Hoa Nam rồi về sau Hán hóa mà trở thành người Tiều, người Quảng, người Việt v.v., chỉ rơi rớt các phần tử rút vào rừng sâu là còn giữ nguyên bản sắc mà điển hình là người Mường ở bắc bộ Đông Dương. Người Lạc Việt thời bấy giờ (người Môn, hay Môn lang) ở trần, đóng khố, nên trong văn thư gửi Hán Văn Đế, Triệu Vũ Vương đã nói dân Âu Lạc là dân trần truồng (5). Gần đây, Hoàng Văn Chí, vốn là dân Thanh Hóa chính gốc, đã viết rằng dân Mường Thanh Hóa ngày nay vẫn tự xưng: &quot;Tôi là người Môn, tôi là người Mọi&quot;. <br /><br />Miền Trung Trung Bộ buổi đầu chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc ít hơn so với các miền khác. Thật vậy, quá trình Hán hóa của Hoa Nam và bắc bộ Đông Dương tiến triển theo những mức độ khác nhau, càng xuống phía nam chừng nào thì càng yếu đi và chậm lại. Quận Nam Hải đã bắt đầu Hán hóa sớm từ thời Nhâm Ngao, khi nhà Tần cung cấp một vạn năm nghìn gái Hoa Bắc cho đạo quân Tần chiếm đóng Nam Hải. Quận Nam Hải cũng Hán hóa sâu đậm và trọn vẹn vì từ thời đó cho đến nay, quận Nam Hải vĩnh viễn bị người Tàu đô hộ, lần lượt trở thành một châu (Quảng châu), rồi một tỉnh (Quảng Đông) của Trung Quốc. Các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam giao tiếp với văn hóa Hán tộc sau khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc, và thực sự bắt đầu Hán hóa khi nhà Hán gộp tất cả vào Giao Chỉ Bộ vào năm 111 trước Công nguyên. <br /><br />Nhưng các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, sau nhiều lần nổi dậy thất bại, cuối cùng đã thoát được vòng lệ thuộc người Tàu. Hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân bị đô hộ 1049 năm, đến năm 938 sau Công nguyên đời Tống Thái Tổ thì Đinh Bộ Lĩnh nổi lên từ huyện Gia Viễn, dựng cờ tự chủ, lập nên nước Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). Quận Nhật Nam ở xa hơn nên chỉ bị đô hộ 303 năm, đến năm 192 sau Công nguyên đời Hán Hiến Đế thì Khu Liên nổi lên ở huyện Tượng Lâm (6), dựng cờ tự chủ, lập nên nước Lâm Ấp, đóng đô ở Trà Kiệu (Quảng Nam). Mức độ Hán hóa khác biệt giữa Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam không đơn thuần chỉ vì thời gian Bắc thuộc dài ngắn khác nhau mà còn vì lý do là sau khi độc lập, Giao Chỉ và Cửu Chân (Đại Cồ Việt, Đại Việt) tự nguyện tiếp tục tiếp thụ văn hóa Trung Hoa, còn Nhật Nam (Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành) thì trở lại với văn hóa Ấn Độ. <br /><br />Hai hướng đi riêng rẽ này trãi qua một thời gian dài 1279 năm, và chấm dứt lúc toàn bộ Nhật Nam vĩnh viễn thống nhất trở lại với Giao Chỉ, Cửu Chân vào năm 1471 đời Lê Thánh Tông. Miền Trung Trung Bộ lại cùng với Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ tiếp thụ văn hóa Trung Hoa.<br /><br />Miền Trung Trung Bộ là quận Nhật Nam đời Hán, điều đó đã được chính sử ghi chép rõ ràng. Nhưng miền Trung Trung Bộ còn có một danh xưng khác xưa hơn: miền Trung Trung Bộ là bộ Việt Thường nước Văn Lang (Môn Lang) đời Hùng Vương. Tuy điều này chỉ là truyền thuyết, không dựa vào những chứng tích xác tín của khoa khảo cổ, nhưng đã có những cơ sở vững chắc và dồi dào về mặt lịch sử, văn học và chính trị. Sử cũ nước ta chép rằng Việt Thường là một trong 15 bộ của nước Văn Lang, ở vào vị trí vùng Bình Trị Thiên ngày nay (7). Mặt khác, trong văn học nước ta và văn học Trung Quốc thì nhan nhãn những sáo ngữ &quot;Ngựa Hồ trông gió Bắc, Chim Việt đậu cành Nam&quot; (Hồ mã tê Bắc phong, Việt điểu sào Nam chi). Chim Việt là chim của xứ Việt Thường. Sử cũ nước Tàu chép rằng vào đời Chu Thành vương, sứ bộ xứ Việt Thường đem cống chim trĩ trắng, chim nhớ quê hương miền nam nên cứ tìm cành nam mà đậu. <br /><br />Sử cũ nước Tàu còn chép thêm rằng sứ giả xứ Việt Thường nói thứ tiếng phải qua 12 lần trung gian phiên dịch mới hiểu được, rằng Triều đình nhà Chu (Chu Công Đán) tặng sứ bộ Việt Thường xe chỉ nam để sứ bộ tiện tìm đường về xứ v.v. Thật ra thì cho tới nay cũng chưa có sách vở nào khẳng định cái xứ Việt Thường đem cống chim trĩ trắng cho nhà Chu nằm vào cương vực nước ta ngày nay. Sách xưa của Tàu (thiên Vũ Cống) nói rằng xứ Việt Thường ở phía nam đất Giao Chỉ, nhưng danh xưng Giao Chỉ chép trong sách xưa của Tàu là để chỉ vùng đất có giao long (cá sấu) (8), tức là vùng đất ở giữa các hồ Động Đình và Phiên Dương, chứ không phải là Giao Chỉ Bộ đời Hán. Mặt khác, một vài nhà khảo cổ người Pháp thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cho rằng Việt Thường là nước Xa Lý xưa kia ở trong cương vực tỉnh Vân Nam ngày nay (9). <br /><br />Vậy chỉ có điều chắc chắn là xứ Việt Thường đó ở về phương nam, trong vùng cư trú của chủng tộc Bách Việt. Còn khẳng định rằng xứ Việt Thường đó là bắc bộ quận Nhật Nam đời Hán thì là một việc làm có phần vội vã. Hơn nữa, nếu Việt Thường là một bộ của nước Văn Lang thì thử hỏi tương quan giữa bộ Việt Thường và nhà nước trung ương Văn Lang như thế nào mà địa phương Việt Thường lại tự tiện đem chim trĩ trắng trực tiếp giao thiệp với nước ngoài. Tuy vậy, vẫn có sự mặc nhiên công nhận những dữ kiện lịch sử và chính trị khẳng định miền Trung Trung Bộ xưa kia là xứ Việt Thường, cả về phía chính giới Việt Nam lẫn về phía chính giới Trung Quốc. Thật vậy, sau khi lên ngôi vua, cùng trong năm 1802, Gia Long trước sau liên tiếp cử Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định cầm đầu 2 sứ bộ sang Tàu cầu phong. <br /><br />Trong biểu tấu, Gia Long xin nhà Thanh cho đặt tên nước là Nam Việt, lấy lý do là đã thống nhất An Nam và Việt Thường làm một mối. An Nam là Đàng Ngoài, từ Bắc Bộ tới Hà Tĩnh. Việt Thường là Đàng Trong, từ Quảng Bình tới Nam Bộ. Triều Đình nhà Thanh họp bàn, không mảy may thắc mắc về danh xưng Việt Thường, nghĩa là mặc nhiên nhận rằng Việt Thường là phần đất phía nam Đèo Ngang, mà chỉ thắc mắc về danh xưng Nam Việt, nghi ngại Gia Long nhắc nhở đến nước cũ của Triệu Đà với ý đồ xin trả lại đất Lưỡng Quảng. Vì vậy, thay vì Nam Việt, nhà Thanh đổi ngược lại là Việt Nam, phong cho Gia Long tước vị Việt Nam Quốc Vương, vẫn với ý nghĩa là đã thống nhất An Nam và Việt Thường làm một mối. Với việc tấn phong này, cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc đều dùng danh xưng Việt Thường để chỉ phần đất phía nam Đèo Ngang, chủ yếu là miền Trung Trung Bộ.<br /><br /><br /><b>còn tiếp...</b>

kieusvl
25-05-2012, 11:54 PM
Nó lớn lên giữa miền trung nắng gió, tuổi thơ nó gắn liền với đồng lúa, nương dâu, con trâu, ao cá. Nhiều lần nhìn những đứa trẻ cùng trang lứa cắp sách đến trường nó không khỏi chệnh lòng và ước ao mình cũng được như thế. Nhưng ước ao cũng mãi chỉ là ước ao bởi nó giờ thân một mình trên thế giới này không bố me, anh em, hay người thân bằng hữu. Đến bố mẹ nó, nó cũng chẵng biết là ai nữa huống hồ…<br /><br />Cũng chẵng biết từ lúc nào nó lạc đến miền quê này nữa, nó chỉ nhớ rằng Ông chủ nhà đã nhặt nó về nuôi và giao cho nó chăn giữ đàn trâu khi nó chỉ kịp lên sáu tuổi. Thế rồi ngày lại qua ngày , thời gian nối tiếp thời gian cứ như vòng xoay của số phận nó lớn lên trên lưng trâu, trên những cánh đồng lúa nắng mưa ngập mặn phù sa. <br />Có nhiều đêm nó cố hình dung xem nó là ai, nó đến từ nơi nào và ai là người đã sinh ra nó nhưng càng cố để hình dung nó lại càng thấy mịt mù và vô vọng. Nó cố để khóc cho nhẹ nhàng và thanh thản hơn nhưng hình như nước mắt nó cũng chẵng còn vì ngày xưa nó đã khóc đến khô cạn cả suối lệ rồi. Nó cố hét lên thật to và hỏi rằng ai đã cho nó cuộc sống này nhưng đáp trả nó chỉ là cái im lặng đến rơn người nên nó chẵng bao giờ quan tâm đến điều đó nữa.<br /><br />Với nó giờ đây con trâu, đồng lúa là tất cả bởi tận sâu trong tâm hồn nó tất cả những đều đó đã cho nó một chút gì đó để sống và một chút gì đó của ước mơ như cánh diều vụt bay lên cuối tận trời xa mà nó vừa chỉ cho tôi thấy.

petrosetco
25-05-2012, 11:54 PM
Nó đó! Nó đang sống đó, Nó đang tồn tại giữa cuộc đời này như là một định mệnh, một cái gì đó bắt nó phải thế! Phải chăng là cái mà người ta gọi là luân hồi đó. Tại sao cuộc đời này giống như cái bánh xe, tròn quay mãi quay mãi hết kiếp này qua kiếp khác...<br /><br /><!--quoteo--><div class='quotetop'>QUOTE</div><div class='quotemain'><!--quotec-->Luân là bánh xe, Hồi là trở lại. Vì bánh xe quay, nên các điểm trên bánh xe sẽ phải dời đi chỗ khác, nhưng rồi sẽ có lúc phải trở về vị trí cũ, cứ đi rồi lại trở về như vậy hoài. Như vậy, luân hồi cũng có nghĩa như chu kỳ. Hiện hữu của con người là một chuỗi vô tận những kiếp sống, mỗi kiếp đều khởi đầu bằng việc sinh ra và kết thúc bằng việc chết đi. Sinh tử, tử sinh liên tục nối tiếp nhau như cái bánh xe cứ quay hoài quay mãi không ngừng.<!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd--><br /><br />Thu vãn rơi trên những tàn lá xanh, bánh xe cuộc đời vẫn quay những vòng quay vô tận. chứng kiến bao điều đổi thay. Đến một ngày, ta cũng trở thành vô nghĩa. NHưng mong em đừng bao giờ là kí ức cuộc đời Nó.

dungnguyen
25-05-2012, 11:54 PM
Đường đến hải đăng Đại Lãnh dễ đi nhất so với 3 điểm cực khác là Lũng Cú - Cực Bắc, Mũi Cà Mau - Cực Nam, A Pa Chải - Cực Tây. Nằm trên địa phận tỉnh Phú Yên, từ Khánh Hoà, vượt qua đèo Cổ Mã là đến, hoặc từ Tuy Hoà vào Nam, qua khỏi đèo Cả là đến. Từ QL1A có con đường rẽ vào cảng Vũng Rô, cứ đi theo con đường này sẽ đến chân mũi Điện - tức hải đăng Đại Lãnh.<br /> <br />Bạn nên đến đây vào khoảng chiều tối. Nếu chưa có gì bỏ bụng thì ghé vào nhà chú Mười - nằm ngay dưới chân núi, ăn 1 bữa cơm. Chú thím Mười nấu ăn rất ngon. Sau đó, nhờ chú Mười dẫn đường lên núi. Trạm hải đăng có chừng vài phòng dành cho khách nghỉ qua đêm, giường chiếu mùng, không có nệm nhé! Lính mà...(<img src="http://diendandulich.net/style_emoticons/<#EMO_DIR#>/happy.gif" style="vertical-align:middle" emoid="^_^" border="0" alt="happy.gif" />).<br /> <br />Tối có thể leo lên lan can hay mỏm đá ngồi ngắm trăng sao, và xa xa ngoài khơi là dãy đèn chấm li ti của Nha Trang - Khánh Hoà. Sáng, chịu khó dậy sớm khoảng 4g30 để đón ánh bình minh đầu tiên. Nếu có nhờ vả trước thì sau khi ngắm bình minh xong, ăn sáng, rồi cùng các anh lính trạm xuống dưới Bãi Môn săn cá chình (thuồng luồng biển).<br /> <br />Bãi Môn cũng là 1 bãi tắm tuyệt vời vì nằm sâu giữa 2 nhánh núi vươn ra biển, tuyệt đối lặng gió.<br /> <br />Đây có lẽ là 1 trong 10 điểm của VN mà bất kỳ ai có máu xê dịch cũng phải đến 1 lần trong đời.

antrung_nguyen
25-05-2012, 11:54 PM
<!--coloro:#000000--><span style="color:#000000"><!--/coloro--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--> <br />Cần nói ngay, người viết bài này, vốn chẳng phải người xứ nẫu. Nói vậy từ đầu để bạn khỏi trách tôi cứ đi &quot;ca&quot; tiếng nói của quê mình. Ấy, ngày mới đến đất này, nghe tiếng nẫu, chẳng phải tôi cứ dỏng tai lên nghe, tròn xoe cả mắt để nhìn miệng đến… mỏi. Vậy rồi, qua năm qua tháng, nay thì tiếng nẫu đã thật quen, một ngày đi đâu xa không nghe là thấy… nhơ nhớ.<br /><br />Tôi nhớ tiếng nẫu, cũng như người Việt mình nhớ điệu quan họ, như người Nghệ nhớ câu ví dặm và cũng như chính người xứ nẫu yêu điệu bài chòi. Hẳn, trong từng thanh âm mến thương ấy, lắng lại một nét hồn dân tộc, hồn miền đất &quot;đã hóa tâm hồn&quot; mình.<br /><br />Tiếng nẫu nghe thật trìu mến, nó khác với tiếng Huế ngọt ngào, tiếng Bắc lịch lãm, tiếng Nghệ thân thương. Này là một người vợ gọi chồng: &quot;Anh ơi! Dìa ăn cum&quot;. Này là tiếng người mẹ dặn với: &quot;Túi thui túi thít, đi đứng cẩn thận nghen con!&quot;. Này là lời bà ru cháu: &quot;Ai dìa ai ở mặc ai/ Bậu thì ở lợi sáng mơi hãy dìa&quot;…<br /><br />Ai người xứ nẫu nghe mà không thấy mát lòng, như giữa trưa bức mà có ngọn gió từ ngoài đồng thổi qua, nghe thơm thảo như bát cơm gạo tám xới giữa ngày đông lạnh giá…<br /><br />Tiếng nẫu ra đời bởi đâu? Hổng rành về lịch sử ngôn ngữ nên đành tạm lý giải thế này: Từ năm 1470 trở đi, cấu trúc xã hội trên vùng đất mới có sự xáo trộn đáng kể. <br /><br />Bên người Chiêm ở lại, còn có người Việt vào khai hoang lập ấp. Năm 1570, Nguyễn Hoàng được cho kiêm lãnh cả trấn Quảng Nam, &quot;chính sự khoan hòa, việc gì cũng làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ&quot; làm cho vùng đất đàng Trong nhanh chóng trở thành nơi an cư lạc nghiệp cho những người di dân vào cuối thế kỷ XVI sang thế kỷ XVII. <br /><br />Rồi người Minh Hương phản Thanh phục Minh bỏ xứ di cư sang, hay người Hoa đi giao thương buôn bán trên vùng đất mới của người Việt, một số đã dừng chân lập nghiệp trên mảnh đất này.<br /><br />Sự tụ cư của những dòng người ấy trên một mảnh đất với những điều kiện địa - sinh thái có nhiều điểm khác biệt với quê hương họ, đã tạo thành một cuộc hợp lưu về văn hóa, từ nết ăn, nếp mặc, sinh hoạt hàng ngày đến các nghi lễ thờ cúng và hẳn nhiên, trong đó có cả tiếng nói.<br /><br />Cần nhớ là trong những cuộc chuyển cư, di cư của người Việt, cư dân phần nhiều là dân Thanh - Nghệ. Mà tiếng Nghệ, theo các nhà ngôn ngữ học, vốn mang nhiều sắc thái tiếng Việt cổ. Khi vào cộng cư trên đất này, tiếng ấy hợp với tiếng cư dân bản địa tạo thành một phương ngữ riêng, ấy là tiếng xứ nẫu.<br /><br />Nhưng tại sao, tiếng nẫu chỉ có ở vùng Nam Bình Định vào tới Phú Yên, còn Bắc Bình Định lại mang nhiều âm điệu xứ Quảng? Đến đây thì tôi… chịu và xin nhường cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ vậy.<br /><br />Một nhà văn nọ đã cất công tra trong Đại Nam thực lục tiền biên để hiểu &quot;nậu&quot; nguyên nghĩa là làm cỏ ruộng, sau dùng chỉ đám đông họp lại để làm ruộng, rồi chỉ làng xóm. Vậy ra đó là nguyên nghĩa của chữ Nẫu, nhưng còn tiếng địa phương của xứ nẫu thì hẳn ra đời cùng với quá trình mở làng, lập ấp ngay từ thời Lê Thánh Tông vậy.<br /><br />Ở hoài xứ nẫu, đâm ra tôi cũng dần biết nói tiếng nẫu, mến người xứ nẫu. Người xứ nẫu ăn cục nói hòn, nhưng chắc thiệt. Yêu hổng yêu thì thâu, nói dứt phát (Yêu không yêu thì thôi, nói dứt khoát).<br /><br /> Cái khí chất ăn sóng, nói gió của những cư dân đất này cũng góp vào tiếng nẫu cái mạnh mẽ trong sắc thái ngôn ngữ, cái độ nồng như mang theo cả gió biển và cát nóng.<br /><br />Người Bình Định xa quê, nghe tiếng nẫu là nhớ đến quê nhà. Nhà thơ Xuân Diệu những ngày trên đất Bắc, nhớ về vạn Gò Bồi là nhớ những câu ca dao xứ nẫu má ru, bà ru thuở nhỏ, để thấy thương mến những cây xoài Bình Định, những cột đình làng Luật Bình, bãi biển Quy Nhơn, dưa hấu Phương Mai, những thuyền mắm ở Vạn Gò Bồi, cái thành Bình Định cũ buồn như quá khứ... để rồi mang ơn, từ câu hát ru thuở nhỏ, đến hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi, chắt chiu lại trong một người thơ &quot;Trong hơi thở chót dâng trời đất/ Tôi vẫn si tình đến ngất ngây&quot;.<br /><br />Một tác giả viết về anh hùng Nguyễn Hồng Nhị (người Bình Định) cũng bắt đầu từ &quot;Tiếng mẹ ru từ vành nôi Bình Định/ Giọng à ơi ngọt lịm những trưa hè&quot;. Tiếng nói ấy, lời ru ấy nuôi lớn những hồn người, hồn thơ.<br /><br />Tôi viết bài này khi đang đọc Tìm hiểu con người xứ Quảng (Nguyên Ngọc chủ biên). Lạ vậy, đọc những dòng chữ viết về vùng đất khác mà lại nghĩ đến đất này - một vùng đất từng một thời chỉ là viễn châu, một thời là kinh thành, đến những con người chỉ chân chất, mộc mạc mà ân cần, hồn hậu nhưng cũng lắm khí phách, ngang tàng, dám sống hết mình. Rồi mong, có ai tâm huyết bỏ lòng nghiên cứu tiếng nẫu, con người xứ nẫu thì hẳn sẽ gặt hái bao điều thú vị.<br /><br />Ta có hẳn mấy tập thật dày địa chí Bình Định mà sao thấy mờ nhạt về con người Bình Định quá - có người đã nhận xét với tôi vậy.<br /><br />Chợt nhớ, cách đây vài hôm, trên một diễn đàn ở trang web nọ, tự dưng có người băn khoăn, sao dạo này phát thanh viên Đài Truyền hình Bình Định chỉ thấy nói toàn giọng Bắc. Tự dưng lại thấy thương thương tiếng nẫu (quê người mà nay đã hóa quê mình).<br /><br /><br /><br />(Baobinhdinh) <!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc-->

phuong_huy
25-05-2012, 11:54 PM
<div align='center'><b>Sông Thu Bồn và những viên ngọc lấp lánh </b> </div> <br />Trên dòng chảy của mình, sông Thu Bồn đã lần lượt sinh ra đến bốn địa chỉ lịch sử - văn hóa, trong đó, hai địa danh đã trở thành những giá trị tinh thần của nhân loại...<br /><div align='center'>[attachment=4351:attachment]</div><br /> Cũng như sông Hồng, dòng sông mẹ sinh ra kinh đô Thăng Long nghìn năm văn vật, nay là thủ đô Hà Nội đang rộn rã chuẩn bị cho đại lễ kỷ niệm một nghìn năm sinh nhật của mình; cũng như sông Hương, dòng sông Thơ đã sinh ra Huế; sông Sài Gòn sinh ra thành phố cùng tên, Thu Bồn - một dòng sông hoang dã tưởng chừng chìm đắm trong cõi vô danh, ấy vậy mà, trên dòng chảy của mình đã lần lượt sinh ra đến bốn địa chỉ lịch sử - văn hóa, trong đó, hai địa danh đã trở thành những giá trị tinh thần của nhân loại.<br /><br />Từ những con suối trên địa bàn các xã Trà Nam, Trà Don, Trà Cang, Trà Vân... giữa những cánh rừng đại ngàn nức mùi hương quế của huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam, đã khởi nguyên một dòng sông, mà phải chăng làn nước đượm hương của nó khi đổ về xuôi đã giúp cư dân trên hai bờ cảm hứng siêu phàm để sáng tạo ra những kiệt tác kiến trúc vĩnh hằng? <br /><br />Dòng suối nhỏ ban đầu mang một cái tên rừng núi: “dak Di ” gom nước về xuôi. Khi qua địa bàn Tiên Phước, Hiệp Đức, suối đã thành sông, tuy vẫn còn mang một cái tên quê mùa, dân dã: “sông Tranh”. Phải đến địa bàn Quế Sơn, Duy Xuyên, mới trở thành một dòng sông chững chạc với danh xưng “Thu Bồn”, sẵn sàng hợp lưu với một dòng sông chị em: “sông Vu Gia” từ phía Bắc đổ về trên đất Đại Lộc, thành một dòng chảy văn hóa, để sáng tạo ra những giá trị nghệ thuật tồn tại đến muôn đời.<br /><div align='center'>[attachment=4353:attachment]</div><br />Thánh địa Mỹ Sơn là một mỹ danh trong chuỗi địa danh văn hóa đó. <br />Là quần thể di tích Chămpa lớn nhất còn giữ được, Mỹ Sơn, sau những tàn phá của thời gian, của chiến tranh, của đổi thay dâu bể, những gì may mắn còn sót lại chỉ đủ giúp chúng ta, những chứng nhân hậu thế kinh ngạc, sửng sốt trước tư duy uyên áo về vũ trụ, nhân sinh của người nghệ sĩ Chămpa. <br /><br />Những thủ pháp tài hoa, bằng chứng của một năng lực sáng tạo vô hạn thông qua ngôn từ của gạch, đá còn lại đến nay chắc chắn chỉ là bóng dáng nhạt mờ của một thời hoàng kim lộng lẫy. Tư liệu của các nhà nghiên cứu cho biết dưới triều vua Giaya Indravarman IV trị vì khoảng giữa thế kỷ XII, những khối đá nhọn trên chóp các ngôi tháp lớn nơi thánh địa Mỹ sơn đều được bọc vàng. Còn những hiện vật đang lưu giữ ở các Bảo tàng Chàm (Đà Nẵng), Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế, Bảo tàng Lịch sử Việt nam (Louis Finot) ở Hà Nội, TP.HCM, Trường Viễn Đông Bác cổ ở Paris, bằng đất nung hay bằng sa thạch cũng chỉ là những mảnh vụn rời rạc, câm lặng của một quá khứ huy hoàng! <br /><br />Người Chăm - một trong những thành viên của cộng đồng dân tộc Việt - đã từng xây dựng trên dải đất miền Trung này một nền văn minh rực rỡ và phóng tâm để lại bên sông Thu Bồn một chứng tích huy hoàng mà chúng ta ngày nay còn may mắn được chứng kiến.<br /><br />Đến thánh địa Mỹ Sơn, người giàu tưởng tượng vẫn còn có thể hình dung quang cảnh ngày thánh lễ với hàng đoàn voi ngự lộng lẫy trong phục sức lấp lánh kiệu vàng, trong tiếng cồng chiêng âm vang rộn rã, và bao tiên nữ hóa thân thành những đoàn Apsara rực rỡ xiêm y đang bay lượn trong những điệu múa của thần linh bên chân tháp cổ.<br /><br />Hối hả xuôi về biển cả, trước khi đổ ra đại dương, Thu Bồn còn kịp dừng chân sáng tạo để lại cho đời sau một trong những đô thị cổ đẹp nhất Việt Nam hiện còn giữ được: “Thị xã Hội An”.<br />Sử cũ chép: “… Năm Giáp Tý (1744) (chúa Nguyễn) mới xưng vương hiệu đổi phủ ra làm điện, sửa sang phép tắc, và định lại triều phục. Lại chia nước ra làm 12 dinh”. Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi, mở rộng giao thương, xây dựng Hội An thành hải khẩu buôn bán với nước ngoài.<br /><br />“Bấy giờ đất phía Nam tuy độc lập nhưng họ Nguyễn chỉ xưng chúa, chứ không xưng vua và vẫn không đặt quốc hiệu. Nhưng người ngoại quốc thường gọi đất chúa Nguyễn là Quảng Nam quốc. Đấy là vì ở Quảng Nam có phố Hội An (Faifo) là chỗ người Tàu và người các nước ra vào buôn bán nên mới lấy tên Quảng Nam mà gọi”. <br /><br />Nằm trên bờ tả sông Thu Bồn, cách cửa Đại (còn gọi là cửa Đợi) khoảng 4km, giao thông thủy bộ thuận lợi, Hội An nhanh chóng phát triển thành một đô thị sầm uất. Cùng với phố Hiến ở Đàng Ngoài, Hội An trở thành một trong hai hải khẩu quan trọng của nước ta thời ấy giao thương rộng rãi với thế giới. Cứ xem mức thuế xuất nhập khẩu thời bấy giờ để ước lượng quy mô: “Lệ cứ những tàu ở Thượng Hải và Quảng Đông lại, thì phải nộp 3.000 quan, đến lúc đi phải nộp 300 quan. Tàu ở Ma Cao, ở Nhật Bản lại, thì phải nộp 4.000 quan, đến lúc đi phải nộp 400 quan. Tàu ở Tiêm La, ở Lã Tống lại, thì phải nộp 2.000 quan, đến lúc đi phải nộp 200 quan. Tàu ở các nước phương Tây lại, thì phải nộp 8.000 quan, đến lúc về phải nộp 800 quan. Thuế ấy chia ra làm mười thành: 6 thành thì đem vào kho, 4 thành để nộp cho quan lại và binh lính đã coi về việc thu thuế…”. “… Bấy giờ số tiền có năm thu vào 338.100 quan… có năm được hơn 423.300 quan…, vàng có năm thu 830 lượng, có năm 890 lượng…”. Trước khi trở thành một địa chỉ văn hóa, Hội An từng là một thương hiệu kinh tế Việt Nam có uy tín trên bản đồ thế giới. <br /><br />Thương nhân các nước đến làm ăn, mến cảnh, mến người, định cư, lập nghiệp, Hội An nhanh chóng trở thành một đô thị quốc tế. Bên cạnh quần thể kiến trúc đô thị giàu bản sắc địa phương, những công trình xây dựng, những công trình tôn giáo của cư dân các nước còn giữ được đến nay minh chứng cho một thời Việt Nam từng có lúc hội nhập rất sâu vào đời sống quốc tế. Chẳng thế mà, UNESCO, tổ chức uy tín đầy mình của Liên Hiệp Quốc đã ghi danh cả Mỹ Sơn và Hội An vào Danh mục Di sản Văn hóa nhân loại. <br /><br />Tin cho biết tỉnh Quảng Nam đang xúc tiến hồ sơ đệ trình UNESCO xem xét ghi danh Cù lao Chàm - một bình phong tự nhiên dựng lên ngoài biển khơi che chắn cho cửa Đại - vào danh mục Di sản văn hóa nhân lọai. Còn cửa Đại, cát sạch, nước trong, đất đai bằng phẳng rộng rãi, từng là một trong những cửa biển nổi tiếng của nước ta đang như một cô gái trinh nguyên đón đợi đầu tư. <br /><br /><div align='center'>[attachment=4352:attachment]</div><br /><br />Tương lai, hy vọng rằng không xa, một thành phố du lịch hấp dẫn sẽ mọc lên trên địa điểm này. Lúc ấy, sông Thu Bồn sẽ là dòng sông duy nhất trên đất nước ta như một chuỗi ngọc xâu chuỗi cùng lúc bốn giá trị tầm cỡ quốc tế trên dòng chảy đượm hương từ những rừng quế thượng nguồn. Mong lắm thay.<br /><div align='right'><i>Sưu tầm</i></div>